Các nghiên cứu liên quan đến công bố thông tin

Các nghiên cứu liên quan đến công bố thông tin

Toàn cầu hoá và sự hiểu biết của các nhà đầu tư tiềm năng về TTTC được công bố đã dẫn đến nhu cầu sử dụng và yêu cầu về chất lượng của loại thông tin này tăng lên. Công bố thông tin là một trong những công cụ mà các nhà quản lý sử dụng để truyền đạt thông tin đến các nhà đầu tư. Trong đó, yêu cầu công bố thông tin bắt buộc là trách nhiệm của các tổ chức quản lý như IASB, FASB, BTC hay UBCKNN được thể hiện thông qua việc xây dựng hệ thống chuẩn mực, khuôn khổ, quy định của các chỉ tiêu công bố. CBTT tự nguyện là trách nhiệm của các nhà quản lý doanh nghiệp khi cung cấp các thông tin bổ sung theo nhu cầu của nhà đầu tư. Vì vậy, khi thông tin bắt buộc không đủ đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư thì các nhà quản lý cần cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện quyền quản lý của mình (Akhtaruddin, 2005) [42]

Wallace và Naser (1995) [122]; Owusu-Ansah (1998) [104] cho rằng CBTT như là một sự giao tiếp về kinh tế, cho dù đó là thông tin tài chính hay thông tin phi tài chính, thông tin định lượng hay thông tin định tính. Kết quả của CBTT là sự kết hợp giữa các thông tin tự nguyện và bắt buộc. CBTT bắt buộc là nghĩa vụ của mỗi doanh nghiệp khi công bố một lượng thông tin tối thiểu trong các báo cáo của doanh nghiệp. CBTT tự nguyện là cung cấp thông tin bổ sung khi CBTT bắt buộc không thể hiện hết những giá trị thực mà doanh nghiệp đạt được cũng như thành tích của người quản lý.

CBTT bắt buộc được điều chỉnh bởi các cơ quan quản lý ở tất cả các quốc gia trên thế giới (Healy và Palepu, 2001 [86]; Akhtaruddin, 2005) [42], mục đích là để quản lý các doanh nghiệp phải công bố những thông tin mà họ có thể muốn che dấu. Việc quy định CBTT bắt buộc là để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư (Taplin và cộng sự, 2002) [116], cũng như thu hẹp khoảng cách bất cân xứng thông tin giữa các nhà đầu tư có thông tin và những nhà đầu tư thiếu thông tin, điều này cũng đảm bảo các doanh nghiệp tuân thủ các yêu cầu pháp lý (Al-Htaybat và cộng sự, 2006) [46].

CBTT bắt buộc có thể không đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin hay kỳ vọng của nhà đầu tư do đó CBTT tự nguyện được sử dụng để gửi đến thông điệp về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Healy và cộng sự, 2001) [86]. Vì vậy, thông tin tự nguyện thực chất là thông tin bổ sung nên số lượng CBTT này nhiều hay ít7

tuỳ thuộc vào quyết định của nhà quản lý doanh nghiệp, các quy định pháp lý có liên quan, nhu cầu của các doanh nghiệp tư vấn, nhà phân tích tài chính, thị trường vốn và văn hoá quốc gia. Anna Watson và cộng sự (2002)[47] cho rằng công bố tự nguyện biểu hiện dưới nhiều hình thức như buổi họp báo, cuộc họp thảo luận với các nhà phân tích tài chính, thư gửi cho cổ đông hay là những thông tin bổ sung trong BCTN dưới dạng ví dụ minh hoạ.

CBTT bắt buộc hay tự nguyện đều đóng vai trò quan trọng như nhau (Omar và cộng sự, 2007) [103] và chúng tương tác với nhau liên tục. Khi các quy định về CBTT bắt buộc khó diễn giải gây khó hiểu cho người sử dụng thông tin thì các doanh nghiệp có thể công bố thông tin tự nguyện để bổ sung làm rõ điều này.

Hoàng Tùng (2001)[34] nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến CBTT của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam. Tác giả cho rằng, mức độ CBTT không chỉ phụ thuộc vào các quy định hiện hành của nhà nước mà còn phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến đặc điểm của doanh nghiệp như hình thức sở hữu, loại hình kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán.

Nghiên cứu của Ngô Thu Giang (2014)[5] Khi xác định mức độ CBTT trong nghiên cứu này, tác giả đã tiếp cận theo các đặc tính “tính thông tin”, “tính cập nhật”, “tính rõ ràng dễ hiểu”. Để đo lường tính đầy đủ của thông tin, tác giả sử dụng chỉ số CBTT. Tính thông tin được đo lường riêng biệt và tổng hợp cho thông tin định kỳ; thông tin bất thường và theo yêu cầu. Về tính rõ ràng, dễ hiểu được đánh giá thông qua số liệu về tỷ trọng diễn giải và minh chứng. Báo cáo có tỷ trọng lớn về số liệu minh chứng được đánh giá có tính rõ ràng và dễ hiểu hơn so với báo cáo định kỳ có tỷ trọng diễn giải cao. Về tính cập nhật, tác giả đo lường dựa trên thống kê sự xuất hiện của thông tin.

Nguồn: Luận án Kế toánCông bố thông tin tài chính trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5/5 - (100 Bình chọn)

Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn

Luận Văn A-Z  nhận làm trọn gói dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Liên hệ ngay dịch vụ viết thuê luận văn của chúng tôi!

UY TÍN - CHUYÊN NGHIỆP - BẢO MẬT

Nhận báo giá Xem thêm

Leave a Reply

Your email address will not be published.

Bạn cần hỗ trợ?