092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Khái niệm về y tế

Khái niệm về y tế

Mỗi người dân dù sống trong xã hội nào, tầng lớp nào, chế độ chính trị nào đều có những quyền cơ bản. Một trong các quyền cơ bản đó là quyền bảo vệ sức khoẻ hay quyền sức khoẻ. Quyền sức khoẻ đã được khẳng định từ năm 1946 trong Hiến chương của WHO và đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị: “Quyền về sức khỏe là quyền được hưởng tình trạng sức khoẻ tốt nhất có thể được về cả thể chất và tinh thần” [30]. Y tế được xem là công cụ, giải pháp then chốt để thực hiện các nhu cầu và quyền lợi liên quan đến bảo vệ và CSSK cho người dân. Bảo vệ sức khoẻ, giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ cho con người là những mục tiêu quan trọng của y tế, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Y tế được định nghĩa là một ngành y học ứng dụng, chuyên phòng bệnh, chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ. Nói cách khác, y tế là việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa về bệnh tật, thương tích, suy yếu về thể chất và tinh thần của con người; giúp cải thiện và nâng cao sức khoẻ của con người về cả thể chất lẫn tinh thần. Y tế bao gồm CSSKBĐ, chăm sóc thứ cấp và YTCC.

Chăm sóc sức khoẻ ban đầu được xem là chìa khóa để thực hiện mục tiêu CSSK toàn dân và là một phần của sự phát triển công bằng xã hội. Do đó, CSSKBĐ là một phần không thể thiếu trong hệ thống y tế của mỗi quốc gia, giữ chức năng trung tâm của hệ thống y tế và là một phần của sự phát triển tổng thể về KTXH của cộng đồng [2]. CSSKBĐ là sự CSSK thiết yếu, dựa trên các phương pháp và kỹ thuật có tính thực tiễn, có cơ sở khoa học và được xã hội chấp nhận, phổ cập đến mọi cá nhân và gia đình trong cộng đồng với một phí tổn mà cộng đồng và quốc gia có thể chi trả được ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, trên tinh thần tự lực và tự quyết. CSSKBĐ là nơi tiếp xúc đầu tiên của các cá nhân, gia đình và cộng đồng với hệ thống y tế của mỗi quốc gia, mang việc CSSK đến càng gần với người dân và tạo thành yếu tố đầu tiên của quá trình CSSK lâu dài [81].

Y tế công cộng là tổng hòa các hoạt động phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ và tăng cường sức khỏe thông qua những cố gắng có tổ chức của xã hội, các tổ chức công và tư, cộng đồng và cá nhân với sự chỉ đạo chung của Chính phủ. YTCC mang tính chuyên môn đa ngành với các chuyên ngành chính như dịch tễ học, thống kê sinh y học, khoa học môi trường học, hành vi sức khỏe, dinh dưỡng, quản lý y tế,…[70]. Vì vậy, YTCC bao hàm ý nghĩa liên ngành chứ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực y tế. Do sự phối hợp của liên ngành mà nhiều bệnh tật có thể phòng tránh được một cách rất đơn giản, thậm chí bằng phương pháp không liên quan tới y học. Trọng tâm của YTCC là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Do đó, đôi khi YTCC vẫn bị nhầm lẫn với YTDP. YTDP là can thiệp phòng bệnh ở mức độ cá nhân hay một nhóm cộng đồng nhất định trong khi YTCC là can thiệp phòng bệnh ở cấp quần thể, nhóm dân cư hoặc tổng thể dân cư.

Như vậy, CSSKBĐ và YTCC đều lấy phòng bệnh làm cốt lõi, tuy nhiên, mức độ và phạm vi tiếp cận khác nhau. Đầu tư cho CSSKBĐ, YTCC và YTDP được công nhận là một cách đầu tư nhằm cải thiện sức khỏe cộng đồng hiệu quả với chi phí thấp và đó là con đường tối ưu để thực hiện bao phủ CSSK toàn dân [3].

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho y tế ở Việt Nam

Khung lý thuyết tài chính hành vi

Tài chính hành vi là hướng nghiên cứu thuộc lĩnh vực tài chính nhằm khắc phục những vấn đề khó khăn của tài chính truyền thống đang đối mặt trong giải thích, (Barberis and Thaler, 2003). Một số lý thuyết được xem là nền tảng của quan điểm tài chính hành vi là: Lý thuyết những sai lệch trong nhận thức (Cognitive biases theory) của Tversky và Kahneman (1973) và Lý thuyết triển vọng (Prospect theory) cũng của hai tác giả trên (1979).

Nhiệm vụ chính của TC hành vi là giải thích những hành vi bất thường của các NĐT tham dự thị trường. Hành vi bất thường là những phản ứng của NĐT đối với các thông tin được cập nhật lên thị trường nhưng không theo những gì mà tài chính truyền thống đã lý giải. Cụ thể, tài chính hành vi giải thích tại sao NĐT tham dự thị trường lại mắc các lỗi hệ thống bất hợp lý, trái ngược với giả định NĐT tham dự thị trường là hợp lý (Lin, 2010).

Tài chính hành vi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tâm lý đến hành vi của những người tham dự thị trường và hành vi của họ đến thị trường, (Sewell, 2007). Như vậy, đối tượng nghiên cứu của tài chính hành vi là tâm lý, hành vi của các NĐT.

Tiếp cận với những hướng nghiên cứu mới về tâm lý NĐT, Masomi và Ghayekhloo (2010) lại định nghĩa TC hành vi là một lĩnh vực khoa học tập trung nhiều vào việc giải thích cách mà cảm tính và những sai lệch trong nhận thức của NĐT ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Để có thể thực hiện được vai trò của mình, tài chính hành vi cần kết hợp kiến thức trong tâm lý học con người với các lý thuyết mô hình trong tài chính. Tâm lý học nghiên cứu về sự hình thành, vận hành và phát triển của các hoạt động tâm lý. Hoạt động tâm lý là hiện tượng tâm lý, nó chính là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, (Dương Thị Kim Oanh, 2009).

Barberis và Thaler (2003) cho rằng, có hai nguyên nhân của hiện tượng chênh lệch giá chứng khoán, mà các lý thuyết tài chính truyền thống không thể giải thích được: giới hạn kinh doanh chênh lệch giá và tâm lý

Giới hạn kinh doanh chênh lệch giá: “Thật là khó cho những NĐT hợp lý để xoá bỏ sự chênh lệch về giá CK bởi có ít NĐT hợp lý”, (Barberis and Thaler, 2003, page 1053). Đồng thời do một số khoản chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch và một số loại rủi ro như rủi ro cơ bản và rủi ro bởi các NĐT không hợp lý gây ra đã khiến cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá bị giới hạn làm giá CK không thể được đưa về đúng giá trị của nó nhanh chóng như cách lý giải của tài chính hành vi.

Hướng nghiên cứu về tâm lý: là hướng nghiên cứu mà người ta đi tìm kiếm sự tồn tại của các NĐT không hợp lý trên thị trường. Hay nói một cách cụ thể hơn, nghiên cứu về tâm lý NĐT là nghiên cứu nhằm phát hiện những biểu hiện trong nhận thức của NĐT đối với những vấn đề, hiện tượng của thị trường, nắm bắt những nhận thức, cảm tính của NĐT và ảnh hưởng của chúng đến quyết định đầu tư của họ. Tham khảo phụ lục 2 – Khái quát khung lý thuyết về tài chính hành vi.

Nguồn: Luận án tài chính “Nghiên cứu về cảm tính nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis –EMH)

Thị trường vốn hiệu quả là thị trường mà ở đó giá chứng khoán phản ảnh một cách đầy đủ và tức thời tất cả các thông tin có liên quan đến nó (Fama, 1970). Điều đó có nghĩa rằng, trong thị trường khi hàng hoá tài sản vốn được giao dịch thì giá cả là tín hiệu chính xác về việc phân bổ vốn, (Copeland et al., 2005). Theo Fama (1970) có 3 mức độ hiệu quả thị trường: dạng yếu, dạng bán mạnh và dạng mạnh.

Thị trường hiệu quả dạng yếu: khi đó giá thị trường chứng khoán đã phản ảnh trong nó những thông tin đã được công bố trong quá khứ có liên quan đến chứng khoán. Điều đó nó gián tiếp nói lên rằng, nếu NĐT quan tâm đến các thông tin trong quá khứ của chứng khoán để ra quyết định đầu tư thì họ sẽ không kiếm được lợi nhuận.

Thị trường hiệu quả dạng bán mạnh: khi đó giá thị trường của chứng khoán đã phản ảnh hết các thông tin liên quan đã được công bố trong quá khứ và vừa mới được công bố. Giá chứng khoán lập tức được điều chỉnh cho thích hợp với các thông tin liên quan đến CK ngay khi vừa được công bố. Vì thế, cả việc quan tâm đến thông tin mới cũng không mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư.

Thị trường hiệu quả dạng mạnh: giá chứng khoán ngoài phản ảnh giá trị của thông tin được công bố trong quá khứ, hiện tại và cả thông tin nội bộ trong công ty. Bởi theo Fama, những người bên trong công ty nắm được các thông tin nội bộ đã thực hiện các giao dịch và vì thế giá CK đã được điều chỉnh về đúng giá trị hợp lý của nó.18

Do đó, NĐT tham dự thị trường sẽ không tìm kiếm được lợi nhuận đối với CK.

Lý thuyết thị trường hiệu quả đã giải thích được hiện tượng, khi TTCK hoạt động ổn định trong thời gian dài NĐT khó kiếm được lợi nhuận vượt trội. Tuy nhiên, trên thị trường vẫn có những NĐT kiếm được lợi nhuận cao hơn so với các NĐT khác và cao hơn trung bình của thị trường, Fama gọi họ là những NĐT khôn ngoan. Fama giải thích rằng, để kiếm được lợi nhuận vượt trội, họ đã tận dụng các thông tin trong quá khứ, nhạy bén với các thông tin mới của công ty và tích cực hơn trong việc tìm kiếm các thông tin trong tương lai của công ty, hay có thể họ đã dự báo được những diễn biến bất thường trong tương lai của thị trường hoặc của công ty và vì thế họ có phản ứng trước so với thị trường và thu được lợi nhuận vượt trội.

Chính vì thế, những NĐT khôn ngoan hay còn được gọi là NĐT chủ động. Nhưng khi họ thực hiện hoạt động mua, bán CK dựa vào những thông tin đó, lập tức tạo thành xu hướng và các NĐT khác cũng bắt được tín hiệu mới này, từ đó thị trường sẽ xuất hiện cơ chế tự điều chỉnh để đưa thị trường trở về trạng thái hiệu quả. Điều đó đồng nghĩa, các NĐT chủ động cũng chỉ có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội trong khoảng thời gian rất ngắn.

Fama (1976), Rubinstein (1975) và Latham (1985) đã mở rộng khái niệm về thị trường hiệu quả: đối với một thông tin, một nhà đầu tư có thể mua chứng khoán nhưng cũng có thể có những người khác bán chứng khoán vì thế làm giá chứng khoán không đổi. Nếu thông tin không làm thay đổi giá chứng khoán thì thị trường được gọi là thị trường hiệu quả với thông tin. Thị trường được xem là hiệu quả dạng mạnh đối với một sự kiện thông tin nếu thông tin đó không chỉ không làm thay đổi giá chứng khoán mà còn không gây ra sự thay đổi về danh mục đầu tư (Copeland et al., 2005).

Nguồn: Luận án tài chính “Nghiên cứu về cảm tính nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Kinh tế học về chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics – TCE)

Kinh tế học về chi phí giao dịch (transaction cost economics – TCE) được phát triển đầu tiên bởi Williamson (1975, 1984, 1991) và được xem như một trong những phương pháp hữu hiệu trong việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa bên mua và nhà cung cấp. Lý thuyết này có nội dung cốt lõi nhằm giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp quyết định tự sản xuất ra các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp của mình hoặc tiến hành thu mua các yếu tố đầu vào từ thị trường (Anderson, 1982; Walker và Weber, 1984). Các tác giả của lý thuyết TCE cho rằng phân tích chi phí giao dịch (transaction cost analysis – TCA) sẽ là một công cụ hữu hiệu nhằm giúp doanh nghiệp giải đáp vấn đề trên.

Phân tích TCA được xây dựng dựa trên hai giả định (Li, 2001; Krause, 1999). Giả định thứ nhất là các nhà quản trị sẽ có xu hướng hành xử mang tính cơ hội như làm sai lệch hay bóp méo thông tin, che dấu một số điều khoản trong hợp đồng hay tránh né thực hiện các hành vi cần thiết,…Giả định thứ hai là các nhà quản trị sẽ có xu hướng hành xử một cách duy lý dựa trên các thông tin sẵn có cũng như nhận thức của họ. Vấn đề đặt ra là có sự khác biệt về tính sẵn có của thông tin giữa người mua và người bán và đây sẽ là nguồn cơn dẫn đến sự cơ hội hay các hành vi duy lý bị hạn chế cũng như sự thiếu chắc chắn (Li, 2001).

Xuất phát từ các giả định này, các nhà nghiên cứu cho rằng trong quan hệ mua bán giữa các bên sẽ tồn tại một loại chi phí được gọi là chi phí giao dịch (Li, 2001; Krause, 1999). Một số loại chi phí giao dịch như chi phí vận hành quan hệ, chi phí thương lượng, thực thi, phối hợp, giám sát, điều chỉnh, thúc đẩy hay chấm dứt các thỏa thuận hợp tác (Frazier và cộng sự (1988), dẫn lại từ Krause, 1995). Ý tưởng chủ đạo của lý thuyết Kinh tế học về chi phí giao dịch (TCE) là tối ưu hóa các chi phí giao dịch này (Williamson, 1981) và lý thuyết này cũng chỉ ra rằng chi phí giao dịch bị chi phối bởi một số yếu tố như tần suất các giao dịch xảy ra, mức độ không chắc chắn của giao dịch và các tài sản cụ thể của cuộc giao dịch.

Căn cứ trên việc tính toán các chi phí giao dịch này, các nhà quản lý công ty sẽ đưa ra các quyết định liên quan đến việc thực hiện hành vi thu mua từ thị trường các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp hay tự mình sản xuất các yếu tố đầu vào này thông qua hoạt động tích hợp dọc. Dù vậy, như đã phân tích trong Chương 1, sự tích hợp theo chiều dọc sẽ làm triệt tiêu tính linh hoạt của doanh nghiệp do qui mô phình to và sự hạn chế về mặt nguồn lực. Điều đó dẫn đến một chiến lược mà Blois (1972) gọi là tích hợp giả (Quasi – Integration) theo đó nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch trong khi vẫn giữ lại tính cơ động cho doanh nghiệp mua, các nhà nghiên cứu đã đề xuất các cách thức như trao đổi mang tính ràng buộc (Noordeweir và cộng sự, 1990), xây dựng các quan hệ hợp đồng lâu dài với nhà cung cấp (Walker và Poppo, 1991) cũng như các biện pháp khác nhằm thúc đẩy mối quan hệ chặt chẽ giữa bên thu mua và nhà cung cấp (Speckman, 1988a). Các biện pháp này thực ra là nhằm hướng đến giảm thiểu tính không chắc chắn của giao dịch, gia tăng tần suất giao dịch và từ đó hạn chế các hành vi cơ hội trong quá trình hợp tác.

Như đã đề cập, phát triển nhà cung cấp là việc các doanh nghiệp mua sẽ đầu tư công sức, thời gian hay tài chính vào nhà cung cấp với mong muốn tạo lập một quan hệ khắng khít giữa hai bên. Việc đầu tư của doanh nghiệp mua vào nhà cung cấp sẽ tạo ra sự giao tiếp thường xuyên giữa các bên và bảo đảm sự thường xuyên cũng như chắc chắn cho các giao dịch giữa hai bên. Điều này, theo lý thuyết Kinh tế học về chi phí giao dịch (TCE), sẽ giúp giảm thiểu các chi phí giao dịch giữa các bên và thúc đẩy các bên tiến tới hình thành các liên minh hợp tác (Li, 2001). Minh chứng rõ nhất cho luận điểm trên là nghiên cứu của Dyer (1996) khi tiến hành nghiên cứu về các doanh nghiệp Nhật Bản và phát hiện các doanh nghiệp Nhật Bản đã thu được những hiệu quả vượt trội khi tiến hành đầu tư vào các nhà cung cấp (Li, 2001). Đi sâu tìm hiểu về kết quả này, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy quan hệ vô cùng khắng khít giữa bên doanh nghiệp mua và nhà cung cấp thông qua cái gọi là “keiretsu” (một dạng tập đoàn theo mô hình Nhật Bản) (Asanuma, 1989; Nishiguchi, 1994). Và từ đó, Asanuma (1989) và Nishiguchi (1994) phát hiện các doanh nghiệp Nhật Bản đã cùng lúc đạt được hai mục tiêu là giảm chi phí giao dịch và gia tăng được các tài sản vô hình thông qua đầu tư vào nhà cung cấp và hai tác giả này gọi đó là một trong số các nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Phát hiện này của Asanuma (1989) và Nishiguchi (1994) là nguồn cổ vũ cho các hoạt động phát triển nhà cung cấp của doanh nghiệp mua.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Mối quan hệ giữa các hoạt động phát triển nhà cung cấp và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mua: Trường hợp các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh

Lý thuyết nguồn lực (Resource – Based View – RBV)

Lý thuyết nguồn lực (RBV) được Penrose khởi xướng vào năm 1959 khi bà cho rằng các nguồn lực bên trong doanh nghiệp chính là một trong những nguồn gốc tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp (Penrose, 1959).

Quan điểm này được tiếp nối bởi Wernerfelt (1984) và sau đó là Dierickx và Cool (1989), Barney (1991) và Wemerfelt (1995). Cốt lõi chính của RBV là đi tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số các doanh nghiệp lại có thể thu được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng ngành trên cơ sở phân tích các nguồn lực bên trong của doanh nghiệp (Wemerfelt, 1984; Barney, 1986a). Nguồn lực của doanh nghiệp được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Theo đó, nguồn lực của doanh nghiệp được chia thành ba loại chính sau: các nguồn lực vốn hữu hình (physical capital resources), nguồn lực vốn con người (human capital resources) và nguồn lực vốn tổ chức (organizational capital resources) (Barney, 1991). Trong đó, nguồn lực vốn hữu hình bao gồm nhà máy, xí nghiệp, vị trí và nguyên vật liệu; Nguồn lực vốn con người như tri thức, trực giác, khả năng phán đoán, kinh nghiệm và khả năng học hỏi của người lao động và nguồn lực vốn tổ chức bao gồm cấu trúc bộ máy tổ chức, hệ thống phối hợp trong tổ chức, các quan hệ phi chính thức bên trong doanh nghiệp và với bên ngoài doanh nghiệp (Barney, 1991).

Một cách tiếp cận khác, Grant (1991) đã chia nguồn lực doanh nghiệp thành 2 loại chính: nguồn lực hữu hình (tangible resource) và nguồn lực vô hình (intangible resource). Theo đó, nguồn lực hữu hình bao gồm các nguồn lực về tài chính như vốn tự có, khả năng huy động vốn; Nguồn lực vật chất hữu hình như qui mô sản xuất, vị trí nhà máy, sự tinh vi về sản xuất, nguyên liệu đầu vào hay tính linh hoạt, uyển chuyển của hệ thống nhà máy. Nguồn lực vô hình của doanh nghiệp như bí quyết công nghệ hay danh tiếng của doanh nghiệp. Theo đó, bí quyết công nghệ như sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế; Danh tiếng bao gồm các yếu tố như nhãn hiệu nổi tiếng, độ tin cậy, quan hệ tốt với nhà cung cấp, khách hàng, chính quyền; Nguồn lực về nhân sự như kiến thức, kỹ năng, lòng trung thành và khả năng thích hợp của nhân viên với doanh nghiệp. Như vậy có thể thấy cả Barney (1991) và Grant (1991) đều cho rằng quan hệ với nhà cung cấp chính là nguồn lực vô hình của doanh nghiệp.

Với giả định rằng các doanh nghiệp cùng ngành sẽ vận dụng các chiến lược kinh doanh khác nhau và không thể sao chép được do mỗi doanh nghiệp sẽ sở hữu các nguồn lực khác nhau, các tác giả của lý thuyết RBV đã thống nhất rằng nguồn lực của doanh nghiệp chính là nhân tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Wernerfelt (1984) còn cho rằng nếu doanh nghiệp tận dụng tốt một vài nguồn lực đặc biệt nào đó của doanh nghiệp thì có thể tạo ra được các rào cản về nguồn lực (resources position barriers) vốn dĩ sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được hiệu quả hoạt động của mình. Tuy nhiên không phải nguồn lực nào cũng có thể giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Chỉ có những nguồn lực nào hội đủ được 4 yếu tố: có giá trị, hiếm, không thể bắt chước được và không thể thay thế được (Dierickx và Cool, 1989; Barney, 1991) thì mới có khả năng tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Nghiên cứu về RBV cho thấy lý thuyết này giúp giải thích một câu hỏi rất quan trọng chính là tại sao doanh nghiệp mua lại tham gia vào hoạt động phát triển nhà cung cấp. Lý thuyết chuỗi cung ứng cho thấy, trong một chuỗi cung ứng, hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thành viên của chuỗi cung ứng đó và hiện nay cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đơn lẻ với nhau đã nhường chỗ cho cạnh tranh giữa các chuỗi cung ứng với nhau (Kannan và cộng sự, 2010).

Sự thật là nếu doanh nghiệp có một nhà cung cấp không thể cung cấp các yếu tố đầu vào đạt chuẩn chất lượng, giá cả hợp lý và giao hàng đúng hạn thì doanh nghiệp đó cũng không thể nào đáp ứng được mong đợi của khách hàng cuối cùng về chất lượng, giá cả hay khả năng giao hàng. Và trong trường hợp một thành viên nào đó trong chuỗi sở hữu một hay nhiều các nguồn lực đặc biệt có khả năng giúp gia tăng hiệu quả hoạt động hoặc lợi thế cạnh tranh và nếu nguồn lực này được chuyển giao cho các thành viên trong chuỗi thì hiệu quả hoạt động của cả chuỗi cung ứng sẽ nhanh chóng được cải thiện (Pamela, 2000).

Như vậy, có thể thấy rằng, doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có sở hữu một hoặc một số các nguồn lực đặc biệt trong một số lĩnh vực như sản xuất, chất lượng hay phát triển sản phẩm mới sẽ thu được nhiều lợi ích nếu có thể chuyển giao hay chia sẻ thành công các nguồn lực này với các nhà cung cấp của mình thông qua các hoạt động phát triển nhà cung cấp.

Ở một khía cạnh khác, việc các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động phát triển nhà cung cấp sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mua và nhà cung cấp có cơ hội tiếp cận lẫn nhau nhiều hơn, hiểu nhau nhiều hơn khi mà tần suất tương tác lẫn nhau tăng lên thông qua hoạt động phát triển nhà cung cấp. Và đây chính là nền tảng xây dựng nên quan hệ đối tác về thu mua giữa doanh nghiệp mua và nhà cung cấp (Ellram, 1990). Theo lý thuyết RBV, quan hệ này cũng là một dạng nguồn lực và với nguồn lực này doanh nghiệp mua có thể tận dụng hiệu quả các năng lực lõi của nhà cung cấp trong việc xây dựng nên lợi thế cạnh tranh.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Mối quan hệ giữa các hoạt động phát triển nhà cung cấp và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mua: Trường hợp các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh

Khái niệm và đặc trưng của nền kinh tế xanh

Thuật ngữ nền kinh tế xanh được đặt ra đầu tiên bởi nhà kinh tế môi trường David Pearce vào năm 1989, trong một nghiên cứu cho Chính phủ Anh về “Kế hoạch chi tiết cho nền kinh tế xanh” nhằm kiểm tra ý nghĩa của phát triển bền vững để đo lường tiến trình phát triển kinh tế. Kể từ năm 2008, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế – tài chính thế giới thì thuật ngữ nền KTX được đưa vào sử dụng rộng rãi hơn.

Một nền KTX có thể được coi là một nền kinh tế có lượng phát thải các-bon thấp, sử dụng tài nguyên hiệu quả và bao trùm toàn xã hội (UNEP, 2011). Nền kinh tế xanh nhằm mục đích cải thiện phúc lợi của con người và bình đẳng xã hội, trong khi giảm đáng kể rủi ro môi trường và sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên (UNEP, 2011).

Xét về mặt học thuật, “Nền kinh tế xanh” là “kinh tế môi trường” nhưng được nâng cấp lên, trong đó “nghiên cứu mối quan hệ tương tác, phụ thuộc và quy định lẫn nhau giữa kinh tế và môi trường nhằm bảo đảm một sự phát triển ổn định, hiệu quả, liên tục và bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường và lấy con người làm trung tâm”.

“Nền kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái” (Armand Kaszterlan, 2017).

“Nền kinh tế xanh là nền kinh tế tạo ra chất lượng cuộc sống tốt hơn cho tất cả mọi người trong giới hạn sinh thái của trái đất” (United Nations, 2012).

Tổ chức Sáng kiến nền KTX của Liên hợp quốc cho rằng “Tăng trưởng xanh hay xây dựng nền KTX là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để đạt được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng cho xã hội” (Liên Hợp quốc, 2007).

Như vậy, nền kinh tế xanh được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và về cơ bản nền kinh tế xanh là nền kinh tế giảm thiểu khí nhà kính, bảo vệ môi trường, kích thích sử dụng hiệu quả tài nguyên trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại hướng tới nâng cao đời sống cho con người. Trong nền KTX, tài nguyên – môi trường được xem là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, cải thiện chuỗi giá trị, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Khái niệm tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái hay còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ hoặc tỷ giá. Đây là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền hai nước. Hiểu một cách đơn giản thì đây là việc chuyển đổi giá của đồng tiền này sang đồng tiền của quốc gia khác. Hoặc cụ thể hơn chính là số lượng tiền tệ cần thiết để mua 1 đơn vị tiền của nước khác.

Theo lý thuyết, tỷ giá hối đoái phản ánh mức giá tương đối giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010) quy định, tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ Việt Nam.

Cách diễn đạt về tỷ giá có khác nhau, tuy nhiên dựa trên các quan điểm chung được thừa nhận rộng rãi ngày nay, có thể định nghĩa tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị qua đồng tiền khác.

Tiền tệ của bất cứ nước nào cũng phải hàm chứa “sức mua” của tiền tệ, song sức mua tiền tệ của các quốc gia là khác nhau. Do vậy, có thể coi “sức mua” của tiền tệ là một biểu hiện “tính chung” của tiền tệ trong thời đại tiền tệ không được tự do đổi ra vàng thông qua hàm lượng vàng.

So sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng cách so sánh “sức mua” của hai tiền tệ, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ (Purchasing Power Parity- PPP).

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), vai trò và ứng dụng trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam

Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

Việc nghiên cứu đưa ra được những phương pháp đo lường trách nhiệm xã hội là một vấn đề đặt ra cho các học giả trên toàn cầu trong nhiều năm qua. Đầu tiên phải kể tới Carroll (2000) – người đã khẳng định khả năng đo lường CSP là có thể song việc phát triển những phương pháp đo lường có giá trị và mang lại độ tin cậy cao là điều không dễ dàng. Bên cạnh đó cũng có nhiều những học giả khác đồng tình với quan điểm này, như Wolfe và Aupperle (1991) cho rằng không có đơn thuần chỉ một cách nào đó tốt nhất để có thể đo lường các hoạt động CSR.

Maignan và Ferrell (2000) đã phân loại các phương pháp đo lường trách nhiệm xã hội thành ba loại chính: (1) Đánh giá chủ quan của chuyên gia, (2) Bộ chỉ số, và (3) Khảo sát về quản trị (Maignan và Ferrell, 2000). Phương pháp đầu tiên đánh giá được hiệu quả xã hội của doanh nghiệp dựa trên thông tin do các chuyên gia trong ngành cung cấp.

Ở loại thứ hai là bộ chỉ số, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng các chỉ số khách quan hơn để có thể giảm bớt tính chủ quan vốn có trong phương pháp đo lường dựa trên đánh giá của chuyên gia. Với phương pháp này, chúng ta cũng có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu không thể bao quát được hết tất cả mọi khía cạnh về CSR, ngoài ra còn có các phương pháp chưa được chuẩn hóa trên toàn cầu bởi vậy nó làm giới hạn phạm vi các nhà nghiên cứu khác có thể áp dụng ngay cả khi áp dụng các chỉ số đa vấn đề (Turker, 2009).

Xét về loại thứ ba theo cách phân loại của Maignan và Ferrell (2000), một số học giả sử dụng dữ liệu khảo sát các doanh nghiệp về CSR. Aupperle và các tác giả (1985) đã khảo sát ý kiến của những người tham gia thể hiện mức độ đồng ý hay không đồng ý với 20 tuyên bố về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Từ kết quả thu được, câu trả lời từ phía các doanh nghiệp có thể xem như sự cam kết trách nhiệm của các doanh nghiệp. Song cho tới nay, hầu hết các cuộc khảo sát về CSR đều tập trung nhiều vào hành động CSR để đạt được mục đích cụ thể (Martínez và Del Bosque, 2013). Do vậy, việc đo lường CSR qua việc sử dụng mỗi phương pháp này vẫn gặp hạn chế về tính thực tế áp dụng cho các doanh nghiệp.

Turker (2009) đã mở rộng phân loại cách đo lường CSR với nhiều phương pháp tiếp cận được xem là khả thi hơn cho việc đánh giá CSR: (1) Danh tiếng và Bộ chỉ số, (2) Phân tích nội dung các ấn phẩm của doanh nghiệp, (3) Đo lường CSR ở cấp độ cá nhân, (4) Đo lường CSR ở cấp độ tổ chức.

Danh tiếng và bộ chỉ số: Đây được coi là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá hoạt động CSR của doanh nghiệp. Danh tiếng của một doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn tới doanh số sản phẩm, có được danh tiếng tốt thì doanh nghiệp mới có thể tạo dựng được niềm tin đối với khách hàng hiện tại và thu hút khách hàng tiềm năng. Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận này để từ đó đưa ra được những mô hình đo lường hoạt động CSR, trong đó phải kể đến dữ liệu KLD (Kinder, Lydenberg và Domini) và bộ dữ liệu đầu tư xã hội Canada (Canadian Social Investment Database- CSID). KLD được đưa ra vào năm 1989 bởi Peter Kinder, Steve Lydenberg và Amy Domini, áp dụng cho các công ty đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán của Mỹ và dựa trên cơ sở là 8 thuộc tính của các hoạt động xã hội như Quan hệ công chúng, Quan hệ nhân viên, Môi trường, Sản phẩm, Đối xử với phụ nữ và người dân tộc thiểu số. Với các thuộc tính phục vụ cho việc đo lường CSR, KLD đã tạo nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu sau về thang đo cho CSR. Ngoài KLD, CSID cũng là một bộ dữ liệu được áp dụng rộng rãi bởi nó có thể đo lường được tổng của trung bình độ mạnh, yếu của doanh nghiệp với 7 khía cạnh: Cộng đồng, Tính đa dạng, Mối quan hệ nhân viên, Môi trường, Hợp tác quốc tế, Sản phẩm và thực tiễn kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp (Mahoney và Thorne, 2005). Tương tự như bộ dữ liệu KLD chỉ dành cho doanh nghiệp Hoa Kỳ, CSID cũng chỉ giới hạn việc áp dụng trong phạm vi lãnh thổ nhất định mà cụ thể ở đây là những công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Canada. Có thể thấy, từ hai bộ dữ liệu điển hình trong phương pháp đo lường CSR dựa vào chỉ số và danh tiếng đều đưa ra được những kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng tới CSR của doanh nghiệp, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động CSR. Tuy nhiên, để xây dựng một mô hình đo lường trách nhiệm xã hội đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần có những khảo sát thực tế từ các bên liên đới về lợi ích, vừa kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng (Turker, 2009; Maignan và Ferrell, 2000).

Phân tích nội dung: Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm tới hoạt động CSR và các báo cáo công khai thông tin về thực hiện hoạt động liên quan tới môi trường, cộng đồng, nhân viên hay người tiêu dùng. Chính vì vậy, việc sử dụng phương pháp này trong các nghiên cứu về hoạt động CSR của một doanh nghiệp dường như là không thể thiếu được đối với các công ty có công bố thông tin CSR. Với phương pháp này, hoạt động của công ty được đánh giá khách quan hơn bởi những đóng góp xã hội được thể hiện trên báo cáo và quá trình đánh giá được tiêu chuẩn hóa (Ruf và các tác giả, 1998). Song chất lượng thông tin về hoạt động CSR được công bố phụ thuộc vào mức độ tự nguyện và trung thực của doanh nghiệp. Đây là một vấn đề đặt ra cho nghiên cứu dựa vào phương pháp đo lường này bởi những thông tin trong các bản công bố của doanh nghiệp khi sai lệch với thực tế sẽ làm cho người tiếp nhận thông tin lầm tưởng về công ty đó với những hình ảnh tốt đẹp (Turker, 2009). Trong phương pháp này, sự minh bạch và trách nhiệm giải trình – là yếu tố then chốt trong cơ chế quản trị, là một nền tảng quan trọng cho các mối quan hệ giữa lãnh đạo doanh nghiệp, các cổ đông với các bên liên đới về lợi ích khác của công ty – trở thành tiêu chí số một để đo lường về CSR. Do vậy, nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp này không nên đánh đồng công bố thông tin CSR với hoạt động truyền thông CSR nhằm xây dựng hình ảnh công ty.

Ngoài nguồn dữ liệu từ ẩn phẩm của doanh nghiệp thì một số nghiên cứu còn kết hợp giữa những ấn phẩm đó và những nguồn dữ liệu khác đến từ các trang web uy tín. Lattemann và các tác giả (2009) trong nghiên cứu về tần suất công bố thông tin CSR của các công ty đa quốc gia tại Trung Quốc và Ấn Độ đã sử dụng mô hình bao gồm các yếu tố cấp quốc gia, ngành và cấp công ty để dự đoán về tần suất công bố thông tin về CSR, một thước đo tượng trưng cho CSR. Các nguồn công bố thông tin về CSR bao gồm các trang web từ công ty, báo cáo hàng năm, các tài liệu công khai có sẵn trên Internet và những thông tin liên quan tới các bên liên đới (Esrock và Leichty, 2000). Các tập đoàn lớn có những hoạt động truyền thông rộng khắp về CSR nhằm tạo dựng hình ảnh tích cực, đảm bảo tính hợp pháp và nhận được sự ủng hộ từ các bên liên đới (Adams và các tác giả, 1998, Esrock và Leichty, 1998). Đo lường hoạt động CSR trên thực tế rất khó khăn hoặc không thể đo được trên cơ sở định lượng với quy mô lớn, bởi vậy việc sử dụng biện pháp trên có thể giải quyết phần nào những hạn chế này (Lattemann và các tác giả, 2009).

Đo lường CSR ở cấp độ cá nhân: Trong các nghiên cứu liên quan, hầu hết các học giả đưa ra được các thang đo về nhận thức của cá nhân người quản lý doanh nghiệp về CSR ví dụ như thang đo giá trị CSR cá nhân của người quản lý theo mô hình bốn yếu tố của Carroll (2000). Những thang đo từ phương pháp này đã đưa cho người đọc những hiểu biết sâu hơn về sự đa chiều của CSR. Lần lượt tiếp nối sau sự phát triển của công trình nghiên cứu thang đo này, các học giả tiếp tục có những thang đo khác như đo lường thái độ của nhà quản lý về CSR (Quazi và O’brien, 2000), đo lường nhận thức về vai trò của đạo đức và trách nhiệm xã hội trong việc đạt được hiệu quả tổ chức (Singhapakdi và các tác giả, 1996). Quazi và O’brien (2000) đã xây dựng một thang đo dựa trên mô hình hai chiều bao gồm phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp và kết quả thực hiện cam kết về mặt xã hội của doanh nghiệp (Turker, 2009). Thang đo này có được ưu điểm vượt trội về đo lường nhận thức của cá nhân trong nhiều bối cảnh kinh tế và những nền văn hóa khác nhau song việc có thể đo lường được mức độ nhận thức ở cấp độ tổ chức lại là một yếu điểm lớn bởi điều này là rất khó thực hiện.

Ở cấp độ tổ chức, Maignan và Ferrell (2000) và Turker (2009) đã xây dựng các thang đo đo lường hành vi của tổ chức liên quan tới khái niệm công dân doanh nghiệp và CSR. Đầu tiên, thang đo của Maignan và Ferrell (2000) được thiết kế dựa trên cơ sở phân chia trách nhiệm của Carroll (1979) và lý thuyết quản trị các bên liên quan với ba bên liên đới chủ yếu là người lao động, khách hàng và công chúng. Nghiên cứu đã phát triển nên một phương pháp đo lường bốn chiều gồm các yếu tố liên quan đến khái niệm công dân doanh nghiệp về kinh tế, pháp lý, đạo đức và sau đó đã kiểm nghiệm tại hai quốc gia khác nhau là Mỹ và Pháp. Song việc chỉ với ba bên liên đới được xét trong quá trình đo lường CSR là một trong những hạn chế chính của thang đo này. Từ đó, Turker (2009) đã phát triển một thang đo CSR để đánh giá hành vi CSR liên quan tới sự đa dạng của các bên liên đới. Qua phân tích thang đo CSR cho thấy một cấu trúc bốn chiều: (1) CSR liên quan đến nhân viên, (2) CSR liên quan đến khách hàng, (3) CSR liên quan đến chính phủ, (4) CSR liên quan đến các bên liên đới khác. Tuy vậy, thang đo của Turker (2009) được xây dựng trên khía cạnh về hành vi; mặc dù đã được thử nghiệm đối với nhân viên, nhưng lại chưa được thử nghiệm đối với giám đốc điều hành. Do vậy, về cấp độ tổ chức, phương pháp này vẫn cần được xem xét để tiếp tục được hoàn thiện.

Điểm qua một số những phương pháp đo lường CSR đã được nêu ở trên, có thể thấy rằng các phương pháp đo lường đều có những đóng góp rất lớn với khái niệm CSR cả về mặt lý thuyết và thực tiễn. CSR vẫn còn là một khái niệm gây khá nhiều tranh cãi, với những nhiều luồng ý kiến khác nhau thậm chí trái chiều, những chủ thuyết khác nhau. Và điều tất yếu là từ đó cho ra những phương pháp đo lường CSR khác nhau, mô hình đo lường ở các mảng riêng biệt về CSR cũng khác nhau. Chính vì vậy, các phương pháp không thể tránh khỏi những giới hạn như không gian, thời gian, chủ thể, môi trường, con người, văn hóa. Điều này tạo ra nhiều khoảng trống nghiên cứu về chủ đề CSR.

Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

Khái quát về lòng trung thành

Khái quát về lòng trung thành

Hiện nay không ch tại Việt Nam mà các nước trên thế giới các nghiên cứu về lòng trung thành của nhân viên luôn thể hiện được vai trò của nó trong việc hỗ trợ quản trị nhân sự trong không ch cho các doanh nghiệp mà còn trong các tổ chức công quyền phi chính phủ….

Hiện nay có nhiều khái niệm liên quan đến sự trung thành. Theo từ Niehoff Moorman và Fuller 2001 thì lòng trung thành là những biểu hiện mang tính chủ động về lòng tự hào và sự tận tâm với tổ chức. ên cạnh đó theo llen & Meyer 1991 là điều kiện tâm lý phản ánh mối quan hệ của cá nhân với tổ chức.

Theo Porter et al 1979 thì sự trung thành sự tương quan giữa mỗi cá nhân với tổ chức và nó có sự tin tưởng mạnh đối với mục tiêu giá trị của tổ chức và sẵn sàng nỗ lực có thể để phục vụ tổ chức và có mong muốn lơn lao để tiếp tục được làm việc tại tổ chức.

Theo một quan điểm khác thì lòng trung thành được xem như là một hình thức cam kết quả nhân viên với tổ chức nó yêu cầu những hành động của người nhân viên có sự quan tâm hơn đối với ông chủ hoặc công ty Elegido 2013.

Trung thành có thể là một yếu tố thành phần của cam kết tổ chức cũng có thể là một khái niệm độc lập. llen & Mayer 1990 chú trọng ba trạng thái tâm lý của nhân viên khi gắn kết với tổ chức. Nhân viên có thể trung thành với tổ chức xuất phát từ tình cảm thực sự của họ; họ sẽ ở lại với tổ chức d có nơi khác trả lương cao hơn điều kiện làm việc tốt hơn; họ có thể trung thành với tổ chức ch vì họ không có cơ hội kiếm được công việc tốt hơn; và họ có thể trung thành với tổ chức vì những chuẩn mực đạo đức mà họ theo đuổi. ook & Wall 1980 quan tâm đến các khía cạnh hành vi của nhân viên. Theo Mowday và cộng sự (1979), trung thành là ý định hoặc mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức . ịnh ngh a nổi tiếng của Mowday về lòng trung thành tương tự như khái niệm uy trì trong các nghiên cứu ở phạm vi quốc gia trong nhiều năm liền của Viện on onsulting: Nhân viên có ý định ở lại lâu dài c ng tổ chức doanh nghiệp; sẽ ở lại c ng tổ chức doanh nghiệp mặc d có nơi khác có lời đềnghị lương bổng tương đối hấp dẫn hơn Stum 1999; 2001 . Theo Johnson 2005 nhân viên trung thành với nghề nghiệp của họ hơn trung thành với nhà tuyển dụng và bản chất trong quan hệ giữa nhân viên và nhà tuyển dụng đ có những thay đổi căn bản và cần đánh giá lại khái niệm trung thành Trần Thị Kim ung & Nguy n Thị Mai Trang, 2007, tr.19-20)

Ở Việt Nam sự xuất hiện của hàng loạt nhà đầu tư nước ngoài và các ngân hàng đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao sau khi Việt Nam gia nhập WTO càng làm cho thị trường lao động nóng hơn. Nhân viên đưa ra các yêu cầu để họ có thể trung thành với công ty. Một số nhân viên coi thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm. Nhiều nhân viên khác lại mong muốn có cơ hội học h i phát triển bản thân. Một số nhà quản lý thì cho rằng họ mong muốn có những nhân viên gi i trong ba năm còn hơn có nhân viên ở lại với công ty suốt đời nhưng năng lực kém cỏi.

Như vậy có thể hiểu: Lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức được hiểu là sự tin tưởng của nhân viên đối với tổ chức, đối với người chủ của mình, đồng thời cũng thể hiện sự tin tưởng của họ đối với các mục tiêu, giá trị của tổ chức mình đang làm việc.

Khái quát về lòng trung thành