092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Thông Tin Chuyên Ngành

Khái niệm tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái hay còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ hoặc tỷ giá. Đây là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền hai nước. Hiểu một cách đơn giản thì đây là việc chuyển đổi giá của đồng tiền này sang đồng tiền của quốc gia khác. Hoặc cụ thể hơn chính là số lượng tiền tệ cần thiết để mua 1 đơn vị tiền của nước khác.

Theo lý thuyết, tỷ giá hối đoái phản ánh mức giá tương đối giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010) quy định, tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ Việt Nam.

Cách diễn đạt về tỷ giá có khác nhau, tuy nhiên dựa trên các quan điểm chung được thừa nhận rộng rãi ngày nay, có thể định nghĩa tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị qua đồng tiền khác.

Tiền tệ của bất cứ nước nào cũng phải hàm chứa “sức mua” của tiền tệ, song sức mua tiền tệ của các quốc gia là khác nhau. Do vậy, có thể coi “sức mua” của tiền tệ là một biểu hiện “tính chung” của tiền tệ trong thời đại tiền tệ không được tự do đổi ra vàng thông qua hàm lượng vàng.

So sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng cách so sánh “sức mua” của hai tiền tệ, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ (Purchasing Power Parity- PPP).

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), vai trò và ứng dụng trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam

Khái niệm, bản chất của tài chính doanh nghiệp

Qua quá trình nghiên cứu và phát triển lý thuyết về tài chính doanh nghiệp, đã có nhiều khái niệm khác nhau về TCDN được nêu ra. Theo GS. TS. Đinh Văn Sơn: “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối dưới hình thức giá trị của cải vật chất thông qua tạo lập và phân phối sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ kinh doanh và các yêu cầu chung khác của xã hội”. [38]

TS. Nguyễn Minh Kiều trong cuốn sách “Tài chính doanh nghiệp căn bản” định nghĩa: “Tài chính nói chung là hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. TCDN là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra”. [19]

Như vậy, có thể thấy có nhiều khái niệm khác nhau về TCDN. Tuy nhiên, những khái niệm này về cơ bản được thể hiện trên hai phương diện, đó là: [42, tr.9].

Về mặt nội dung, tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp và góp phần đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.

Nếu xét trên phạm vi hoạt động, các quan hệ TCDN bao gồm:

– Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước.

Quan hệ này được thể hiện là những quan hệ về cấp phát vốn và thu hồi vốn đối với các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách.

– Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác.

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác rất đa dạng, bao gồm quan hệ của doanh nghiệp với các thị trường hàng hóa, thị trường sức lao động, thị trường tài chính… Đó là các quan hệ trong thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau.

– Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp.

Đây là các quan hệ về phân phối vốn, phân phối thu nhập trong nội bộ doanh nghiệp, ví dụ như quan hệ về điều chuyển vốn giữa các bộ phận, chi nhánh của doanh nghiệp, quan hệ về thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ nhân viên của doanh nghiệp, chi trả cổ tức cho các cổ đông của doanh nghiệp.

Nếu xét theo nội dung kinh tế, các quan hệ TCDN được chia thành các nhóm như sau:

– Các quan hệ tài chính về khai thác, thu hút vốn: Thông qua quan hệ này, vốn kinh doanh của DN được tạo lập như quan hệ về vay vốn, nhận góp vốn dưới nhiều hình thức như vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu,…

– Các quan hệ tài chính về đầu tư, sử dụng vốn kinh doanh

Đây là những quan hệ trong phân bổ, sử dụng vốn của doanh nghiệp để hình thành cơ cấu vốn kinh doanh phù hợp và sử dụng chúng nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh. Những quan hệ này hầu hết xảy ra trong nội bộ doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn ra bên ngoài như mua cổ phiếu của công ty khác, góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty con…

– Các quan hệ tài chính về phân phối thu nhập và lợi nhuận

Quan hệ này bao gồm các quan hệ với nhiều đối tượng phân phối khác nhau như Nhà nước, người cho vay, cổ đông, các doanh nghiệp góp vốn liên doanh, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp… Mối quan hệ với Nhà nước được thể hiện trong việc nộp thuế, quan hệ với người cho vay trong việc thanh toán lãi tiền vay, quan hệ với các cổ đông, các doanh nghiệp góp vốn trong thanh toán cổ tức, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp thể hiện trong bù đắp chi phí của các yếu tố đầu vào, phân phối các quỹ của doanh nghiệp…

Về mặt hình thức, TCDN các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với hoạt động của các doanh nghiệp, nhằm đạt tới mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp trong khuôn khổ của pháp luật.

Hai phương diện trên có sự khác biệt vì phương diện thứ nhất về mặt nội dung cho rằng TCDN là hệ thống các quan hệ kinh tế còn phương diện thứ hai về mặt hình thức cho rằng TCDN là hệ thống các dòng tiền phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn với các hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, xét về bản chất, hai phương diện trên có sự tương đồng vì các quan hệ TCDN đều phản ánh sự dịch chuyển giá trị hay phản ánh sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.

Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Tình hình tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Có thể hiểu tình hình TCDN thể hiện tình trạng hay thực trạng tài chính doanh nghiệp tại một thời điểm, phản ánh kết quả của toàn bộ các hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành. Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động của doanh nghiệp.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Phân tích tình hình tài chính các doanh nghiệp ngành thép niêm yết ở Việt Nam

Khái niệm, bản chất của tài chính doanh nghiệp

Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

Việc nghiên cứu đưa ra được những phương pháp đo lường trách nhiệm xã hội là một vấn đề đặt ra cho các học giả trên toàn cầu trong nhiều năm qua. Đầu tiên phải kể tới Carroll (2000) – người đã khẳng định khả năng đo lường CSP là có thể song việc phát triển những phương pháp đo lường có giá trị và mang lại độ tin cậy cao là điều không dễ dàng. Bên cạnh đó cũng có nhiều những học giả khác đồng tình với quan điểm này, như Wolfe và Aupperle (1991) cho rằng không có đơn thuần chỉ một cách nào đó tốt nhất để có thể đo lường các hoạt động CSR.

Maignan và Ferrell (2000) đã phân loại các phương pháp đo lường trách nhiệm xã hội thành ba loại chính: (1) Đánh giá chủ quan của chuyên gia, (2) Bộ chỉ số, và (3) Khảo sát về quản trị (Maignan và Ferrell, 2000). Phương pháp đầu tiên đánh giá được hiệu quả xã hội của doanh nghiệp dựa trên thông tin do các chuyên gia trong ngành cung cấp.

Ở loại thứ hai là bộ chỉ số, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng các chỉ số khách quan hơn để có thể giảm bớt tính chủ quan vốn có trong phương pháp đo lường dựa trên đánh giá của chuyên gia. Với phương pháp này, chúng ta cũng có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu không thể bao quát được hết tất cả mọi khía cạnh về CSR, ngoài ra còn có các phương pháp chưa được chuẩn hóa trên toàn cầu bởi vậy nó làm giới hạn phạm vi các nhà nghiên cứu khác có thể áp dụng ngay cả khi áp dụng các chỉ số đa vấn đề (Turker, 2009).

Xét về loại thứ ba theo cách phân loại của Maignan và Ferrell (2000), một số học giả sử dụng dữ liệu khảo sát các doanh nghiệp về CSR. Aupperle và các tác giả (1985) đã khảo sát ý kiến của những người tham gia thể hiện mức độ đồng ý hay không đồng ý với 20 tuyên bố về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Từ kết quả thu được, câu trả lời từ phía các doanh nghiệp có thể xem như sự cam kết trách nhiệm của các doanh nghiệp. Song cho tới nay, hầu hết các cuộc khảo sát về CSR đều tập trung nhiều vào hành động CSR để đạt được mục đích cụ thể (Martínez và Del Bosque, 2013). Do vậy, việc đo lường CSR qua việc sử dụng mỗi phương pháp này vẫn gặp hạn chế về tính thực tế áp dụng cho các doanh nghiệp.

Turker (2009) đã mở rộng phân loại cách đo lường CSR với nhiều phương pháp tiếp cận được xem là khả thi hơn cho việc đánh giá CSR: (1) Danh tiếng và Bộ chỉ số, (2) Phân tích nội dung các ấn phẩm của doanh nghiệp, (3) Đo lường CSR ở cấp độ cá nhân, (4) Đo lường CSR ở cấp độ tổ chức.

Danh tiếng và bộ chỉ số: Đây được coi là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá hoạt động CSR của doanh nghiệp. Danh tiếng của một doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn tới doanh số sản phẩm, có được danh tiếng tốt thì doanh nghiệp mới có thể tạo dựng được niềm tin đối với khách hàng hiện tại và thu hút khách hàng tiềm năng. Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận này để từ đó đưa ra được những mô hình đo lường hoạt động CSR, trong đó phải kể đến dữ liệu KLD (Kinder, Lydenberg và Domini) và bộ dữ liệu đầu tư xã hội Canada (Canadian Social Investment Database- CSID). KLD được đưa ra vào năm 1989 bởi Peter Kinder, Steve Lydenberg và Amy Domini, áp dụng cho các công ty đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán của Mỹ và dựa trên cơ sở là 8 thuộc tính của các hoạt động xã hội như Quan hệ công chúng, Quan hệ nhân viên, Môi trường, Sản phẩm, Đối xử với phụ nữ và người dân tộc thiểu số. Với các thuộc tính phục vụ cho việc đo lường CSR, KLD đã tạo nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu sau về thang đo cho CSR. Ngoài KLD, CSID cũng là một bộ dữ liệu được áp dụng rộng rãi bởi nó có thể đo lường được tổng của trung bình độ mạnh, yếu của doanh nghiệp với 7 khía cạnh: Cộng đồng, Tính đa dạng, Mối quan hệ nhân viên, Môi trường, Hợp tác quốc tế, Sản phẩm và thực tiễn kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp (Mahoney và Thorne, 2005). Tương tự như bộ dữ liệu KLD chỉ dành cho doanh nghiệp Hoa Kỳ, CSID cũng chỉ giới hạn việc áp dụng trong phạm vi lãnh thổ nhất định mà cụ thể ở đây là những công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Canada. Có thể thấy, từ hai bộ dữ liệu điển hình trong phương pháp đo lường CSR dựa vào chỉ số và danh tiếng đều đưa ra được những kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng tới CSR của doanh nghiệp, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động CSR. Tuy nhiên, để xây dựng một mô hình đo lường trách nhiệm xã hội đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần có những khảo sát thực tế từ các bên liên đới về lợi ích, vừa kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng (Turker, 2009; Maignan và Ferrell, 2000).

Phân tích nội dung: Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm tới hoạt động CSR và các báo cáo công khai thông tin về thực hiện hoạt động liên quan tới môi trường, cộng đồng, nhân viên hay người tiêu dùng. Chính vì vậy, việc sử dụng phương pháp này trong các nghiên cứu về hoạt động CSR của một doanh nghiệp dường như là không thể thiếu được đối với các công ty có công bố thông tin CSR. Với phương pháp này, hoạt động của công ty được đánh giá khách quan hơn bởi những đóng góp xã hội được thể hiện trên báo cáo và quá trình đánh giá được tiêu chuẩn hóa (Ruf và các tác giả, 1998). Song chất lượng thông tin về hoạt động CSR được công bố phụ thuộc vào mức độ tự nguyện và trung thực của doanh nghiệp. Đây là một vấn đề đặt ra cho nghiên cứu dựa vào phương pháp đo lường này bởi những thông tin trong các bản công bố của doanh nghiệp khi sai lệch với thực tế sẽ làm cho người tiếp nhận thông tin lầm tưởng về công ty đó với những hình ảnh tốt đẹp (Turker, 2009). Trong phương pháp này, sự minh bạch và trách nhiệm giải trình – là yếu tố then chốt trong cơ chế quản trị, là một nền tảng quan trọng cho các mối quan hệ giữa lãnh đạo doanh nghiệp, các cổ đông với các bên liên đới về lợi ích khác của công ty – trở thành tiêu chí số một để đo lường về CSR. Do vậy, nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp này không nên đánh đồng công bố thông tin CSR với hoạt động truyền thông CSR nhằm xây dựng hình ảnh công ty.

Ngoài nguồn dữ liệu từ ẩn phẩm của doanh nghiệp thì một số nghiên cứu còn kết hợp giữa những ấn phẩm đó và những nguồn dữ liệu khác đến từ các trang web uy tín. Lattemann và các tác giả (2009) trong nghiên cứu về tần suất công bố thông tin CSR của các công ty đa quốc gia tại Trung Quốc và Ấn Độ đã sử dụng mô hình bao gồm các yếu tố cấp quốc gia, ngành và cấp công ty để dự đoán về tần suất công bố thông tin về CSR, một thước đo tượng trưng cho CSR. Các nguồn công bố thông tin về CSR bao gồm các trang web từ công ty, báo cáo hàng năm, các tài liệu công khai có sẵn trên Internet và những thông tin liên quan tới các bên liên đới (Esrock và Leichty, 2000). Các tập đoàn lớn có những hoạt động truyền thông rộng khắp về CSR nhằm tạo dựng hình ảnh tích cực, đảm bảo tính hợp pháp và nhận được sự ủng hộ từ các bên liên đới (Adams và các tác giả, 1998, Esrock và Leichty, 1998). Đo lường hoạt động CSR trên thực tế rất khó khăn hoặc không thể đo được trên cơ sở định lượng với quy mô lớn, bởi vậy việc sử dụng biện pháp trên có thể giải quyết phần nào những hạn chế này (Lattemann và các tác giả, 2009).

Đo lường CSR ở cấp độ cá nhân: Trong các nghiên cứu liên quan, hầu hết các học giả đưa ra được các thang đo về nhận thức của cá nhân người quản lý doanh nghiệp về CSR ví dụ như thang đo giá trị CSR cá nhân của người quản lý theo mô hình bốn yếu tố của Carroll (2000). Những thang đo từ phương pháp này đã đưa cho người đọc những hiểu biết sâu hơn về sự đa chiều của CSR. Lần lượt tiếp nối sau sự phát triển của công trình nghiên cứu thang đo này, các học giả tiếp tục có những thang đo khác như đo lường thái độ của nhà quản lý về CSR (Quazi và O’brien, 2000), đo lường nhận thức về vai trò của đạo đức và trách nhiệm xã hội trong việc đạt được hiệu quả tổ chức (Singhapakdi và các tác giả, 1996). Quazi và O’brien (2000) đã xây dựng một thang đo dựa trên mô hình hai chiều bao gồm phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp và kết quả thực hiện cam kết về mặt xã hội của doanh nghiệp (Turker, 2009). Thang đo này có được ưu điểm vượt trội về đo lường nhận thức của cá nhân trong nhiều bối cảnh kinh tế và những nền văn hóa khác nhau song việc có thể đo lường được mức độ nhận thức ở cấp độ tổ chức lại là một yếu điểm lớn bởi điều này là rất khó thực hiện.

Ở cấp độ tổ chức, Maignan và Ferrell (2000) và Turker (2009) đã xây dựng các thang đo đo lường hành vi của tổ chức liên quan tới khái niệm công dân doanh nghiệp và CSR. Đầu tiên, thang đo của Maignan và Ferrell (2000) được thiết kế dựa trên cơ sở phân chia trách nhiệm của Carroll (1979) và lý thuyết quản trị các bên liên quan với ba bên liên đới chủ yếu là người lao động, khách hàng và công chúng. Nghiên cứu đã phát triển nên một phương pháp đo lường bốn chiều gồm các yếu tố liên quan đến khái niệm công dân doanh nghiệp về kinh tế, pháp lý, đạo đức và sau đó đã kiểm nghiệm tại hai quốc gia khác nhau là Mỹ và Pháp. Song việc chỉ với ba bên liên đới được xét trong quá trình đo lường CSR là một trong những hạn chế chính của thang đo này. Từ đó, Turker (2009) đã phát triển một thang đo CSR để đánh giá hành vi CSR liên quan tới sự đa dạng của các bên liên đới. Qua phân tích thang đo CSR cho thấy một cấu trúc bốn chiều: (1) CSR liên quan đến nhân viên, (2) CSR liên quan đến khách hàng, (3) CSR liên quan đến chính phủ, (4) CSR liên quan đến các bên liên đới khác. Tuy vậy, thang đo của Turker (2009) được xây dựng trên khía cạnh về hành vi; mặc dù đã được thử nghiệm đối với nhân viên, nhưng lại chưa được thử nghiệm đối với giám đốc điều hành. Do vậy, về cấp độ tổ chức, phương pháp này vẫn cần được xem xét để tiếp tục được hoàn thiện.

Điểm qua một số những phương pháp đo lường CSR đã được nêu ở trên, có thể thấy rằng các phương pháp đo lường đều có những đóng góp rất lớn với khái niệm CSR cả về mặt lý thuyết và thực tiễn. CSR vẫn còn là một khái niệm gây khá nhiều tranh cãi, với những nhiều luồng ý kiến khác nhau thậm chí trái chiều, những chủ thuyết khác nhau. Và điều tất yếu là từ đó cho ra những phương pháp đo lường CSR khác nhau, mô hình đo lường ở các mảng riêng biệt về CSR cũng khác nhau. Chính vì vậy, các phương pháp không thể tránh khỏi những giới hạn như không gian, thời gian, chủ thể, môi trường, con người, văn hóa. Điều này tạo ra nhiều khoảng trống nghiên cứu về chủ đề CSR.

Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

Khái quát về lòng trung thành

Khái quát về lòng trung thành

Hiện nay không ch tại Việt Nam mà các nước trên thế giới các nghiên cứu về lòng trung thành của nhân viên luôn thể hiện được vai trò của nó trong việc hỗ trợ quản trị nhân sự trong không ch cho các doanh nghiệp mà còn trong các tổ chức công quyền phi chính phủ….

Hiện nay có nhiều khái niệm liên quan đến sự trung thành. Theo từ Niehoff Moorman và Fuller 2001 thì lòng trung thành là những biểu hiện mang tính chủ động về lòng tự hào và sự tận tâm với tổ chức. ên cạnh đó theo llen & Meyer 1991 là điều kiện tâm lý phản ánh mối quan hệ của cá nhân với tổ chức.

Theo Porter et al 1979 thì sự trung thành sự tương quan giữa mỗi cá nhân với tổ chức và nó có sự tin tưởng mạnh đối với mục tiêu giá trị của tổ chức và sẵn sàng nỗ lực có thể để phục vụ tổ chức và có mong muốn lơn lao để tiếp tục được làm việc tại tổ chức.

Theo một quan điểm khác thì lòng trung thành được xem như là một hình thức cam kết quả nhân viên với tổ chức nó yêu cầu những hành động của người nhân viên có sự quan tâm hơn đối với ông chủ hoặc công ty Elegido 2013.

Trung thành có thể là một yếu tố thành phần của cam kết tổ chức cũng có thể là một khái niệm độc lập. llen & Mayer 1990 chú trọng ba trạng thái tâm lý của nhân viên khi gắn kết với tổ chức. Nhân viên có thể trung thành với tổ chức xuất phát từ tình cảm thực sự của họ; họ sẽ ở lại với tổ chức d có nơi khác trả lương cao hơn điều kiện làm việc tốt hơn; họ có thể trung thành với tổ chức ch vì họ không có cơ hội kiếm được công việc tốt hơn; và họ có thể trung thành với tổ chức vì những chuẩn mực đạo đức mà họ theo đuổi. ook & Wall 1980 quan tâm đến các khía cạnh hành vi của nhân viên. Theo Mowday và cộng sự (1979), trung thành là ý định hoặc mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức . ịnh ngh a nổi tiếng của Mowday về lòng trung thành tương tự như khái niệm uy trì trong các nghiên cứu ở phạm vi quốc gia trong nhiều năm liền của Viện on onsulting: Nhân viên có ý định ở lại lâu dài c ng tổ chức doanh nghiệp; sẽ ở lại c ng tổ chức doanh nghiệp mặc d có nơi khác có lời đềnghị lương bổng tương đối hấp dẫn hơn Stum 1999; 2001 . Theo Johnson 2005 nhân viên trung thành với nghề nghiệp của họ hơn trung thành với nhà tuyển dụng và bản chất trong quan hệ giữa nhân viên và nhà tuyển dụng đ có những thay đổi căn bản và cần đánh giá lại khái niệm trung thành Trần Thị Kim ung & Nguy n Thị Mai Trang, 2007, tr.19-20)

Ở Việt Nam sự xuất hiện của hàng loạt nhà đầu tư nước ngoài và các ngân hàng đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao sau khi Việt Nam gia nhập WTO càng làm cho thị trường lao động nóng hơn. Nhân viên đưa ra các yêu cầu để họ có thể trung thành với công ty. Một số nhân viên coi thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm. Nhiều nhân viên khác lại mong muốn có cơ hội học h i phát triển bản thân. Một số nhà quản lý thì cho rằng họ mong muốn có những nhân viên gi i trong ba năm còn hơn có nhân viên ở lại với công ty suốt đời nhưng năng lực kém cỏi.

Như vậy có thể hiểu: Lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức được hiểu là sự tin tưởng của nhân viên đối với tổ chức, đối với người chủ của mình, đồng thời cũng thể hiện sự tin tưởng của họ đối với các mục tiêu, giá trị của tổ chức mình đang làm việc.

Khái quát về lòng trung thành

Tổng quan các khái niệm về dịch vụ

Từ điển Bách Khoa Việt Nam đứa ra khái niệm về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”. Tuy nhiên, có thể thấy cách định nghĩa này vẫn còn khái quát, chưa thể trình bày được tính chất khác biệt giữa những loại hình dịch vụ khác nhau.

Theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402:1999: “dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp”

Theo Adam Smith, “dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ opera, vũ công…Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra”. Adam Smith muốn nhấn mạnh vào yếu tố “không tồn trữ được”, có nghĩa là “sản phẩm dịch vụ” được “sản xuất” và “tiêu thụ” đồng thời. Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo các định nghĩa về dịch vụ từ nghiên cứu của Zeithavà  Britner (2000); Gronross (2007) như sau:

– Zeitha & Britner: “dịch vụ là những hành động, tiến trình, cách thức thực hiện một công việc nhằm tạo ra giá trí cho khách hàng thông qua việc làm thỏa mãn một nhu cầu và mong đợi nào đó từ khách hàng”

– Gronroos: “dịch vụ là một quá trình bao gồm một loạt các hành vi ít nhiều có mang tính chất vô hình, thường được diễn ra trong sự tương tác giữa khách hàng và người cung cấp”

Như vậy, từ việc tổng hợp những khái niệm chung về dịch vụ và diễn giải tham khảo đã nêu, có thể xác định được một mô tả chung về dịch vụ: là một hoặc một loạt các hành vi, có tính chất vô hình, liên quan đến sự tương tác, trao đổi giữa doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và khách hàng (người sử dụng dịch vụ). Mục đích là thỏa mãn những mong đợi, những nhu cầu mà khách hàng yêu cầu.

Tổng quan các khái niệm về dịch vụ

Khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng

Có thể định nghĩa “Quản trị chuỗi cung ứng” là những việc làm để tác động đến hoạt động của CCƯ và đạt được kết quả như mong muốn. Dưới đây là một vài định nghĩa của quản trị chuỗi cung ứng:

Theo Mentzer. Dewitt, Keeber, Min, Nix, Smith và Zacharia (2001) – Defining Supply Chain Management, Quản trị CCƯ là sự phối hợp một cách có chiến lược và có hệ thống giữa những chức năng kinh doanh truyền thống và những chiến thuật xuyên suốt trong phạm vi một công ty, với mục đích cải thiện kết quả kinh doanh dài hạn của các công ty đơn lẻ cũng như toàn bộ CCƯ .

Theo Michael H. Hugos (2011) – Essentials of Supply Chain Management, quản lý chuỗi cung ứng là sự kết hợp của sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm và vận tải giữa các bên tham gia trong một chuỗi cung ứng để đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa phản ứng với thị trường và hiệu quả kinh doanh để phục vụ thị trường tốt nhất.

Tóm lại, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động hậu cần truyền thống như là mua sắm, phân phối, bảo dưỡng và quản lý hàng tồn kho đồng thời bổ sung thêm các hoạt động như marketing, phát triển sản phẩm mới, tài chính, dịch vụ khách hàng, tất cả được xem như một phần thiết yếu để phục vụ yêu cầu của khách hàng.

Quản trị CCƯ coi CCƯ và các tổ chức trong nó là những thực thể đơn lẻ, mang lại những giải pháp hệ thống cho việc tìm hiểu và quản lý các hoạt động khác nhau, cần thiết cho việc nối kết dòng sản phẩm và dịch vụ để phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Các yêu cầu khác nhau của chuỗi cung ứng thường đòi hỏi những thứ đối lập nhau, nhưng khi những yêu cầu này đặt chung với nhau thì mới có có thể tìm ra cách để cân bằng những đòi hỏi khác nhau một cách hiệu quả nhất.

Khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng

Định nghĩa về chuỗi cung ứng

CCU cho đến nay đã không còn là một chủ đề quá mới lạ, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều khía cạnh, cách tiếp cận khác nhau, vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chuỗi cung ứng”. Cụ thể,

Theo tác giả Ganeshan và cộng sự (1995) cho rằng CCU là mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng.

Theo Chopra và Meindl (2001) nhận xét rằng CCU bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. CCU không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng.

Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về CCU, có thể kết luận rằng CCU bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến khi cung cấp cho khách hàng cuối cùng. Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng.

Định nghĩa về chuỗi cung ứng

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Thị trường mua bán nợ, tài sản xấu của Trung Quốc có thể được chia ra thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Ở thị trường sơ cấp, các công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) mua bán nợ tiến hành mua lại nợ xấu của các ngân hàng sau đó tiến hành xử lý, một phần được xử lý trực tiếp, một phần được bán lại trên thị trường thứ cấp, ở đó có sự tham gia của các thành phần chủ yếu là các DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước, tổ chức đầu tư nước ngoài, các tổ chức trung gian khác [53].

– Thị trường sơ cấp

Trong thị trường sơ cấp, đối tượng giao dịch của các ngân hàng thương mại chỉ có 4 AMC Nhà nước, chiếm vị trí độc quyền. Đến cuối năm 2008, đa phần các ngân hàng thương mại quốc doanh của Trung Quốc đã hoàn thành quá trình xử lý nợ xấu, đồng thời thực hiện niêm yết lên sàn giao dịch.

Tuy nhiên, thực tế là các AMC trên thị trường sơ cấp sẽ ngày càng ít tham gia vào việc mua lại các khoản nợ xấu của các ngân hàng, 4 AMC lớn của Trung Quốc đều đang trong giai đoạn chuyển đổi, việc mua tài sản xấu không còn là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, “tối đa hóa lợi nhuận” mới là mục tiêu mà các công ty này đang phải đối mặt.

– Thị trường thứ cấp

Nợ xấu chưa được xử lý sẽ được các AMC bán lại trên thị trường thứ cấp. Trên thị trường mua bán nợ Trung Quốc có một số nhà đầu tư năng động, những nhà đầu tư này không chỉ mua lại tài sản xấu mà còn thông qua phân tách, chỉnh lý sau đó bán lại trên thị trường tài sản. Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường mua bán nợ thứ cấp ở Trung Quốc hiện nay chủ yếu là một số DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước, các tổ thức đầu tư nước ngoài và các Quỹ đầu tư.

Trên thị trường mua bán nợ thứ cấp, DNNN chiếm trên 40% tổng lượng giao dịch, các doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ từ 20%-30%, quy mô đầu tư của các tổ chức nước ngoài chiếm khoảng 10% – 20%, các quỹ đầu tư chiếm khoảng 20% tổng quy mô thị trường thứ cấp. Trên thực tế, cùng với đặc điểm công việc xử lý tài sản xấu của 4 AMC lớn ngày càng tiếp cận đến giai đoạn cuối, những tài sản xấu còn lại thông thường sẽ ngày càng khó xử lý, lợi nhuận cũng tương đối thấp hơn. Với tình trạng này, sẽ tạo điều kiện phát triển mới cho thị trường mua bán tài sản xấu thứ cấp, sự xuất hiện của các hình thức phân tách, chia nhỏ tài sản sẽ tạo điều kiện cho các thành phần không có tiềm lực tài chính bằng các DNNN tham gia thị trường. Ngoài ra, mức độ mở cửa và các dịch vụ toàn diện của thị trường đã đáp ứng được nhu cầu của một lượng lớn các doanh nghiệp ngoài nhà nước đầu tư vào tài sản xấu, cung cấp những điều kiện có lợi cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong việc nâng cao năng lực xử lý những tài sản xấu có mức độ rủi ro cao, có tác dụng rõ ràng trong cả việc nâng cao tỉ lệ thu hồi và giá trị gia tăng thu được trong quá trình xử lý nợ xấu.

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp xã hội

Quan niệm về Doanh nghiệp xã hội ở mỗi quốc gia đều có sự khác biệt nhất định. Do đó, những đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội cũng được nhận thức ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có thể tổng hợp một số những đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp xã hội được thừa nhận rộng rãi như sau [27,6-8]:

Doanh nghiệp xã hội phải có hoạt động kinh doanh

Đã là doanh nghiệp là phải có hoạt động kinh doanh. Chính hoạt động kinh doanh này khiến DNXH khác với các tổ chức phi chính phủ, quỹ từ thiện hay các tổ chức thiện nguyện thuần túy hoạt động chủ yếu dựa vào sự tài trợ và lòng hảo tâm. Và do vậy, mô hình và chiến lược kinh doanh là không thể thiếu đối với các DNXH bởi nó đều chịu chi phối của quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh của thị trường. Vì thế, các DNXH đều phải cạnh tranh bình đẳng và công bằng với các doanh nghiệp truyền thống trong cùng lĩnh vực. Điều này tạo ra sự khác biệt giữa DNXH với các tổ chức phi chính phủ, từ thiện khác khi chủ yếu kêu gọi sự tài trợ và ủng hộ từ các cá nhân và tổ chức bên ngoài. Tuy nhiên, việc tạo ra lợi nhuận nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội trong khi vẫn phải tuân thủ quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu của thị trường khiến các Doanh nghiệp xã hội phải nỗ lực hết mình cung cấp các sản phẩm dịch vụ có chất lượng với giá cả cạnh tranh. Để giải quyết những khó khăn này đòi hỏi các DNXH cần có những giải pháp kinh doanh gắn liền với các sáng kiến xã hội. Sáng kiến xã hội chính là các giải pháp kinh doanh sáng tạo để tạo ra giá trị kinh tế đồng thời vẫn giải quyết được các vấn đề xã hội và môi trường. Vì thế sáng kiến xã hội được coi là một trong những yếu tố quan trọng làm nền tảng để các DNXH thúc đẩy hoạt động kinh doanh của mình một cách hiệu quả.

Trên thực tế, để DNXH hoạt động có hiệu quả là một thách thức khá lớn. Tuy nhiên, điều này cũng giúp các DNXH chủ động trong hoạt động kinh doanh, tạo ra lợi nhuận để thực hiện các mục tiêu xã hội/ môi trường mà mình theo đuổi. Mặc dù có thể lợi nhuận tạo ra không đủ chi phí để thực hiện các mục tiêu này nhưng DNXH cũng vẫn có thể dựa vào một phần từ các nguồn tài trợ để theo đuổi mục tiêu mà mình cam kết. Nhưng chủ yếu việc hoạt động với tư cách doanh nghiệp giúp các DNXH có thể chủ động trong việc thực hiện sứ mệnh mà mình đã theo đuổi.

Doanh nghiệp xã hội phải đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu

Một trong những đặc trưng cơ bản giúp phân biệt DNXH với các doanh nghiệp truyền thống đó là mục tiêu của hoạt động kinh doanh. Nếu như các doanh nghiệp truyền thống đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết thì DNXH đặt mục tiêu xã hội làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình.

Một doanh nghiệp truyền thống có thể sản xuất, cung cấp các sản phẩm dịch vụ phục vụ đời sống người dân và cộng đồng hoặc có thể sử dụng các giải pháp xã hội trong chiến lược kinh doanh của mình và tạo ra những tác động xã hội tích cực nhưng tất cả những điều đó là để nhằm đạt mục tiêu mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Còn ngược lại, DNXH sử dụng hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu xã hội, mang lại lợi ích cho cộng đồng theo những gì mà mình đã cam kết.

Xem thêm: Khái niệm Doanh nghiệp xã hội

Như vậy có thể thấy sự khác nhau trong hoạt động kinh doanh giữa DNXH và doanh nghiệp truyền thống, đó là ở điểm khởi phát doanh nghiệp và mục tiêu kinh doanh cần đạt được. Ở doanh nghiệp truyền thống, khởi phát hoạt động kinh doanh là từ việc phát hiện nhu cầu của khách hàng để sáng tạo, phát triển sản phẩm nhằm thu được lợi nhuận cao nhất cho chủ sở hữu. Còn DNXH bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình từ việc phát hiện các vấn đề xã hội để phát triển các hoạt động kinh doanh nhằm giải quyết các vấn đề ấy. Rõ ràng lý do bắt nguồn kinh doanh và mục tiêu cuối cùng cần đạt được của DNXH có sự khác biệt với doanh nghiệp truyền thống. Đó cũng là mặt rất tích cực của loại hình doanh nghiệp này. Vì thế, cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện để DNXH ngày càng phát triển và phát huy hết những lợi ích mà nó mang lại cho xã hội, cộng đồng. Trong đó, các vấn đề xã hội thường được quan tâm là bảo vệ giá trị văn hóa, tôn trọng các quan hệ xã hội, bảo vệ môi trường, cứu trợ, quyên góp, hỗ trợ đối tượng gặp khó khăn, giải quyết các xung đột trong gia đình, cộng đồng…hoặc làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Nghĩa là các DNXH góp phần bảo vệ và phát huy những điều hay, lẽ phải và những giá trị xã hội đáng quý.

Lợi nhuận phân phối chủ yếu cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội, vì cộng đồng

Như đã phân tích, một trong những đặc điểm cơ bản của DNXH đó là việc đặt mục tiêu xã hội lên trên mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu.Vì thế, đương nhiên lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu phục vụ việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Do đó, đối với các doanh nghiệp truyền thống, lợi nhuận sau cùng sẽ thuộc về chủ sở hữu. Trong khi đó, lợi nhuận của DNXH sẽ được tái đầu tư, phân phối trở lại cho các hoạt động mang tính xã hội của tổ chức hoặc cho cộng đồng là những đối tượng được hưởng lợi.

Như vậy, lợi nhuận của DNXH không đổ về bất kỳ cá nhân nào. Lợi nhuận này là để mang lại lợi ích cho cộng đồng. Vì thế, việc tái phân phối lợi nhuận là một trong những cơ sở để phân biệt doanh nghiệp truyền thống và DNXH. Đây cũng là một trong những điều kiện để xác định DNXH mà điều 10 Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014 đã quy định, trong đó sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

Phục vụ nhu cầu của cộng đồng người yếu thế trong xã hội

Mục tiêu của DNXH là giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, vì lợi ích cộng đồng. Vì thế, những người yếu thế, nhóm đáy trong xã hội là đối tượng thụ hưởng chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của các DNXH. Đây là đối tượng thuộc diện người nghèo và yếu thế nhất. Vì chiếm số đông lại ở đáy cùng trong xã hội nên nhóm người này được gọi là “nhóm đáy” của Kim Tự Tháp (Based of the pyramid – BoP).

Ở Việt Nam, theo ước tính sơ lược của chương trình Giáo dục toàn cầu Pears Program, có từ 1/3 đến một nửa dân số thuộc nhóm đáy của Kim tự tháp. Trong đó, những người yếu thế, những đối tượng bị lề hóa, những người dân ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật, người nhiềm HIV/AIDS, trẻ em cơ nhỡ, phạm nhân mãn hạn tù…là những đối tượng rất cần được quan tâm giúp đỡ để nâng cao điều kiện sống, giảm thiểu tệ nạn xã hội, giảm bớt gánh nặng cho xã hội. Trên thực tế, khu vực nhà nước hiện nay không đủ nguồn lực để kham hết gánh nặng phúc lợi xã hội trong khi khu vực tư nhân lại hướng đến những phân khúc thị trường mà khách hàng mục tiêu có khả năng chi trả cao hơn. Vì thế, DNXH được biết đến như một mảnh ghép lấp đầy khoảng trống mà hai khu vực tư nhân và nhà nước còn chưa làm được. Đây cũng chính là một trong những đặc trưng nổi bật của DNXH so với các doanh nghiệp truyền thống thông thường.

Trên đây là những đặc điểm cơ bản mà một DNXH thường có. Những đặc điểm này cũng là những yếu tố cốt lõi để phân biệt DNXH với các doanh nghiệp truyền thống thông thường.

Đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp xã hội