092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Khung lý thuyết tài chính hành vi

Tài chính hành vi là hướng nghiên cứu thuộc lĩnh vực tài chính nhằm khắc phục những vấn đề khó khăn của tài chính truyền thống đang đối mặt trong giải thích, (Barberis and Thaler, 2003). Một số lý thuyết được xem là nền tảng của quan điểm tài chính hành vi là: Lý thuyết những sai lệch trong nhận thức (Cognitive biases theory) của Tversky và Kahneman (1973) và Lý thuyết triển vọng (Prospect theory) cũng của hai tác giả trên (1979).

Nhiệm vụ chính của TC hành vi là giải thích những hành vi bất thường của các NĐT tham dự thị trường. Hành vi bất thường là những phản ứng của NĐT đối với các thông tin được cập nhật lên thị trường nhưng không theo những gì mà tài chính truyền thống đã lý giải. Cụ thể, tài chính hành vi giải thích tại sao NĐT tham dự thị trường lại mắc các lỗi hệ thống bất hợp lý, trái ngược với giả định NĐT tham dự thị trường là hợp lý (Lin, 2010).

Tài chính hành vi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tâm lý đến hành vi của những người tham dự thị trường và hành vi của họ đến thị trường, (Sewell, 2007). Như vậy, đối tượng nghiên cứu của tài chính hành vi là tâm lý, hành vi của các NĐT.

Tiếp cận với những hướng nghiên cứu mới về tâm lý NĐT, Masomi và Ghayekhloo (2010) lại định nghĩa TC hành vi là một lĩnh vực khoa học tập trung nhiều vào việc giải thích cách mà cảm tính và những sai lệch trong nhận thức của NĐT ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Để có thể thực hiện được vai trò của mình, tài chính hành vi cần kết hợp kiến thức trong tâm lý học con người với các lý thuyết mô hình trong tài chính. Tâm lý học nghiên cứu về sự hình thành, vận hành và phát triển của các hoạt động tâm lý. Hoạt động tâm lý là hiện tượng tâm lý, nó chính là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, (Dương Thị Kim Oanh, 2009).

Barberis và Thaler (2003) cho rằng, có hai nguyên nhân của hiện tượng chênh lệch giá chứng khoán, mà các lý thuyết tài chính truyền thống không thể giải thích được: giới hạn kinh doanh chênh lệch giá và tâm lý

Giới hạn kinh doanh chênh lệch giá: “Thật là khó cho những NĐT hợp lý để xoá bỏ sự chênh lệch về giá CK bởi có ít NĐT hợp lý”, (Barberis and Thaler, 2003, page 1053). Đồng thời do một số khoản chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch và một số loại rủi ro như rủi ro cơ bản và rủi ro bởi các NĐT không hợp lý gây ra đã khiến cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá bị giới hạn làm giá CK không thể được đưa về đúng giá trị của nó nhanh chóng như cách lý giải của tài chính hành vi.

Hướng nghiên cứu về tâm lý: là hướng nghiên cứu mà người ta đi tìm kiếm sự tồn tại của các NĐT không hợp lý trên thị trường. Hay nói một cách cụ thể hơn, nghiên cứu về tâm lý NĐT là nghiên cứu nhằm phát hiện những biểu hiện trong nhận thức của NĐT đối với những vấn đề, hiện tượng của thị trường, nắm bắt những nhận thức, cảm tính của NĐT và ảnh hưởng của chúng đến quyết định đầu tư của họ. Tham khảo phụ lục 2 – Khái quát khung lý thuyết về tài chính hành vi.

Nguồn: Luận án tài chính “Nghiên cứu về cảm tính nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis –EMH)

Thị trường vốn hiệu quả là thị trường mà ở đó giá chứng khoán phản ảnh một cách đầy đủ và tức thời tất cả các thông tin có liên quan đến nó (Fama, 1970). Điều đó có nghĩa rằng, trong thị trường khi hàng hoá tài sản vốn được giao dịch thì giá cả là tín hiệu chính xác về việc phân bổ vốn, (Copeland et al., 2005). Theo Fama (1970) có 3 mức độ hiệu quả thị trường: dạng yếu, dạng bán mạnh và dạng mạnh.

Thị trường hiệu quả dạng yếu: khi đó giá thị trường chứng khoán đã phản ảnh trong nó những thông tin đã được công bố trong quá khứ có liên quan đến chứng khoán. Điều đó nó gián tiếp nói lên rằng, nếu NĐT quan tâm đến các thông tin trong quá khứ của chứng khoán để ra quyết định đầu tư thì họ sẽ không kiếm được lợi nhuận.

Thị trường hiệu quả dạng bán mạnh: khi đó giá thị trường của chứng khoán đã phản ảnh hết các thông tin liên quan đã được công bố trong quá khứ và vừa mới được công bố. Giá chứng khoán lập tức được điều chỉnh cho thích hợp với các thông tin liên quan đến CK ngay khi vừa được công bố. Vì thế, cả việc quan tâm đến thông tin mới cũng không mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư.

Thị trường hiệu quả dạng mạnh: giá chứng khoán ngoài phản ảnh giá trị của thông tin được công bố trong quá khứ, hiện tại và cả thông tin nội bộ trong công ty. Bởi theo Fama, những người bên trong công ty nắm được các thông tin nội bộ đã thực hiện các giao dịch và vì thế giá CK đã được điều chỉnh về đúng giá trị hợp lý của nó.18

Do đó, NĐT tham dự thị trường sẽ không tìm kiếm được lợi nhuận đối với CK.

Lý thuyết thị trường hiệu quả đã giải thích được hiện tượng, khi TTCK hoạt động ổn định trong thời gian dài NĐT khó kiếm được lợi nhuận vượt trội. Tuy nhiên, trên thị trường vẫn có những NĐT kiếm được lợi nhuận cao hơn so với các NĐT khác và cao hơn trung bình của thị trường, Fama gọi họ là những NĐT khôn ngoan. Fama giải thích rằng, để kiếm được lợi nhuận vượt trội, họ đã tận dụng các thông tin trong quá khứ, nhạy bén với các thông tin mới của công ty và tích cực hơn trong việc tìm kiếm các thông tin trong tương lai của công ty, hay có thể họ đã dự báo được những diễn biến bất thường trong tương lai của thị trường hoặc của công ty và vì thế họ có phản ứng trước so với thị trường và thu được lợi nhuận vượt trội.

Chính vì thế, những NĐT khôn ngoan hay còn được gọi là NĐT chủ động. Nhưng khi họ thực hiện hoạt động mua, bán CK dựa vào những thông tin đó, lập tức tạo thành xu hướng và các NĐT khác cũng bắt được tín hiệu mới này, từ đó thị trường sẽ xuất hiện cơ chế tự điều chỉnh để đưa thị trường trở về trạng thái hiệu quả. Điều đó đồng nghĩa, các NĐT chủ động cũng chỉ có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội trong khoảng thời gian rất ngắn.

Fama (1976), Rubinstein (1975) và Latham (1985) đã mở rộng khái niệm về thị trường hiệu quả: đối với một thông tin, một nhà đầu tư có thể mua chứng khoán nhưng cũng có thể có những người khác bán chứng khoán vì thế làm giá chứng khoán không đổi. Nếu thông tin không làm thay đổi giá chứng khoán thì thị trường được gọi là thị trường hiệu quả với thông tin. Thị trường được xem là hiệu quả dạng mạnh đối với một sự kiện thông tin nếu thông tin đó không chỉ không làm thay đổi giá chứng khoán mà còn không gây ra sự thay đổi về danh mục đầu tư (Copeland et al., 2005).

Nguồn: Luận án tài chính “Nghiên cứu về cảm tính nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Khái niệm về phát triển ngân hàng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển ngân hàng do có nhiều hướng tiếp cận về phát triển ngân hàng khác nhau. Cụ thể như sau:

Theo Rudar (2014), PTNH được định nghĩa là một quá trình cải tiến về số lượng, chất lượng và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng. Hay nói cách khác, phát triển ngành NH là một quá trình đánh dấu sự cải thiện về số lượng, chất lượng và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng có liên quan đến thu nhập quốc dân (GDP).

Mihail (2014), PTNH là một khái niệm phức tạp nên để xét phát triển NH thì xét trong mối tương quan đóng góp nhiều nhất với sự tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, theo ông phát triển NH là các biện pháp của hoạt động ngân hàng, quy mô ngân hàng và hiệu quả ngân hàng gắn với trưởng kinh tế.

Levine (2005), PTNH là sự cải thiện của hệ thống ngân hàng trong việc thực hiện các chức năng bao gồm: Tích lũy tiết kiệm; Phân bổ vốn cho đầu tư sản xuất; Giám sát các khoản đầu tư; Phân tán rủi ro và trao đổi hàng hóa và dịch vụ.

Hartmann (2007), PTNH là một quá trình đổi mới, cải thiện về thể chế và tổ chức trong hệ thống làm giảm thông tin bất đối xứng và tăng khả năng ký kết hợp đồng, giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng cạnh tranh.

Theo luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam (2010), ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ nghiên cứu PTNH ở góc độ NHTM mà NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam nhằm mục tiêu lợi nhuận (Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam).

Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận về định nghĩa phát triển NH trên, chúng ta có thể hiểu phát triển NH là các biện pháp để cải thiện về quy mô và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận nhưng gắn với tăng trưởng kinh tế.

Nguồn: Luận án Tài chính Ngân hàng “Nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế trong điều kiện độ mở thương mại và lạm phát: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

Khái niệm về phát triển ngân hàng

Khái niệm, bản chất của tài chính doanh nghiệp

Qua quá trình nghiên cứu và phát triển lý thuyết về tài chính doanh nghiệp, đã có nhiều khái niệm khác nhau về TCDN được nêu ra. Theo GS. TS. Đinh Văn Sơn: “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối dưới hình thức giá trị của cải vật chất thông qua tạo lập và phân phối sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ kinh doanh và các yêu cầu chung khác của xã hội”. [38]

TS. Nguyễn Minh Kiều trong cuốn sách “Tài chính doanh nghiệp căn bản” định nghĩa: “Tài chính nói chung là hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. TCDN là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra”. [19]

Như vậy, có thể thấy có nhiều khái niệm khác nhau về TCDN. Tuy nhiên, những khái niệm này về cơ bản được thể hiện trên hai phương diện, đó là: [42, tr.9].

Về mặt nội dung, tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp và góp phần đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.

Nếu xét trên phạm vi hoạt động, các quan hệ TCDN bao gồm:

– Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước.

Quan hệ này được thể hiện là những quan hệ về cấp phát vốn và thu hồi vốn đối với các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách.

– Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác.

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác rất đa dạng, bao gồm quan hệ của doanh nghiệp với các thị trường hàng hóa, thị trường sức lao động, thị trường tài chính… Đó là các quan hệ trong thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau.

– Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp.

Đây là các quan hệ về phân phối vốn, phân phối thu nhập trong nội bộ doanh nghiệp, ví dụ như quan hệ về điều chuyển vốn giữa các bộ phận, chi nhánh của doanh nghiệp, quan hệ về thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ nhân viên của doanh nghiệp, chi trả cổ tức cho các cổ đông của doanh nghiệp.

Nếu xét theo nội dung kinh tế, các quan hệ TCDN được chia thành các nhóm như sau:

– Các quan hệ tài chính về khai thác, thu hút vốn: Thông qua quan hệ này, vốn kinh doanh của DN được tạo lập như quan hệ về vay vốn, nhận góp vốn dưới nhiều hình thức như vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu,…

– Các quan hệ tài chính về đầu tư, sử dụng vốn kinh doanh

Đây là những quan hệ trong phân bổ, sử dụng vốn của doanh nghiệp để hình thành cơ cấu vốn kinh doanh phù hợp và sử dụng chúng nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh. Những quan hệ này hầu hết xảy ra trong nội bộ doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn ra bên ngoài như mua cổ phiếu của công ty khác, góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty con…

– Các quan hệ tài chính về phân phối thu nhập và lợi nhuận

Quan hệ này bao gồm các quan hệ với nhiều đối tượng phân phối khác nhau như Nhà nước, người cho vay, cổ đông, các doanh nghiệp góp vốn liên doanh, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp… Mối quan hệ với Nhà nước được thể hiện trong việc nộp thuế, quan hệ với người cho vay trong việc thanh toán lãi tiền vay, quan hệ với các cổ đông, các doanh nghiệp góp vốn trong thanh toán cổ tức, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp thể hiện trong bù đắp chi phí của các yếu tố đầu vào, phân phối các quỹ của doanh nghiệp…

Về mặt hình thức, TCDN các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với hoạt động của các doanh nghiệp, nhằm đạt tới mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp trong khuôn khổ của pháp luật.

Hai phương diện trên có sự khác biệt vì phương diện thứ nhất về mặt nội dung cho rằng TCDN là hệ thống các quan hệ kinh tế còn phương diện thứ hai về mặt hình thức cho rằng TCDN là hệ thống các dòng tiền phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn với các hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, xét về bản chất, hai phương diện trên có sự tương đồng vì các quan hệ TCDN đều phản ánh sự dịch chuyển giá trị hay phản ánh sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.

Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Tình hình tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Có thể hiểu tình hình TCDN thể hiện tình trạng hay thực trạng tài chính doanh nghiệp tại một thời điểm, phản ánh kết quả của toàn bộ các hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành. Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động của doanh nghiệp.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Phân tích tình hình tài chính các doanh nghiệp ngành thép niêm yết ở Việt Nam

Khái niệm, bản chất của tài chính doanh nghiệp

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Thị trường mua bán nợ, tài sản xấu của Trung Quốc có thể được chia ra thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Ở thị trường sơ cấp, các công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) mua bán nợ tiến hành mua lại nợ xấu của các ngân hàng sau đó tiến hành xử lý, một phần được xử lý trực tiếp, một phần được bán lại trên thị trường thứ cấp, ở đó có sự tham gia của các thành phần chủ yếu là các DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước, tổ chức đầu tư nước ngoài, các tổ chức trung gian khác [53].

– Thị trường sơ cấp

Trong thị trường sơ cấp, đối tượng giao dịch của các ngân hàng thương mại chỉ có 4 AMC Nhà nước, chiếm vị trí độc quyền. Đến cuối năm 2008, đa phần các ngân hàng thương mại quốc doanh của Trung Quốc đã hoàn thành quá trình xử lý nợ xấu, đồng thời thực hiện niêm yết lên sàn giao dịch.

Tuy nhiên, thực tế là các AMC trên thị trường sơ cấp sẽ ngày càng ít tham gia vào việc mua lại các khoản nợ xấu của các ngân hàng, 4 AMC lớn của Trung Quốc đều đang trong giai đoạn chuyển đổi, việc mua tài sản xấu không còn là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, “tối đa hóa lợi nhuận” mới là mục tiêu mà các công ty này đang phải đối mặt.

– Thị trường thứ cấp

Nợ xấu chưa được xử lý sẽ được các AMC bán lại trên thị trường thứ cấp. Trên thị trường mua bán nợ Trung Quốc có một số nhà đầu tư năng động, những nhà đầu tư này không chỉ mua lại tài sản xấu mà còn thông qua phân tách, chỉnh lý sau đó bán lại trên thị trường tài sản. Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường mua bán nợ thứ cấp ở Trung Quốc hiện nay chủ yếu là một số DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước, các tổ thức đầu tư nước ngoài và các Quỹ đầu tư.

Trên thị trường mua bán nợ thứ cấp, DNNN chiếm trên 40% tổng lượng giao dịch, các doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ từ 20%-30%, quy mô đầu tư của các tổ chức nước ngoài chiếm khoảng 10% – 20%, các quỹ đầu tư chiếm khoảng 20% tổng quy mô thị trường thứ cấp. Trên thực tế, cùng với đặc điểm công việc xử lý tài sản xấu của 4 AMC lớn ngày càng tiếp cận đến giai đoạn cuối, những tài sản xấu còn lại thông thường sẽ ngày càng khó xử lý, lợi nhuận cũng tương đối thấp hơn. Với tình trạng này, sẽ tạo điều kiện phát triển mới cho thị trường mua bán tài sản xấu thứ cấp, sự xuất hiện của các hình thức phân tách, chia nhỏ tài sản sẽ tạo điều kiện cho các thành phần không có tiềm lực tài chính bằng các DNNN tham gia thị trường. Ngoài ra, mức độ mở cửa và các dịch vụ toàn diện của thị trường đã đáp ứng được nhu cầu của một lượng lớn các doanh nghiệp ngoài nhà nước đầu tư vào tài sản xấu, cung cấp những điều kiện có lợi cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong việc nâng cao năng lực xử lý những tài sản xấu có mức độ rủi ro cao, có tác dụng rõ ràng trong cả việc nâng cao tỉ lệ thu hồi và giá trị gia tăng thu được trong quá trình xử lý nợ xấu.

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Hình thức mua bán nợ xấu

Mua bán nợ xấu có các hình thức sau:

– Mua bán nợ xấu thông qua đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Việc bán đấu giá được thực hiện thông qua tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc do công ty mua bán nợ có chức năng đấu giá thực hiện. Thông tin về việc bán đấu giá phải được niêm yết, thông báo công khai. Giá mua bán nợ thành công là mức giá mua cao nhất và tối thiểu phải bằng mức giá khởi điểm.

– Mua bán nợ xấu bằng cách thương lượng, đàm phán trực tiếp giữa bên mua nợ và bên bán nợ xấu. Giá mua bán nợ do hai bên thỏa thuận trên cơ sở đánh giá khả năng thu hồi nợ của khoản vay và tài sản bảo đảm của khoản vay.

Mua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt: đây là hình thức TCTD bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ và công ty mua bán nợ trả cho các TCTD bằng trái phiếu đặc biệt do công ty mua bán nợ là chủ thể phát hành. Trái phiếu đặc biệt được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, mệnh giá trái phiếu đặc biệt có giá trị bằng giá mua của khoản nợ xấu theo quy định của nhà nước. Hình thức mua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt thường được các công ty mua bán nợ của Nhà nước áp dụng, vì vậy khi mua bán nợ xấu bằng hình thức này, khoản nợ xấu phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định (có tài sản bảo đảm; khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu phải hợp pháp, có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ). Trái phiếu đặc biệt thường được sử dụng để vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước.

– Mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường: Đây là hình thức mua bán nợ xấu mà giá mua nợ xấu được xác định trên cơ sở thỏa thuận và giá trị khoản nợ xấu được đánh giá lại theo giá thị trường. Khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường, công ty mua bán nợ phải định giá hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định giá trị khoản nợ xấu. Thông thường khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường, khoản nợ đó khi mua phải được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có khả năng phát mại.

– Mua bán nợ xấu theo chỉ định của cấp có thẩm quyền: Theo hình thức này giá cả mua bán sẽ do các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét và trình cấp có thẩm quyền quyết định.

– Mua bán nợ xấu thông qua hoạt động mua bán sáp nhập (M&A): Các chủ thể khi tham gia mua bán sáp nhập có những mục đích khác nhau. Trong trường hợp này, mua bán sáp nhập được diễn ra giữa TCTD có tình hình tài chính lành mạnh với các TCTD yếu kém nhằm mục đích xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính của TCTD yếu kém. Về bản chất khi mua lại toàn bộ tài sản của TCTD yếu kém là đã bao gồm việc mua lại các khoản nợ xấu của TCTD đó. Sự thành công của mua bán sáp nhập giữa các TCTD trên hết là tạo ra lợi ích của các bên, đồng thời đem lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội.

Chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ xấu

Chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ xấu chia làm 3 nhóm:

a. Nhóm các chủ thể tham gia mua nợ xấu: Các công ty mua bán nợ chuyên nghiệp (như công ty quản lý tài sản, công ty mua bán nợ tồn đọng của doanh nghiệp), các công ty quản lý và khai thác tài sản AMC, các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, hoặc có thể là nhà đầu tư tư nhân, cá nhân có đầy đủ năng lực pháp lý.

Trong đó Công ty mua bán nợ vừa là tổ chức tài chính trung gian vừa là doanh nghiệp kinh doanh, ngoài việc mua bán, đấu giá, cơ cấu lại các khoản nợ và tài sản không cần dùng, công ty này sẽ tổ chức môi giới cho các hoạt động này và góp phần giải quyết những tồn tại về mặt tài chính trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi cơ cấu sở hữu doanh nghiệp như việc tiếp nhận tài sản và các khoản nợ được loại trừ khi xác định giá trị doanh nghiệp. Công ty mua bán nợ và tài sản chờ thanh lý của các DNNN thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu sẽ là giải pháp quan trọng cho các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay.

Xem thêm: Đặc trưng của hoạt động mua bán nợ xấu trên thị trường mua bán nợ xấu

Việc các chủ thể có đủ điều kiện tham gia thị trường này cần được quy định rõ bởi pháp luật và sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động của thị trường mua bán nợ xấu, theo đó, thu hút hoặc ngăn cản sự tham gia của 2 đối tượng trọng yếu là:

– Các nhà đầu tư nước ngoài.

– Sự tham gia của khối tư nhân.

công nợ

Đây là những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế và có đầy đủ năng lực cũng như hướng tới tính hiệu quả bền vững trong hoạt động đầu tư.

b. Nhóm các doanh nghiệp tham gia bán nợ xấu gồm: Các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp có khoản nợ xấu tại TCTD cần bán.

c. Nhóm các đơn vị tham gia tư vấn, trung gian tạo lập thị trường, doanh nghiệp thực hiện định mức tín nhiệm…

Nhằm đánh giá chính xác hơn các khoản nợ xấu thì thị trường mua bán nợ xấu cũng đòi hỏi sự tham gia của các đơn vị thực hiện hoạt động xếp hạng tín nhiệm. Đây là các doanh nghiệp cung cấp thông tin cho phép người mua và bán nợ có thể định giá các khoản nợ xấu. Ngoài ra còn có sự tham gia của các công ty hay chuyên gia tư vấn môi giới, định giá tài sản…

Đặc trưng của hoạt động mua bán nợ xấu trên thị trường mua bán nợ xấu

Hàng hóa nợ xấu là loại hàng hóa đặc biệt nên hoạt động mua bán nợ nói chung và nợ xấu nói riêng có những đặc trưng khác với các loại hàng hóa thông thường như sau:

– Mua bán nợ xấu luôn gắn với những khả năng thu lợi

Khi mua nợ xấu người đầu tư đã bỏ ra một khoản vốn của mình vào đầu tư, vì vậy, họ chỉ đầu tư khi nhìn thấy có thể thu được những khoản lợi nhuận nhất định. Mỗi loại nợ xấu đưa lại một khả năng thu lợi khác nhau.

– Hoạt động mua bán nợ xấu luôn gắn với rủi ro

Đầu tư luôn gắn với rủi ro, đầu tư vào mua bán nợ xấu cũng có những rủi ro nhất định. Có những rủi ro chung cho tất cả các loại nợ xấu và cũng có những rủi ro riêng gắn liền với từng loại nợ xấu nhất định. Các loại nợ xấu khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau. Rủi ro mà nhà đầu tư gánh chịu bao gồm: Rủi ro mang tính chính sách, pháp luật, rủi ro đạo đức, rủi ro thông tin, rủi ro tài chính…

Xem thêm: Phân loại thị trường mua bán nợ xấu

– Nợ xấu là hàng hóa có khả năng thanh khoản không cao

Sau khi mua lại nợ xấu thì khoản nợ xấu có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường nợ xấu. Mỗi loại nợ xấu có đặc trưng khác nhau về khả năng đưa lại thu nhập hay nói khác đi là mức lợi nhuận, mức độ rủi ro và mức độ thanh khoản. Nợ xấu được chứng khoán hóa (trái phiếu doanh nghiệp) thường có khả năng thanh khoản cao hơn nợ xấu chưa được chứng khoán hóa. Tuy nhiên, nhìn chung khả năng thanh khoản của nợ xấu là thấp hơn so với các sản phẩm tài chính khác trên thị trường. Hoạt động mua bán nợ xấu cũng đòi hòi thời gian dài hơn so với các nghiệp vụ mua bán vốn thông thường.

– Thông tin không rõ ràng

Khi mua bán nợ xấu thường có tình trạng phổ biến là thông tin không rõ ràng giữa người mua và người bán. Vì vậy, cần thời gian đàm phán để thực hiện mua bán dài hơn mua bán nợ thông thường và cần có cơ quan độc lập trong cung cấp thông tin (thường là các tổ chức xếp hạng tín nhiệm).

– Định giá hàng hóa được mua bán phức tạp, khó chính xác

Hàng hóa mua bán nợ xấu gồm nhiều khoản nợ (kể cả nợ xấu có tài sản bảo đảm) rất khó định giá chính xác nên thông thường giai đoạn xác định giá mua cần nhiều thời gian và chi phí cho các bên liên quan.

Phân loại thị trường mua bán nợ xấu

– Thị trường mua bán nợ xấu, xét theo quá trình luân chuyển vốn có thể được phân loại như sau:

+ Thị trường mua bán nợ xấu sơ cấp.

+ Thị trường mua bán nợ xấu thứ cấp.

Trong đó:

Thị trường mua bán nợ xấu sơ cấp là nơi khoản nợ xấu đầu tiên được giao dịch.

Thị trường mua bán nợ xấu thứ cấp là nơi mua bán lại các khoản nợ xấu đã được trao đổi.

Có thể thấy thị trường nợ xấu sơ cấp và thị trường nợ xấu thứ cấp có quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau. Nếu không có thị trường nợ xấu sơ cấp thì sẽ không có hàng hóa để lưu thông trên thị trường nợ xấu thứ cấp, còn nếu không có thị trường nợ xấu thứ cấp thì không chuyển đổi các khoản nợ xấu thành tiền hoặc các quyền sở hữu khác (góp vốn cổ phần,…). Như vậy, chính thị trường nợ xấu thứ cấp góp phần quan trọng tạo điều kiện để thị trường nợ xấu sơ cấp phát triển.

– Thị trường mua bán nợ xấu, xét theo phương hướng phát triển có thể được phân loại như sau:

+ Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng.

+ Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu.

Trong đó:

Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng là thị trường được xem xét ở phạm vi và quy mô hoạt động, thể hiện ở số lượng chủ thể tham gia thị trường, khối lượng nợ xấu được TCTD giao dịch,…

Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu là thị trường được xem xét ở chất lượng mua bán nợ xấu, hiệu quả hoạt động của công ty mua bán nợ,…

Xem thêm: Khái niệm thị trường mua bán nợ xấu

Thị trường mua bán nợ xấu muốn phát triển có thể diễn ra theo hai hướng chính là phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng, phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu hoặc kết hợp cả hai. Phương hướng phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng thông thường là để đánh giá sơ bộ về số lượng các chủ thể tham gia thị trường, khối lượng, giá trị nợ xấu được TCTD giao dịch trên thị trường.

Còn sau đó, để đánh giá việc mua bán nợ xấu có hiệu quả, được xử lý triệt để và có giúp cho quá trình luân chuyển vốn nhanh hay không cần phải phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu, tìm cách giải quyết nợ xấu được công ty mua bán nợ mua về, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty mua bán nợ.

Nếu không quan tâm đến phát triển thị trường theo chiều sâu thì việc bán nợ xấu của TCTD cho các công ty mua bán nợ chỉ mang tính chất tạm thời, không bền vững. Chính vì vậy phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng cần phải kết hợp chặt chẽ với phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu để nợ xấu được giải quyết thật sự, góp phần lành mạnh hóa tài chính cho doanh nghiệp và các TCTD, từ đó giúp ổn định kinh tế vĩ mô của đất nước.