092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Thị trường mua bán nợ, tài sản xấu của Trung Quốc có thể được chia ra thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Ở thị trường sơ cấp, các công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) mua bán nợ tiến hành mua lại nợ xấu của các ngân hàng sau đó tiến hành xử lý, một phần được xử lý trực tiếp, một phần được bán lại trên thị trường thứ cấp, ở đó có sự tham gia của các thành phần chủ yếu là các DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước, tổ chức đầu tư nước ngoài, các tổ chức trung gian khác [53].

– Thị trường sơ cấp

Trong thị trường sơ cấp, đối tượng giao dịch của các ngân hàng thương mại chỉ có 4 AMC Nhà nước, chiếm vị trí độc quyền. Đến cuối năm 2008, đa phần các ngân hàng thương mại quốc doanh của Trung Quốc đã hoàn thành quá trình xử lý nợ xấu, đồng thời thực hiện niêm yết lên sàn giao dịch.

Tuy nhiên, thực tế là các AMC trên thị trường sơ cấp sẽ ngày càng ít tham gia vào việc mua lại các khoản nợ xấu của các ngân hàng, 4 AMC lớn của Trung Quốc đều đang trong giai đoạn chuyển đổi, việc mua tài sản xấu không còn là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, “tối đa hóa lợi nhuận” mới là mục tiêu mà các công ty này đang phải đối mặt.

– Thị trường thứ cấp

Nợ xấu chưa được xử lý sẽ được các AMC bán lại trên thị trường thứ cấp. Trên thị trường mua bán nợ Trung Quốc có một số nhà đầu tư năng động, những nhà đầu tư này không chỉ mua lại tài sản xấu mà còn thông qua phân tách, chỉnh lý sau đó bán lại trên thị trường tài sản. Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường mua bán nợ thứ cấp ở Trung Quốc hiện nay chủ yếu là một số DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước, các tổ thức đầu tư nước ngoài và các Quỹ đầu tư.

Trên thị trường mua bán nợ thứ cấp, DNNN chiếm trên 40% tổng lượng giao dịch, các doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ từ 20%-30%, quy mô đầu tư của các tổ chức nước ngoài chiếm khoảng 10% – 20%, các quỹ đầu tư chiếm khoảng 20% tổng quy mô thị trường thứ cấp. Trên thực tế, cùng với đặc điểm công việc xử lý tài sản xấu của 4 AMC lớn ngày càng tiếp cận đến giai đoạn cuối, những tài sản xấu còn lại thông thường sẽ ngày càng khó xử lý, lợi nhuận cũng tương đối thấp hơn. Với tình trạng này, sẽ tạo điều kiện phát triển mới cho thị trường mua bán tài sản xấu thứ cấp, sự xuất hiện của các hình thức phân tách, chia nhỏ tài sản sẽ tạo điều kiện cho các thành phần không có tiềm lực tài chính bằng các DNNN tham gia thị trường. Ngoài ra, mức độ mở cửa và các dịch vụ toàn diện của thị trường đã đáp ứng được nhu cầu của một lượng lớn các doanh nghiệp ngoài nhà nước đầu tư vào tài sản xấu, cung cấp những điều kiện có lợi cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong việc nâng cao năng lực xử lý những tài sản xấu có mức độ rủi ro cao, có tác dụng rõ ràng trong cả việc nâng cao tỉ lệ thu hồi và giá trị gia tăng thu được trong quá trình xử lý nợ xấu.

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Hình thức mua bán nợ xấu

Mua bán nợ xấu có các hình thức sau:

– Mua bán nợ xấu thông qua đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Việc bán đấu giá được thực hiện thông qua tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc do công ty mua bán nợ có chức năng đấu giá thực hiện. Thông tin về việc bán đấu giá phải được niêm yết, thông báo công khai. Giá mua bán nợ thành công là mức giá mua cao nhất và tối thiểu phải bằng mức giá khởi điểm.

– Mua bán nợ xấu bằng cách thương lượng, đàm phán trực tiếp giữa bên mua nợ và bên bán nợ xấu. Giá mua bán nợ do hai bên thỏa thuận trên cơ sở đánh giá khả năng thu hồi nợ của khoản vay và tài sản bảo đảm của khoản vay.

Mua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt: đây là hình thức TCTD bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ và công ty mua bán nợ trả cho các TCTD bằng trái phiếu đặc biệt do công ty mua bán nợ là chủ thể phát hành. Trái phiếu đặc biệt được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, mệnh giá trái phiếu đặc biệt có giá trị bằng giá mua của khoản nợ xấu theo quy định của nhà nước. Hình thức mua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt thường được các công ty mua bán nợ của Nhà nước áp dụng, vì vậy khi mua bán nợ xấu bằng hình thức này, khoản nợ xấu phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định (có tài sản bảo đảm; khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu phải hợp pháp, có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ). Trái phiếu đặc biệt thường được sử dụng để vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước.

– Mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường: Đây là hình thức mua bán nợ xấu mà giá mua nợ xấu được xác định trên cơ sở thỏa thuận và giá trị khoản nợ xấu được đánh giá lại theo giá thị trường. Khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường, công ty mua bán nợ phải định giá hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định giá trị khoản nợ xấu. Thông thường khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường, khoản nợ đó khi mua phải được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có khả năng phát mại.

– Mua bán nợ xấu theo chỉ định của cấp có thẩm quyền: Theo hình thức này giá cả mua bán sẽ do các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét và trình cấp có thẩm quyền quyết định.

– Mua bán nợ xấu thông qua hoạt động mua bán sáp nhập (M&A): Các chủ thể khi tham gia mua bán sáp nhập có những mục đích khác nhau. Trong trường hợp này, mua bán sáp nhập được diễn ra giữa TCTD có tình hình tài chính lành mạnh với các TCTD yếu kém nhằm mục đích xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính của TCTD yếu kém. Về bản chất khi mua lại toàn bộ tài sản của TCTD yếu kém là đã bao gồm việc mua lại các khoản nợ xấu của TCTD đó. Sự thành công của mua bán sáp nhập giữa các TCTD trên hết là tạo ra lợi ích của các bên, đồng thời đem lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội.

Chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ xấu

Chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ xấu chia làm 3 nhóm:

a. Nhóm các chủ thể tham gia mua nợ xấu: Các công ty mua bán nợ chuyên nghiệp (như công ty quản lý tài sản, công ty mua bán nợ tồn đọng của doanh nghiệp), các công ty quản lý và khai thác tài sản AMC, các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, hoặc có thể là nhà đầu tư tư nhân, cá nhân có đầy đủ năng lực pháp lý.

Trong đó Công ty mua bán nợ vừa là tổ chức tài chính trung gian vừa là doanh nghiệp kinh doanh, ngoài việc mua bán, đấu giá, cơ cấu lại các khoản nợ và tài sản không cần dùng, công ty này sẽ tổ chức môi giới cho các hoạt động này và góp phần giải quyết những tồn tại về mặt tài chính trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi cơ cấu sở hữu doanh nghiệp như việc tiếp nhận tài sản và các khoản nợ được loại trừ khi xác định giá trị doanh nghiệp. Công ty mua bán nợ và tài sản chờ thanh lý của các DNNN thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu sẽ là giải pháp quan trọng cho các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay.

Xem thêm: Đặc trưng của hoạt động mua bán nợ xấu trên thị trường mua bán nợ xấu

Việc các chủ thể có đủ điều kiện tham gia thị trường này cần được quy định rõ bởi pháp luật và sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động của thị trường mua bán nợ xấu, theo đó, thu hút hoặc ngăn cản sự tham gia của 2 đối tượng trọng yếu là:

– Các nhà đầu tư nước ngoài.

– Sự tham gia của khối tư nhân.

công nợ

Đây là những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế và có đầy đủ năng lực cũng như hướng tới tính hiệu quả bền vững trong hoạt động đầu tư.

b. Nhóm các doanh nghiệp tham gia bán nợ xấu gồm: Các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp có khoản nợ xấu tại TCTD cần bán.

c. Nhóm các đơn vị tham gia tư vấn, trung gian tạo lập thị trường, doanh nghiệp thực hiện định mức tín nhiệm…

Nhằm đánh giá chính xác hơn các khoản nợ xấu thì thị trường mua bán nợ xấu cũng đòi hỏi sự tham gia của các đơn vị thực hiện hoạt động xếp hạng tín nhiệm. Đây là các doanh nghiệp cung cấp thông tin cho phép người mua và bán nợ có thể định giá các khoản nợ xấu. Ngoài ra còn có sự tham gia của các công ty hay chuyên gia tư vấn môi giới, định giá tài sản…

Đặc trưng của hoạt động mua bán nợ xấu trên thị trường mua bán nợ xấu

Hàng hóa nợ xấu là loại hàng hóa đặc biệt nên hoạt động mua bán nợ nói chung và nợ xấu nói riêng có những đặc trưng khác với các loại hàng hóa thông thường như sau:

– Mua bán nợ xấu luôn gắn với những khả năng thu lợi

Khi mua nợ xấu người đầu tư đã bỏ ra một khoản vốn của mình vào đầu tư, vì vậy, họ chỉ đầu tư khi nhìn thấy có thể thu được những khoản lợi nhuận nhất định. Mỗi loại nợ xấu đưa lại một khả năng thu lợi khác nhau.

– Hoạt động mua bán nợ xấu luôn gắn với rủi ro

Đầu tư luôn gắn với rủi ro, đầu tư vào mua bán nợ xấu cũng có những rủi ro nhất định. Có những rủi ro chung cho tất cả các loại nợ xấu và cũng có những rủi ro riêng gắn liền với từng loại nợ xấu nhất định. Các loại nợ xấu khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau. Rủi ro mà nhà đầu tư gánh chịu bao gồm: Rủi ro mang tính chính sách, pháp luật, rủi ro đạo đức, rủi ro thông tin, rủi ro tài chính…

Xem thêm: Phân loại thị trường mua bán nợ xấu

– Nợ xấu là hàng hóa có khả năng thanh khoản không cao

Sau khi mua lại nợ xấu thì khoản nợ xấu có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường nợ xấu. Mỗi loại nợ xấu có đặc trưng khác nhau về khả năng đưa lại thu nhập hay nói khác đi là mức lợi nhuận, mức độ rủi ro và mức độ thanh khoản. Nợ xấu được chứng khoán hóa (trái phiếu doanh nghiệp) thường có khả năng thanh khoản cao hơn nợ xấu chưa được chứng khoán hóa. Tuy nhiên, nhìn chung khả năng thanh khoản của nợ xấu là thấp hơn so với các sản phẩm tài chính khác trên thị trường. Hoạt động mua bán nợ xấu cũng đòi hòi thời gian dài hơn so với các nghiệp vụ mua bán vốn thông thường.

– Thông tin không rõ ràng

Khi mua bán nợ xấu thường có tình trạng phổ biến là thông tin không rõ ràng giữa người mua và người bán. Vì vậy, cần thời gian đàm phán để thực hiện mua bán dài hơn mua bán nợ thông thường và cần có cơ quan độc lập trong cung cấp thông tin (thường là các tổ chức xếp hạng tín nhiệm).

– Định giá hàng hóa được mua bán phức tạp, khó chính xác

Hàng hóa mua bán nợ xấu gồm nhiều khoản nợ (kể cả nợ xấu có tài sản bảo đảm) rất khó định giá chính xác nên thông thường giai đoạn xác định giá mua cần nhiều thời gian và chi phí cho các bên liên quan.

Phân loại thị trường mua bán nợ xấu

– Thị trường mua bán nợ xấu, xét theo quá trình luân chuyển vốn có thể được phân loại như sau:

+ Thị trường mua bán nợ xấu sơ cấp.

+ Thị trường mua bán nợ xấu thứ cấp.

Trong đó:

Thị trường mua bán nợ xấu sơ cấp là nơi khoản nợ xấu đầu tiên được giao dịch.

Thị trường mua bán nợ xấu thứ cấp là nơi mua bán lại các khoản nợ xấu đã được trao đổi.

Có thể thấy thị trường nợ xấu sơ cấp và thị trường nợ xấu thứ cấp có quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau. Nếu không có thị trường nợ xấu sơ cấp thì sẽ không có hàng hóa để lưu thông trên thị trường nợ xấu thứ cấp, còn nếu không có thị trường nợ xấu thứ cấp thì không chuyển đổi các khoản nợ xấu thành tiền hoặc các quyền sở hữu khác (góp vốn cổ phần,…). Như vậy, chính thị trường nợ xấu thứ cấp góp phần quan trọng tạo điều kiện để thị trường nợ xấu sơ cấp phát triển.

– Thị trường mua bán nợ xấu, xét theo phương hướng phát triển có thể được phân loại như sau:

+ Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng.

+ Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu.

Trong đó:

Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng là thị trường được xem xét ở phạm vi và quy mô hoạt động, thể hiện ở số lượng chủ thể tham gia thị trường, khối lượng nợ xấu được TCTD giao dịch,…

Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu là thị trường được xem xét ở chất lượng mua bán nợ xấu, hiệu quả hoạt động của công ty mua bán nợ,…

Xem thêm: Khái niệm thị trường mua bán nợ xấu

Thị trường mua bán nợ xấu muốn phát triển có thể diễn ra theo hai hướng chính là phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng, phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu hoặc kết hợp cả hai. Phương hướng phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng thông thường là để đánh giá sơ bộ về số lượng các chủ thể tham gia thị trường, khối lượng, giá trị nợ xấu được TCTD giao dịch trên thị trường.

Còn sau đó, để đánh giá việc mua bán nợ xấu có hiệu quả, được xử lý triệt để và có giúp cho quá trình luân chuyển vốn nhanh hay không cần phải phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu, tìm cách giải quyết nợ xấu được công ty mua bán nợ mua về, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty mua bán nợ.

Nếu không quan tâm đến phát triển thị trường theo chiều sâu thì việc bán nợ xấu của TCTD cho các công ty mua bán nợ chỉ mang tính chất tạm thời, không bền vững. Chính vì vậy phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng cần phải kết hợp chặt chẽ với phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu để nợ xấu được giải quyết thật sự, góp phần lành mạnh hóa tài chính cho doanh nghiệp và các TCTD, từ đó giúp ổn định kinh tế vĩ mô của đất nước.

Khái niệm thị trường mua bán nợ xấu

Mua bán nợ xấu là một loại hình dịch vụ thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính để mua bán một loại sản phẩm đặc biệt – nợ xấu, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ.

Việc mua bán nợ xấu được tiến hành với sự tham gia của các đối tượng sau: Trung gian mua bán, chủ nợ, khách nợ (công ty mua bán nợ và tài sản, doanh nghiệp, ngân hàng…) nhằm xử lý các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng, làm cho nguồn vốn xoay vòng nhanh chóng và lành mạnh hóa tình hình tài chính.

thị trường mua bán nợ xấu

thị trường mua bán nợ xấu

Nói một cách khác, mua bán nợ xấu là hoạt động kinh tế để trao đổi và chuyển giao phần tài sản đặc biệt là các “khoản nợ phải thu” đã quá hạn từ đối tượng này sang đối tượng khác.

Xem thêm: Nguyên nhân của nợ xấu

Đối với TCTD, “khoản nợ phải thu” này được phân loại là nợ xấu. Thực chất, đó là việc chuyển nhượng lại “quyền thu hồi nợ” từ một “khoản nợ phải thu” của bên Bán nợ (chủ nợ) đối với Khách nợ sang cho bên Mua nợ để bên Mua nợ trở thành chủ nợ mới của bên Khách nợ. Như vậy, hoạt động mua bán nợ xấu được thực hiện đối với các khoản nợ phải thu (của bên chủ nợ) mà không phải là nợ phải trả (của bên khách nợ).

Như vậy: Thị trường mua bán nợ xấu là nơi mua bán các khoản nợ xấu, hàng hóa giao dịch trên thị trường mua bán nợ xấu là các khoản nợ xấu dưới dạng tài sản nợ hoặc các khoản nợ xấu được chứng khoán hóa. Trong đó chứng khoán hóa là quá trình biến những tài sản có tính thanh khoản thấp thành những chứng khoán có thanh khoản [54].

Hình thức xử lý nợ xấu

Xử lý nợ xấu có một số hình thức như sau:

– Thu hồi nợ xấu trực tiếp từ khách hàng vay/bên bảo lãnh của khách hàng vay trên cơ sở thực hiện các quyền của chủ nợ, tổ chức đôn đốc, yêu cầu khách hàng trả nợ.

– Thực hiện cơ cấu khoản nợ xấu bằng các biện pháp như: Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, thời hạn trả nợ phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của khách hàng vay; điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng vay và điều kiện thị trường; giảm một phần lãi hoặc miễn toàn bộ số lãi đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vay chưa có khả năng trả nợ.

– Xử lý phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu theo quy định của pháp luật. Việc xử lý tài sản bảo đảm có thể được thực hiện theo thoả thuận của các bên. Trường hợp không có thoả thuận của các bên về xử lý tài sản bảo đảm, việc xử lý tài sản bảo đảm được bán đấu giá qua tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc các công ty có chức năng đấu giá.

– Sử dụng quỹ dự phòng để xử lý rủi ro nợ xấu: Quỹ dự phòng rủi ro được trích lập dùng để bù đắp những tổn thất, thiệt hại trong quá trình cho vay. Dự phòng rủi ro được tính vào chi phí hoạt động tín dụng hàng năm của TCTD. TCTD sử dụng quỹ dự phòng rủi ro bằng cách hạch toán chuyển khoản nợ được xử lý rủi ro ra hạch toán ngoại bảng và tiếp tục theo dõi, có biện pháp để thu hồi nợ đầy đủ theo hợp đồng đã ký, cam kết đã thỏa thuận với khách hàng.

Xem thêm: Khái niệm nợ xấu

– Hoán đổi nợ xấu lấy tài sản hoặc hoán đổi nợ xấu với bên thứ ba: Đây là việc các bên tham gia giao dịch thỏa thuận và cam kết đổi nợ xấu lấy tài sản hoặc chuyển nợ xấu từ chủ nợ này sang chủ nợ khác mà không kèm theo việc phải chi trả bất cứ một khoản tiền nào.

– Bán nợ xấu trực tiếp cho nhà đầu tư, thường được thực hiện dưới ba hình thức: Bán nhóm, bán riêng lẻ và liên doanh hợp tác thông qua thoả thuận hoặc bán đấu giá. Các tài sản được bán bao gồm các khoản nợ xấu, cổ phần (chuyển từ các khoản nợ xấu), các tài sản thế chấp và cổ phần.

Khi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm/bảo lãnh ra Toà án: Đây là việc TCTD nộp đơn yêu cầu Toà án tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm đạt được kết quả thu hồi được nợ xấu đối với khách hàng vay không có khả năng trả nợ và đối với bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.

– Bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ: Việc xử lý nợ xấu thông qua công ty mua bán nợ là một cơ chế rất phổ biến trong các nền kinh tế thị trường – nơi mà Nhà nước, tư nhân hay bất kỳ thành phần kinh tế nào khác đều bình đẳng trước pháp luật.

Ảnh hưởng của nợ xấu

Ảnh hưởng đối với doanh nghiệp có nợ tồn đọng

Áp lực của một doanh nghiệp có nợ tồn đọng là vô cùng to lớn do các khoản nợ sẽ tạo ra những chi phí không mong đợi và sẽ ăn mòn dần vốn của doanh nghiệp. Trên thực tế lãi suất đối với khoản vay được gia hạn thường gấp 1,5 lần lãi suất cho vay làm cho chi phí đối với khoản vay của doanh nghiệp tăng lên, trong khi doanh nghiệp đã không trả được khoản lãi vay bình thường thì để trả khoản lãi phạt này dường như càng khó khăn hơn.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp không chỉ vay vốn ở ngân hàng mà còn vay ở rất nhiều nơi khác, do đó khi một khoản vay được coi là khó trả thì dẫn đến hậu quả là các khoản vay còn lại cũng đều được coi là khó trả và lúc này doanh nghiệp không chỉ bận tâm về chủ nợ là ngân hàng mà phải đối mặt với tất cả các chủ nợ khác, mọi quyết định, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều bị tác động. Trên danh nghĩa thì chủ nợ không có quyền trong quyết định của doanh nghiệp, song đứng trước khả năng khoản nợ của mình không được trả chủ nợ cũng tìm mọi cách để giảm thiểu rủi ro này, bằng cách này hay cách khác, các chủ nợ không nhân nhượng trong việc thu hồi nợ, thậm chí có thể đẩy doanh nghiệp đến phá sản để thu hồi nợ.

Trong trường hợp này theo Luật Phá sản, khi một doanh nghiệp mất khả năng chi trả, doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản, vì vậy khả năng này hoàn toàn có thể xẩy ra. Dưới sức ép của ngân hàng, của các chủ nợ khác, doanh nghiệp buộc bị tuyên bố phá sản vì khi đó, họ được trả nợ trước, đó là biện pháp tốt đối với các chủ nợ để thu hồi nợ, nhưng hậu quả của việc phá sản doanh nghiệp là rất lớn. Chủ doanh nghiệp phá sản sẽ khó để có thể làm lại từ đầu khi mà các đối tác biết rằng người ấy là chủ một doanh nghiệp bị phá sản, toàn bộ công nhân viên của doanh nghiệp thất nghiệp, tạo gánh nặng cho gia đình và cho cả xã hội.

Đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nợ xấu là một trong những cản trở trong tiến trình cổ phần hóa các DNNN, làm ảnh hưởng đến quá trình sắp xếp, cải tổ hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của khu vực này, từ đó làm ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nói chung.

Ảnh hưởng đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng

Ảnh hưởng của các khoản nợ xấu đến các TCTD là rất lớn, một tác động lớn đối với TCTD khi có nợ xấu là làm giảm hiệu quả tín dụng và làm tăng chi phí cho TCTD. Tỉ lệ nợ xấu là một trong những con số được đưa vào để tính hàng loạt chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng như: Nợ xấu và tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỉ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu, tỉ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất. Hoạt động tín dụng kém hiệu quả cũng sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Không những thế các chi phí phát sinh do nợ xấu gây ra là rất lớn, nó bao gồm cả chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí quản lí nợ xấu và các chi phí khác liên quan. Những chi phí này làm giảm thiểu đáng kể, thậm chí gây lỗ cho các ngân hàng khi hạch toán kết quả kinh doanh.

Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến tình trạng thua lỗ và giảm lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của TCTD. Tình trạng nợ xấu cao và kéo dài có thể dẫn đến nguy cơ phá sản của TCTD, gây hậu quả không chỉ đối với bản thân TCTD đó mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính – ngân hàng nói riêng.

Xem thêm: Khái niệm nợ xấu

Một tác động khác của nợ xấu không thể không nói đến, đặc biệt là trong tình hình hiện nay là nợ xấu gây cản trở cho quá trình cổ phần hóa của các ngân hàng thương mại. Nợ xấu gây khó khăn trong quá trình định giá giá trị của ngân hàng, một khâu quan trọng để tham gia cổ phần hóa và điều này cũng làm giảm sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Thể chế thị trường đặt ra vấn đề cổ phần hóa các DNNN để có thể thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp cũng như tạo ra một nền kinh tế phát triển vững mạnh, tuy nhiên vấn đề cổ phần hoá hiện đang gặp khó khăn lớn do khâu định giá doanh nghiệp còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Thực tế cho thấy đối với các ngân hàng thương mại, tình trạng nợ xấu quá lớn chưa giải quyết được để loại trừ ra khỏi giá trị doanh nghiệp. Những ngân hàng này nếu không xử lí được khoản nợ khi cổ phần hoá sẽ làm nhà đầu tư e ngại do khi nắm giữ cổ phần. Điều đó cho thấy, nợ xấu là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng, từ đó có thể đánh giá được năng lực tài chính và hiệu quả quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro của các ngân hàng đó.

Nếu các khoản nợ xấu này lớn, tức là khả năng thu hồi các khoản nợ khách hàng của ngân hàng thấp. Do đó, ngân hàng phải dùng vốn để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc “xóa sổ” những khoản thất thoát này, ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Ngân hàng là ngành kinh tế nhạy cảm, phụ thuộc vào lòng tin của khách hàng nên khi thông tin khả năng trả nợ ngân hàng là không chắc chắn, người gửi tiền sẽ đổ xô đi rút tiền làm ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản. Ngoài ra ngân hàng Trung ương của bất kì quốc gia nào cũng đều có nhiệm vụ bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động một cách an toàn và ổn định. Vì nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng dù chỉ ở một ngân hàng và ở một mức độ nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ tới sự an toàn và ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Ảnh hưởng đối với nền kinh tế

Mối quan hệ giữa ngân hàng – khách hàng – nền kinh tế là hết sức chặt chẽ. Theo đó, nợ xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, và ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế bởi khả năng khai thác và đáp ứng vốn, dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh và tồn đọng. Mặt khác nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (SXKD) kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, SXKD đình trệ. Sự phá sản của doanh nghiệp, đặc biệt là hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra một cú sốc lớn đối với cả nền kinh tế. Thất nghiệp, bất ổn về an ninh, mất nguồn thu từ thuế hay thiếu sản phẩm đều là các yếu tố làm giảm GDP, làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước khác. Nợ xấu ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu lại doanh nghiệp, cản trở việc cổ phần hóa, sắp xếp lại các DNNN trong quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam.

Ngoài ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nợ xấu còn gây tác động gián tiếp đến thu ngân sách, làm tăng rủi ro thâm hụt ngân sách Nhà nước và trầm trọng hơn các khoản nợ công.

Tóm lại, nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp, các ngân hàng mà nợ xấu còn ảnh hưởng đến các yếu tố vĩ mô như ngân sách Nhà nước và tăng trưởng nền kinh tế. Nợ xấu là một trong những yếu tố lớn cản trở dòng luân chuyển vốn, tác động đến sự ổn định tài chính và sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Vì vậy, khi nợ xấu đủ lớn gây ách tắc trong hệ thống tài chính và nền kinh tế thì xử lý nợ xấu là yêu cầu cấp bách để trả lại sự chu chuyển bình thường của dòng vốn trong hệ thống tài chính ngân hàng, cũng như tạo ra sự luân chuyển luồng vốn trong hệ thống nền kinh tế, tác động đến tăng trưởng và yếu tố xã hội. Xu thế hội nhập hiện nay cho thấy cần thiết phải nghiên cứu tỉ mỉ và cẩn thận vấn đề xử lý nợ xấu. Vấn đề nợ xấu lớn trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam là một thách thức trên con đường hội nhập. Có xử lí được vấn đề này, năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại mới được cải thiện. Nhất là từ sau năm 2010, các hạn chế, phân biệt giữa ngân hàng trong và ngoài nước bị xoá bỏ, chấm dứt sự bảo hộ ở nhà nước, các Ngân hàng thương mại đã thực sự đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt. Do đó, giải quyết những tồn tại, hạn chế trong hệ thống Ngân hàng thương mại là vô cùng cần thiết, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ xấu cần được quan tâm, chú ý hơn.

Nguyên nhân của nợ xấu

Nguyên nhân của nợ xấu

Các nguyên nhân phát sinh nợ xấu trong nền kinh tế có nhiều nguyên nhân, tuy nhiên từ thực tiễn quốc tế, các nguyên nhân phổ biến dẫn tới tình trạng nợ xấu cao có thể chia thành 4 nhóm nguyên nhân chính:

– Nhóm nguyên nhân khách quan

+ Các yếu tố về kinh tế – chính trị: Các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, sự mở rộng tín dụng, lãi suất thực, lạm phát, cung tiền (M2), tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là những “cú sốc” bên ngoài về kinh tế như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính, nợ công hay các yếu tố chính trị – xã hội như nạn tham nhũng, bất ổn định chính trị là những nhân tố có thể gây nên tình trạng nợ xấu của các ngân hàng hay của doanh nghiệp.

+ Các yếu tố về tự nhiên: Những biến động bất lợi về thời tiết, thiên tai, địch họa gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, cũng làm cho tình trạng nợ xấu tăng do các khách nợ hay doanh nghiệp không có khả năng trả nợ.

– Nhóm nguyên nhân từ phía các tổ chức tín dụng (TCTD)

+ Tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức và tập trung quá nhiều vào một số ngành, đặc biệt là những ngành phi sản xuất như chứng khoán, bất động sản…

+ Chất lượng thẩm định khoản vay yếu kém, giám sát bị buông lỏng. Tại một số nền kinh tế theo đuổi chính sách tự do hóa khu vực tài chính, việc dễ dàng tiếp cận các dòng vốn nước ngoài đã khuyến khích các ngân hàng vay tự do từ nước ngoài trong khi thiếu các biện pháp giám sát hiệu quả khiến tình trạng nợ xấu tăng cao, góp phần dẫn đến khủng hoảng tiền tệ.

+ Quản lý ngân hàng và quản trị rủi ro yếu kém. Trong đó, có thể kể đến các nguyên nhân như trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng, nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng, cơ chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro không hợp lý, đặc biệt là khâu định hướng khách hàng mục tiêu, công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ bị buông lỏng cũng ảnh hưởng đến nợ xấu phát sinh.

Trong các nguyên nhân nêu trên, tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức và hạn chế trong công tác thẩm định, giám sát các khoản vay được coi là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Tình trạng này cộng hưởng với tác động từ các “cú sốc” bên ngoài rất có thể dẫn tới những trục trặc của hệ thống ngân hàng, hoặc thậm chí là nguy cơ đổ vỡ hàng loạt.

Nguyên nhân của nợ xấu

Nguyên nhân của nợ xấu

– Nhóm nguyên nhân từ phía doanh nghiệp

+ Phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay: Có doanh nghiệp tỷ lệ vay lên đến 80 – 90% tổng tài sản dẫn đến khi lãi suất cho vay biến động tăng ngoài dự kiến, kinh doanh thua lỗ, không đủ trả lãi vay và vốn vay, dẫn đến tình trạng không trả được nợ ngân hàng.

+ Đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm dẫn đến phân tán nguồn lực đặc biệt là vốn dẫn đến thiếu hụt vốn, sản xuất ngưng trệ dẫn đến phá sản, làm tăng nợ xấu của các ngân hàng.

+ Năng lực quản trị doanh nghiệp yếu kém: Thiếu phương án kinh doanh khả thi, khả năng lập kế hoạch và dự báo kém, thiếu công khai, minh bạch, quản lý nội bộ yếu kém, sử dụng vốn không đúng mục đích.

– Nhóm nguyên nhân từ tài sản bảo đảm

+ Tài sản bảo đảm bị giảm giá trị quá nhanh trong một thời gian ngắn như bất

động sản (BĐS), hàng tồn kho một số khu vực và một số loại hàng hóa.

+ Vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản thế chấp, dẫn đến khó khăn cho các chủ nợ do thời gian xử lý kéo dài,…

Nguyên nhân của nợ xấu