092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Quá trình hình thành và phát triển các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập

Quá trình hình thành và phát triển các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập

Trung tâm đại học dân lập Thăng Long tại Hà Nội được thành lập năm 1988, tiền thân của Đại học Thăng Long ngày nay, cũng là cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập đầu tiên ở nước ta. Với sự thành công của 5 năm thí điểm, trên cơ sở Trung tâm ĐHDL Thăng Long, vào tháng 8-1994, Trường ĐHDL Thăng Long chính thức được thành lập. Đây chính là trường cao đẳng và đại học ngoài công lập đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, thể hiện tư tưởng đổi mới của Đảng ta trong lĩnh vực GD&ĐT. Lịch sử phát triển các trường NCL tại Việt Nam có thể chia làm hai giai đoạn chủ yếu như sau.

Giai đoạn 1: Từ năm 1995-2000 là giai đoạn đầu của sự bùng nổ các trường dân lập, điển hình là các trường ĐHDL Đông Đô, ĐHDL Phương Đông, ĐHDL Thăng Long, ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, ĐHDL Hải Phòng, ĐHDL Hùng Vương, ĐHDL Văn Lang. Các trường trong giai đoạn này chủ yếu là do các nhà giáo có uy tín, những người từng lãnh đạo các trường ĐH công lập thành lập. Sự xuất hiện của các trường này đã đem lại một sinh khí mới cho môi trường giáo dục ĐH lúc đó, nhưng việc phát triển quá nóng và yếu kém trong quản trị đã dẫn tới không đảm bảo chất lượng.

Giai đoạn 2: Từ năm 2001-2015 được đánh dấu bởi sự công nhận các trường ĐH tư thục. Trong giai đoạn bùng nổ 2005-2009, số trường đã tăng từ 35 lên 77 và hiện nay là 90 trường, tức là gấp đôi chỉ trong 05 năm. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự có mặt của trường ĐH quốc tế và các nhà đầu tư từ các doanh nghiệp như các trường ĐH RMIT, ĐH FPT, ĐH Tân Tạo…

Những trường ĐH mang dấu ấn doanh nghiệp này đã đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở vật chất và quản trị, nhưng không phải trường nào cũng thành công. Các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập thành công là các trường thể hiện được sự khác biệt của mình với cả các trường công lập và NCL khác, những khác biệt này đáp ứng đúng nhu cầu cấp thiết của xã hội mà các trường công lập kém năng động không đáp ứng được. Một trong những yếu tố giúp các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập thành công là nhờ quản trị chuyên nghiệp. Thể hiện của việc quản trị tốt là việc có một hệ thống tài chính lành mạnh. Một điều nữa giúp những trường cao đẳng và đại học ngoài công lập thành công chính là các trường này đã xây dựng được môi trường sư phạm lành mạnh. Nhiều trường NCL đã nêu cao tính “thực học – thực nghiệp” hay “học thật”… nhờ đó làm tăng uy tín của nhà trường đối với sinh viên, phụ huynh và xã hội.

Xem thêm: Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ảnh hưởng đến phát triển các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập ở Việt Nam

Tuy nhiên, các trường như vậy không nhiều, phần lớn các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập vẫn đang phải vật lộn với các bài toán ngắn hạn trước mắt. Những chính sách vĩ mô không ổn định, đánh giá sai lầm về đầu tư giáo dục vì lợi nhuận đã khiến các nhà đầu tư cảm thấy bất ổn và suy nghĩ ngắn hạn. Nhược điểm chính của các trường ĐH công lập hiện nay là thiếu động lực để đổi mới, trong lúc nhược điểm chính của các trường NCL là tầm nhìn ngắn hạn. Nếu khắc phục được, thì chính các trường NCL là nơi có động lực mạnh mẽ nhất để cải thiện chất lượng dạy và học- yếu tố quyết định chất lượng NNL của nước ta hiện nay.

Về số lượng các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập

Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xã hội hóa giáo dục đạt được những kết quả bước đầu… Cùng với các trường công lập, các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập đã và đang thể hiện được vai trò, chức năng của mình trong việc nâng cao chất lượng NNL nước ta. Hệ thống các trường ĐH và CĐ không ngừng phát triển. Từ một trung tâm thí điểm là Trung tâm ĐH dân lập Thăng Long năm 1988, thì đến năm học 2014- 2015 cả nước có 90 trường cao đẳng và đại học ngoài công lập, trong đó bao gồm 61 trường ĐH và 29 trường CĐ.

Bảng 3.1. Số liệu về các trường ĐH và CĐ Việt Nam giai đoạn 2004-2015

Năm học Cả nước Công lập Ngoài công lập
Tổng số Đại học Cao đẳng Tổng số Đại học Cao đẳng Tổng số Đại học Cao đẳng
2004 – 2005 230 93 137 201 71 130 29 22 7
2005 -2006 255 104 151 221 79 142 34 25 9
2006 -2007 322 139 183 275 109 166 47 30 17
2007 – 2008 369 163 206 282 100 182 87 63 24
2008 – 2009 393 170 223 295 101 194 98 69 29
2009 -2010 403 176 227 300 103 197 103 73 30
2010 – 2011 414 191 223 306 113 193 108 78 30
2011 – 2012 419 195 224 337 125 212 82 66 12
2012 – 2013 424 198 226 343 134 209 81 64 17
2013-2014 415 195 238 344 135 226 89 61 28
2014-2015 423 198 226 344 135 226 90 61 29

Nguồn: [3][4]

Theo Hiệp hội các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập, năm 2014 cả nước có 90 trường NCL (gồm 61 trường ĐH và 29 trường CĐ), chiếm khoảng 22,2% tổng số các trường ĐH – CĐ trên toàn quốc. Quy mô đào tạo của các cơ sở giáo dục ĐH, CĐ NCL ngày càng tăng, góp phần không nhỏ vào việc tăng tỷ lệ sinh viên. Hiện nay, số lượng sinh viên ĐH – CĐ chính quy của các cơ sở giáo dục ĐH NCL là 314.054 sinh viên, chiếm khoảng 14,4% tổng số sinh viên cả nước.

Sự hình thành và phát triển của các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập, đã góp phần quan trọng cho sự phát triển về cơ sở vật chất của nền giáo dục ĐH và CĐ cả nước. Đa số các trường NCL chủ yếu được thành lập theo phương thức xây dựng mới hoàn toàn cả về cơ sở vật chất lẫn đội ngũ cán bộ, giảng viên. Nhiều trường đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy hiện đại, chú trọng đầu tư chương trình, tăng cường hợp tác quốc tế để triển khai hiệu quả nhiều chương trình đào tạo tiên tiến. Đến nay có khoảng 30 trường đã xây dựng được trụ sở khang trang, đã đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Bên cạnh việc đầu tư khá lớn về vật chất, các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập đã huy động được đông đảo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học có trình độ cao tham gia sự nghiệp đào tạo NNL có trình độ cho đất nước.

 Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập đã huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục ĐH và CĐ.

 Trong điều kiện đất nước còn khó khăn, ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục hạn chế, mô hình giáo dục ĐH NCL đã phát huy có hiệu quả tiềm năng của xã hội, huy động được nguồn lực đầu tư lớn từ nhiều thành phần và các nhà đầu tư khác nhau. Hệ thống các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập đã chia sẻ gánh nặng với ngân sách nhà nước trong việc đầu tư phát triển giáo dục đào tạo; tạo điều kiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu được tiếp cận giáo dục ĐH của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao năng lực đào tạo của giáo dục ĐH và phát triển NNL có trình độ cho đất nước. Tổng số vốn điều lệ đăng ký thành lập các trường này năm 2009 là 1.555 tỷ đồng. Năm 2008 tổng thu học phí từ các trường NCL là 1.850 tỷ đồng. Tổng số tiền đã huy động được trong đạt gần 30 ngàn tỉ đồng, gấp 6 lần tổng số tiền phát hành trái phiếu giáo dục lần đầu [4]. Có thể xem đấy là khoản tài chính mà các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập đã gánh cho ngân sách nhà nước.

Sự phát triển mạng lưới của các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập đã góp phần giải quyết tình trạng phân bố không đồng đều về giáo dục ĐH và CĐ tại các vùng miền. Đến nay, đã có 40/63 tỉnh, thành phố có trường ĐH (đạt tỷ lệ 63%); có 60/63 tỉnh, thành có trường CĐ (đạt tỷ lệ 95%) và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất 1 trường CĐ hoặc ĐH (đạt tỷ lệ 98%, trừ tỉnh Đắk Nông chưa có trường ĐH, CĐ nào).

Từ sự phát triển của hệ thống các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập trên đây, chúng ta có thể khẳng định, công tác xã hội hoá giáo dục nước ta ngày càng được đẩy mạnh, nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục được huy động ngày càng nhiều. Sự phân bố các cơ sở giáo dục ĐH đã dần rộng khắp trên phạm vi cả nước. Điều này là hết sức quan trọng trong việc đào tạo NNL tại chỗ có chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng địa phương và cả nước.

Về quy mô đào tạo của các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập

Cùng với sự phát triển về quy mô cũng như mạng lưới các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập là số lượng học sinh đăng ký và nhập học vào khối các trường NCL tăng nhanh.

Về giáo dục ĐH, niên khóa 2000 – 2001 khối các trường ĐH NCL có số lượng sinh viên là 89.464 người, đến năm học 2006 – 2007 số lượng học sinh viên trong khối các trường ĐH NCL là 157170 người, năm học 2010 – 2011 là 189531 người và năm học 2011-2012 là 228.667 người (Bảng 3.2). So với các con số tương ứng của khối ĐH công lập, ta thấy, tỷ lệ của khối ĐH NCL chỉ khoảng 12,1% – 15.5% trong khoảng thời gian từ năm 2001-2012. Trong đó, tỷ trọng cao nhất là 15.5% vào năm học 2006-2007 [3].

Về giáo dục CĐ, niên khóa 2000 – 2001 khối các trường NCL có số lượng sinh viên là 14,801 người chỉ bằng 8,6% so với khối công lập, đến năm học 2006 – 2007 số lượng học sinh viên trong khối các trường CĐ NCL là 36,301 người và chỉ bằng 11,0% so với khối công lập, năm học 2010 – 2011 các chỉ số tương ứng là 144,390 người và bằng 24.8% so với khối công lập, năm học 2011-2012 với tổng số là 160, 425 người nhưng chỉ chiếm 24,5% so với khối công lập [3] [4].

Bảng 3.2. Số sinh viên ĐH CĐ qua một số năm

ĐVT: Người; %

Năm học 2000-2001 2006-2007 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012
Tổng số 918.228 1.540.201 1.603.484 1.719.499 1.935.739 2.162.106 2.179.243
Đại học 731.505 1.173.147 1.180.547 1.242.778 1.358.861 1.435.887 1.524.447
Công lập 642.041 1.015.977 1.037.115 1.091.426 1.185.253 1.246.356 1.295.780
NCL 89.464 157.170 143.432 151,.352 173.608 189.531 228.667
Tỷ lệ NCL/CL (%) 13,9 15,5 13,8 13,9 14,6 15,2 15,0
Cao đẳng 186.723 367.054 422.937 476.721 576.878 726.219 654.796
Công lập 171.922 330.753 377.531 409.884 471.113 581.829 494.371
NCL 14.801 36.301 45.406 66.837 105.765 144.390 160.425
Tỷ lệ NCL/CL (%) 8,6 11,0 12,0 16,3 22,5 24,8 24,5

Nguồn: [3]

Như vậy, khác với giáo dục ĐH, tỷ lệ giữa giáo dục CĐ NCL so với khối công lập tăng nhanh hơn rất nhiều. Điều đó chứng tỏ, khối các trường NCL có vai trò rất lớn đối với giáo dục CĐ. Chúng ta cần lưu ý rằng trong giáo dục CĐ bao gồm cả CĐ nghề, một loại hình giáo dục nghề nghiệp rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây chính là một trong những mục tiêu quan trong đối với việc nâng cao chất lượng NNL của nước ta hiện nay.

Xem thêm : Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Hiện khối trường NCL đang đào tạo 1.143 ngành với 522 ngành đào tạo trình độ CĐ, 582 ngành trình độ ĐH, 36 ngành đào tạo trình độ thạc sỹ và 3 chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sỹ.

Cùng với quy mô trường thì số sinh viên của hệ này cũng tăng mạnh. Theo số liệu của Bộ GD&ĐT tại “Hội nghị Tổng kết 20 năm phát triển các trường ĐH, CĐ NCL”, do Bộ GD&ĐT tổ chức ngày 14/3/2014 tại Hà Nội, thì tỷ lệ tăng sinh viên bình quân hàng năm của các trường ĐH, CĐ NCL trong giai đoạn 2000 – 2010 là 12,39%, cao hơn tỷ lệ tương ứng của các trường ĐH công lập (là 9,05%). Hiện số sinh viên ĐH, CĐ chính quy của các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập là trên 314.000 sinh viên, chiếm tỷ lệ 14% số sinh viên của cả nước [4].

Việc gia tăng quy mô đào tạo đã góp phần giảm thiểu sự chênh lệch về tỷ lệ sinh viên trên dân số nước ta so với các nước trên thế giới và khu vực. Năm 2005, tỷ lệ sinh viên vào ĐH ở nước ta là 16%, trong khi con số này ở Trung Quốc là 17%, Indonesia 19%, Thái Lan 43%. Hiện nay, nhờ quy mô đào tạo ĐH, CĐ tăng dần qua các năm, tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân cũng tăng, năm 1997 là 80 sinh viên/1 vạn dân, năm 2006 là 166,5 sinh viên/1 vạn dân, năm 2009 là 195 sinh viên/1 vạn dân, đến năm 2010 có thể đạt 200 sinh viên/1 vạn dân theo đúng định hướng Nghị quyết số 14 của Chính phủ và Quyết định số 121 của Thủ tướng Chính phủ. Nếu so với các nước, thì tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân của Việt Nam còn rất thấp: năm 2005 Thái Lan có 374 sinh viên/1vạn dân; Chi Lê có 407 sinh viên/1 vạn dân, Nhật Bản có 316 sinh viên/1 vạn dân, Pháp có 359 sinh viên/1 vạn dân, Anh có 380 sinh viên/1 vạn dân, Úc có 504 sinh viên/1 vạn dân, Mỹ có 576 sinh viên/1 vạn dân và Hàn Quốc có 674 sinh viên/1 vạn dân [3].

Như vậy, việc hình thành và phát triển các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập trong thời gian qua đã góp phần nâng cao năng lực giáo dục ĐH, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội và và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giáo dục ĐH ở Việt Nam.

Các trường đã tạo công việc cho hàng nghìn cán bộ và giảng viên, huy động được nguồn lực to lớn của xã hội để hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, sự ra đời của các trường ĐH, CĐ NCL cũng đã có tác động mạnh mẽ đến hệ thống các trường công lập trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.

Quá trình hình thành và phát triển các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập

Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học ở Hoa Kỳ

Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học ở Hoa Kỳ

Ở Hoa Kỳ, mỗi bang tự tổ chức lấy các trường học, gọi là trường công (public schools) còn lại gọi là trường tư (tương tự như trường NCL ở Việt Nam). Trường tư do tư nhân vận hành, không bị quản lý bởi các cơ quan Nhà nước nhưng thông thường chất lượng dịch vụ giáo dục ở các trường này đều được duy trì ở mức bằng hoặc tốt hơn hệ thống trường công.

Ban đầu, việc hình thành các trường học tư nhân ở Mỹ là vấn đề được tranh cãi. Tuy nhiên, nhờ lựa chọn các mô hình phát triển đúng đắn nên các trường tư luôn đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định do Nhà nước đặt ra. Trường tư ở Mỹ thường có học phí cao nhưng đổi lại chất lượng giáo dục cũng rất cao.

 Ở Mỹ, các cơ sở giáo dục được thành lập không có nghĩa là đạt kiểm định. Việc được cấp phép hoạt động có nghĩa là các trường đáp ứng đủ các yêu cầu về thành lập trường theo quy định của từng bang đối với các tiêu chí như cơ sở vật chất, tiền ký quỹ, thuế… Còn việc kiểm định lại liên quan đến chất lượng các chương trình đào tạo. Mỹ có 2 tổ chức kiểm định là Bộ Giáo dục liên bang (USDE) và (CHEA) là cơ quan độc lập được các trường và các tổ chức kiểm định thừa nhận. Tuy nhiên, hai cơ quan trên không trực tiếp kiểm định các trường, mà các trường yêu cầu được trực tiếp kiểm định, vì rằng nếu kết quả kiểm định tốt, nghĩa là chất lượng giáo dục của trường được đảm bảo, thì trường có thể tiếp cận với ngân sách chính phủ (hỗ trợ tài chính và dự án nghiên cứu).

– Chất lượng giáo dục ĐH ở Mỹ chịu ảnh hưởng của thị trường lao động nhiều hơn là việc kiểm định của nhà nước. Nền ĐH của Mỹ chịu nhiều ảnh hưởng của các trường ĐH Anh về các ngành học nhân văn và của các trường ĐH Đức về việc nghiên cứu, đào tạo sau ĐH và đào tạo chuyên ngành. Tuy nhiên, qua nghiên cứu có thể rút ra những nét nổi bật sau đây:

Một là, hệ thống giáo dục ĐH và sau ĐH của Mỹ mang tính cạnh tranh rất cao.

Tuy tư tưởng về giáo dục là mang tính đại chúng, hay cho tất cả mọi người, trong hệ thống giáo dục ĐH và đặc biệt là các trường đào tạo sau ĐH có một hệ thống chọn lọc cao và hết sức cạnh tranh. Mỗi trường đều có những quy định về tiêu chuẩn tiếp nhận sinh viên riêng, nên các trường ĐH tốt nhất cũng là những trường sinh viên khó được tiếp nhận vào học nhất. Năm 1991, trường ĐH California chỉ tiếp nhận 40% tổng số những người xin học có đủ tiêu chuẩn, đối với trường Harvard con số này chỉ là 17,2%. Điều này rõ ràng khác hẳn với các trường ĐH nói chung và ĐH NCL nói riêng ở nước ta.

Hai là, việc tổ chức kiểm soát giáo dục rất linh hoạt và hiệu quả.

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không có một hệ thống giáo dục toàn quốc, Hiến pháp không quy định trách nhiệm giáo dục của chính phủ liên bang nên tất cả các vấn đề giáo dục đều thuộc về từng bang. Cho dù có một Bộ Giáo dục của liên bang nhưng chỉ có các chức năng: thu thập thông tin, cố vấn và giúp đỡ tài chính cho các chương trình giáo dục nhất định.

Hiến pháp từng bang lại cho phép các cộng đồng địa phương kiểm soát thực sự về mặt hành chính đối với các trường công. Ban giám hiệu các trường này gồm các công dân được bầu lên từ cộng đồng dân cư và chính họ, chứ không phải là bang, đề ra chính sách phát triển của trường bao gồm cả việc sẽ dạy những nội dung gì.

Xem thêm: Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học ở Anh

 Việc kiểm định chất lượng được thông qua các công trình nghiên cứu đánh giá. Hàng năm, có hàng trăm công trình nghiên cứu kiểm tra khắt khe các trường học trên toàn quốc được công bố. Ở mỗi trường lại có các khoa nghiên cứu và đánh giá về giáo dục. Trong những giai đoạn nhất định việc kiểm tra đánh giá này lại có phần khắt khe hơn. Những cuộc tranh luận của công chúng về chất lượng, nội dung và các mục tiêu giáo dục luôn diễn ra công khai trên toàn nước Mỹ.

Ba là, giáo dục Mỹ đề ra các mục tiêu rất cụ thể.

Mục tiêu lớn nhất của giáo dục Mỹ là “làm cho bản thân trở nên tốt hơn”, hay “vươn lên trên thế giới này”. Hàng triệu người nhập cư tới Mỹ thường gắn liền những hy vọng của họ mong muốn có được một cuộc sống tốt đẹp hơn với một nền giáo dục tốt cho chính bản thân họ và quan trọng nhất cho con cái họ. Cho dù mục tiêu cuối cùng là tiền tài, danh vọng, quyền lực hay chỉ đơn giản là kiến thức… thì bước khởi đầu thường từ ngưỡng cửa của trường ĐH.

Bốn là, chú trọng việc đánh giá chất lượng giảng dạy và đề cao trách nhiệm của giảng viên.

Cuối học kỳ, trước kỳ thi hết môn, mỗi sinh viên được phát một mẫu “đánh giá giảng dạy”. Sinh viên được nhận xét về những điều bổ ích hay chưa bổ ích của môn học, ưu điểm và nhược điểm của môn học, ưu điểm và nhược điểm của người giảng dạy, các giáo sư không được can thiệp vào đánh giá này. Đây là một hình thức xả “stress” mà các ĐH Mỹ dành cho sinh viên. Trong một chừng mực nhất định, dựa trên những đánh giá của sinh viên, các trường có thể thay đổi một phần nội dung môn học, khiến cho nó dễ được thu nhận hơn. Một số ĐH thông báo lại cho giáo sư bản tổng hợp những đánh giá của sinh viên đối với bài giảng của giáo sư này.

Xem thêm: Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Việc đề cao trách nhiệm của giảng viên được xác định như sau:

– Mọi giảng viên đều có quyền tham gia quá trình đào tạo ban đầu và các hoạt động đào tạo liên tục nhằm phát triển chuyên môn, qua đó giảng viên sẽ được cung cấp kiến thức và các kỹ năng cần thiết.

– Mọi tiểu bang và cấp quận huyện phải đề ra các chiến lược thích hợp nhằm thu hút, tuyển chọn, chuẩn bị, tái đào tạo và hỗ trợ việc phát triển chuyên môn cho các giảng viên, để hình thành một NNL gồm những nhà giáo chuyên nghiệp, tài giỏi để có thể giảng dạy những nội dung mới.

Năm 1997, lần đầu tiên Sở Giáo dục Alaska đã công bố tám tiêu chuẩn cụ thể dành cho giảng viên và những ai công tác trong ngành giáo dục để nâng cao chất lượng giảng dạy, bao gồm:

(1) Người thầy phải mô tả được triết lý giáo dục của nhà sư phạm và nhấn mạnh được sự liên quan của triết lý đó với tác vụ dạy học của mình.

(2) Người thầy phải thông hiểu cách thức mà qua đó học sinh học hỏi và phát triển, cũng như áp dụng những điều này trong tác vụ dạy học của mình.

(3) Người thầy phải dạy cho học sinh biết cách tôn trọng các đặc tính cá nhân và văn hóa của riêng họ.

(4) Người thầy phải nắm rõ lĩnh vực nội dung dạy học của mình cũng như các phương pháp để giảng dạy nội dung này.

(5) Người thầy phải tạo cơ hội, giám sát và đánh giá quá trình học của học sinh.

(6) Người thầy phải kiến tạo và duy trì một môi trường học tập mà trong đó tất cả học sinh và nguồn lực xã hội tham gia đóng góp tích cực.

(7) Người thầy phải thực hiện tác vụ của mình với tư cách một người cộng tác với cha mẹ, gia đình và cộng đồng.

(8) Người thầy phải tham gia đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của nhà trường, địa phương, đất nước.

Năm là, chú trọng công tác kiểm định giáo dục.

Nét nổi bật trong chiến lược phát triển giáo dục ở Mỹ chính là việc họ rất chú trọng đến công tác kiểm định chất lượng giáo dục ĐH và sau ĐH. Ở Mỹ, có sự phân biệt rất rõ ràng giữa các trường được kiểm định (accredited universities) và các lò sản xuất bằng cấp (degree/diploma mills). Trên các trang web đều có thông báo về các dấu hiệu nhận biết về các lò sản xuất bằng cấp, thậm chí có cả danh sách các trường bị đưa ra tòa do vi phạm luật (như không đảm bảo các yêu cầu theo quy định, lừa đảo, hay không thông báo công khai cho mọi người biết về việc không được kiểm định).

Được kiểm định dưới mắt công chúng có nghĩa là chất lượng được đảm bảo, sinh viên trong các trường được kiểm định có thể chuyển đổi lẫn nhau, và tạo được niềm tin đối với các nhà tuyển dụng. Sinh viên từ các trường không được kiểm định sẽ không có lợi thế khi tìm việc.

Sắp tới các tổ chức kiểm định Mỹ sẽ tập trung vào việc nâng cao ý thức của công chúng về các lò sản xuất bằng cấp, siết chặt các quy định kể cả việc thông qua cơ quan lập pháp để trở thành luật, và tăng cường việc hợp tác với các nước để nhằm hạn chế các tác hại phát sinh từ các lò bằng cấp này.

Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học ở Hoa Kỳ

Các tiêu chí về phát triển sản phẩm du lịch

Các tiêu chí về phát triển sản phẩm du lịch

Sự phát triển các sản phẩm du lịch có thể nhận biết thông qua các tiêu chí như: tính đa dạng của sản phẩm, giá cả sản phẩm,

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội. Sự phát triển của du lịch và sản phẩm du lịch phụ thuộc nhiều và các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… của đất nước cũng như của khu vực và thế giới. Chính vì vậy, để có thể đánh giá kết quả phát triển sản phẩm du lịch một cách chính xác phải dựa vào các tiêu chí cơ bản sau:

* Tiêu chí về kinh tế

– Tăng trưởng kinh tế cho địa phương: Doanh thu trực tiếp và gián tiếp từ du lịch; Tỉ lệ giữa doanh thu khách nội địa và doanh thu khách quốc tế.

– Kinh doanh du lịch:

+ Lượng du khách đến với địa phương hàng năm.

+ Quốc tịch của du khách và thời gian lưu trú tại địa phương.

+ Đánh giácủa du khách về chất lượng, dịch vụ sản phẩm du lịch và giá cả/giá trị: bao gồm giá cả và mức độhấp dẫn của sản phẩm du lịch.

– Giải quyết việc làm: Số lượng việc làm trực tiếp và gián tiếp do du lịch tạo ra; tỷ lệ người địa phương so với người ngoài địa phương tham gia vào sản phẩm du lịch.

* Tiêu chí về văn hóa – xã hội :

Bảo tồn các nét văn hóa vật thể và phi vật thể:

+ Các nét văn hóa mới tốt và xấu du nhập vào cộng đồng theo thời gian.

+ Số lượng tổ chức các hoạt động sản phẩm văn hóa địa phương trong năm.

+ Công tác bảo tồn di tích, nét văn hóa truyền thống.

* Tiêu chí về môi trường:

Thay đổi về tỷ lệ che phủ rừng của địaphương trước và sau khi áp dụng sản phẩm du lịch; ngân sách đầu tư vào bảo tồn và tôn tạo các dự án về cải thiện môi trường; thay đổi về lượng rác thải sinh ra; nhận thức của du khách về vấn đề rác thải; chi phí xử lý rác thải của địa phương và các doanh nghiệp.

Các tiêu chí về phát triển sản phẩm du lịch

Khái niệm du lịch

Khái niệm du lịch

Du lịch là gì? Khái niệm về du lịch? Khái niệm du lịch là gì?

Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Nhiều nước đã sử dụngchỉ tiêu đi du lịch của dân cư nhưlà một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau.

Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau.

Theo Guer Freuler thì “Du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”.

Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”. (Về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận).

Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara Edmod đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chi ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.” Theo Luật Du lịch (2005) tại khoản 01, Điều 4 chương I giải thích từ ngữ: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

Theo cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt động du lịch:

– Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của họ ở ngoài nơi cư trú để thoả mãn các nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác.

– Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận.

– Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong việc hành trình và lưu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương.

– Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội mà hoạt động du lịch tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những người ngoài địa phương mình, vừa là cơ hội để tìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn, chốn ở,…

Du lịch có thể được hiểu là:

– Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng.

– Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.

Khái niệm du lịch

Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực du lịch hướng đến chuẩn quốc tế

Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực du lịch hướng đến chuẩn quốc tế

1. Nâng cao nhận thức về yêu cầu hội nhập về nhân lực du lịch

Nhận thức là yếu tố quan trọng hàng đầu, là nền tảng của một hoạt động từ xây dựng chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động phát triển và tổ chức các hoạt động cụ thể hướng đến thực hiện mục tiêu. Mục tiêu đào tạo để có được nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập không phải là ngoại lệ, và để đạt được mục tiêu đó cần có được nhận thức chung của xã hội, đặc biệt là “quan thức” về vấn đề này.

Đào tạo phát triển nguồn nhân lực được xem là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011. Tuy nhiên, nhận thức này cần được đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế về lao động, theo đó cần coi đào tạo nguồn nhân lực du lịch hướng đến chuẩn quốc tế là ưu tiên hàng đầu và được xem là khâu đột phá có nghĩa đặc biệt quan trọng để du lịch Việt Nam có thể hội nhập được đầy đủ với khu vực và quốc tế.

Trong giai đoạn trước mắt cần ưu tiên xây dựng và thực hiện chuẩn hóa một bước nhân lực du lịch từ quản lý du lịch (nhà nước và doanh nghiệp) đến các vị trí nghiệp vụ du lịch phù hợp với các hệ thống tiêu chuẩn khu vực và quốc tế về lao động.

2. Tổ chức hệ thống đào tạo du lịch phù hợp với yêu cầu hội nhập

Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan xem xét, đánh giá toàn diện về hệ thống cơ sở đào tạo du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển ngành, có tham khảo hệ thống đào tạo ở các nước có du lịch phát triển để đảm bảo cơ cấu đào tạo du lịch ở các cấp là hợp lý, phù hợp với các chuẩn mực chung của khu vực và quốc tế. Đặc biệt cần sớm xây dựng và thực hiện đề án thành lập Học viện Du lịch hoặc Đại học Du lịch ở Việt Nam đạt chuẩn quốc tế. Đây sẽ là cơ sở đào tạo đội ngũ lao động du lịch trình độ cao, có khả năng đảm nhận vai trò nòng cốt trong hội nhập quốc tế của du lịch Việt Nam.

Đối với việc phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên du lịch cần đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng để đáp ứng nhu cầu đào tạo, tăng quy mô và nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành du lịch. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và giáo viên của các cơ sở đào tạo  Brexit và cộng đồng kinh tế ASEAN dưới góc nhìn hội nhập nghề du lịch có thể thực hiện bằng nhiều hình thức, đặc biệt là tham quan, học tập nâng cao trình độ giảng dạy ở ngoài nước. Chú trọng nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ và phương pháp giảng dạy để giảng viên, giáo viên và đào tạo viên du lịch đủ khả năng giảng dạy, tự nghiên cứu, trao đổi chuyên môn trực tiếp với chuyên gia nước ngoài, tham gia hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế và học tập, tu nghiệp ở nước ngoài.

Có chính sách khuyến khích mời các chuyên gia quốc tế về du lịch, các giảng viên có kinh nghiệm ở các cơ sở đào tạo du lịch ở các nước có ngành du lịch phát triển sang Việt Nam tham gia giảng dạy, đặc biệt với những môn mới hoặc những môn mà Việt Nam còn ít các giảng viên, chuyên gia có trình độ cao. Bên cạnh đó cũng cần có cơ chế để thu hút sự tham gia tích cực của nhà quản lý, các nhà khoa học có trình độ, các doanh nhân có kinh nghiệm, các nghệ nhân, chuyên gia, kỹ thuật viên có kỹ năng nghề cao vào hoạt động đào tạo để nâng cao tính thực tiễn của các chương trình đào tạo du lịch.

Để đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, cần tiếp tục đào tạo kỹ năng cho đội ngũ thẩm định viên, giám sát viên, đào tạo viên du lịch đạt trình độ khu vực và quốc tế và sử dụng hiệu quả đội ngũ này trong đào tạo du lịch. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo mở mã ngành và đẩy mạnh đào tạo sau đại học về du lịch. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi chương trình khung đào tạo chuyên ngành du lịch bậc trung học chuyên nghiệp; xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chương trình khung đào tạo du lịch bậc cao đẳng và đại học, chương trình đào tạo du lịch liên thông các bậc đào tạo thống nhất cả nước. Phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức xây dựng các chương trình khung đào tạo du lịch trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề.

Việc xây dựng các khung chương trình đào tạo trên cần được tính đến yếu tố hội nhập để đảm bảo các chương trình khung đào tạo phù hợp với chuẩn mực đào tạo khu vực và quốc tế. Theo đó cần tham khảo, học tập kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình, giáo trình môn học, mô đun. Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo du lịch các cấp đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá; tiếp cận dần yêu cầu năng lực làm việc trong các lĩnh vực của ngành, trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới, mang nét đặc trưng của Việt Nam, đảm bảo liên thông giữa các bậc đào tạo.

Chuyển đổi mạnh sang đào tạo theo mô đun, tín chỉ để tạo điều kiện cho nhân lực ngành du lịch có thể học suốt đời để nâng cao trình độ nghề nghiệp hoặc thay đổi nghề nghiệp khi cần thiết.

Trong quá trình xây dựng các khung hoặc chương trình đào tạo ở các cấp cần mời các chuyên gia, các giảng viên quốc tế có kinh nghiệm cùng tham gia thực hiện.

3. Đẩy mạnh liên kết đào tạo du lịch

Để nâng cao tính mở cũng như chất lượng đào tạo du lịch, cần có cơ chế khuyến khích hoạt động liên kết đào tạo liên thông và liên kết đào tạo, trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ sở đào tạo du lịch trong nước với các cơ sở đào tạo du lịch có uy tín ở nước ngoài.

Đây là phương thức quan trọng để nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo trong nước hướng tới tiệm cận các chuẩn quốc tế về đào tạo.

Chú trọng tạo cơ chế và khuyến khích phát triển mô hình liên kết giữa các cơ sở đào tạo du lịch với các doanh nghiệp du lịch, đặc biệt các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài hoặc các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có uy tín, thương hiệu. Mô hình liên kết này đặc biệt có ý nghĩa đối với các bậc đào tạo trung cấp nghề du lịch bởi các sinh viên sẽ có cơ hội thực tập trong môi trường dịch vụ du lịch đẳng cấp quốc tế.

4. Tăng cường vai trò của Hiệp hội Du lịch trong hoạt động đào tạo

Hiệp hội Du lịch là tổ chức đại diện của doanh nghiệp du lịch, vì vậy Hiệp hội Du lịch có vai trò “cầu nối” đặc biệt quan trọng giữa hoạt động kinh doanh du lịch với hoạt động đào tạo du lịch. Nói một cách khác Hiệp hội Du lịch phải là nơi cung cấp thông tin cho các cơ sở đào tạo du lịch về nhu cầu lao động ở các trình độ và kỹ năng nghề khác nhau phù hợp với yêu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập. Căn cứ nhu cầu nhân lực du lịch qua từng thời kỳ, khung chương trình đào tạo du lịch các cấp sẽ có sự điều chỉnh phù hợp để đảm bảo sự cân bằng “Cung – Cầu” giữa nguồn nhân lực được đào tạo với nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp du lịch.

Hiệp hội Du lịch cũng sẽ tham gia tích cực vào việc xây dựng khung các chương trình đào tạo cũng như quá trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ lao động du lịch, phù hợp với các chuẩn mực khu vực và quốc tế.

Với vai trò của mình, Hiệp hội Du lịch cũng sẽ là cầu nối giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp du lịch để tổ chức các hoạt động thực tập trong khuôn khổ các chương trình đào tạo theo các chuẩn mực quốc tế đã được thiết lập.

Việc thực hiện đồng bộ một số giải pháp quan trọng trên sẽ góp phần tích cực tăng cường hoạt động đào tạo nhân lực du lịch hướng đến các chuẩn mực khu vực và quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập của du lịch Việt Nam

Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực du lịch hướng đến chuẩn quốc tế

Khái niệm phát triển du lịch bền vững

Khái niệm phát triển du lịch bền vững

“Phát triển bền vững” là một khái niệm rất mới, nó phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của nhân loại. Các tổ chức nghiên cứu kinh tế, môi trường khác nhau cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững. Năm 1987, Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển đã công bố báo cáo: Tương lai chung của chúng ta. Báo cáo này đã đề cập và phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển. Trong đó “phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của những thế hệ tương lai”.

Như vậy, phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Tiêu chí căn bản để đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Quan điểm này được tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Phát triển nhanh đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn. Tăng trưởng về số lượng phải đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế … Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người. Thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội… Phải rất coi trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”,

Khái niệm phát triển du lịch bền vững

Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Sản phẩm du lịch đặc thù là những sản phẩm có được yếu tố hấp dẫn, độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) cho một lãnh thổ/điểm đến du lịch; với những dịch vụ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu/mong đợi của du khách mà còn tạo được ấn tượng bởi tính độc đáo và sáng tạo.

Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 đã xác định “Phát triển du lịch bền vững, theo định hướng du lịch sinh thái và du lịch văn hóa – lịch sử, đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, góp phần tích cực trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới”

Như vậy việc phát triển sản phẩm du lịch đặc thù đã được đặt ra như một nội dung chiến lược quan trọng của Du lịch Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập của Du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế.

Căn cứ đặc điểm tài nguyên du lịch – yếu tố quan trọng quyết định đối với phát triển sản phẩm du lịch – và các điều kiện có liên quan, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đã xác định định hướng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù cho từng vùng du lịch

– Vùng du lịch Bắc bộ: sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịch văn hóa trên nền văn minh lúa nước, du lịch sinh thái kết hợp với tham quan, nghiên cứu và nghỉ dưỡng.

– Vùng du lịch Bắc Trung bộ: sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịch thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển, tham quan các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng, đặc biệt là các di sản văn hóa thế giới, du lịch hang động và du lịch quá cảnh qua hành lang Đông Tây

– Vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ: các sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịch tham quan, nghỉ dưỡng biển và núi, du lịch sông nước, du lịch sinh thái đồng bằng sông Cửu Long

Mặc dù đã có được định hướng cho hoạt động phát triển sản phẩm du lịch đặc thù theo vùng miền nhằm góp phần nâng cao tính cạnh tranh của Du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập với khu vực và quốc tế, tuy nhiên trong thực tế việc phát triển các sản phẩm du lịch ở Việt Nam thời gian qua có những đặc điểm cơ bản sau:

– Phát triển sản phẩm mà thiếu những nghiên cứu cần thiết nhằm xác định cụ thể “tính hấp dẫn, độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện” của tài nguyên du lịch.

– Phát triển sản phẩm với mục tiêu kinh doanh ngắn hạn: nhằm giảm chi phí và tăng thu, nhiều công ty du lịch thay vì phải tiến hành điều tra khảo sát xây dựng chương trình tour, đánh giá “cung – cầu”… để xây dựng sản phẩm du lịch đã tiến hành việc “sao chép” sản phẩm du lịch của các công ty khác.

– Phát triển sản phẩm một cách thiếu sáng tạo, “rập khuôn” và “máy móc”: với quan niệm cần “học hỏi” để rút ngắn thời gian và chi phí cho việc phát triển sản phẩm du lịch, nhiều nhà đầu tư đã “copy” gần như toàn bộ mô hình những khu, điểm du lịch mà mình có điều kiện tham quan, khảo sát mà thiếu cân nhắc khi áp dụng trong những điều kiện không phù hợp về tự nhiên, văn hóa – xã hội cũng như quan hệ “cung – cầu”.

– Phát triển sản phẩm không đúng với bản chất do sự thiếu hiểu biết của các nhà đầu tư. Thể hiện điển hình nhất của tình trạng này là việc phát triển các sản phẩm “du lịch sinh thái”. Phần lớn các sản phẩm du lịch sinh thái hiện nay đều không đúng với bản chất đã được quy định, trong đó phổ biến là thiếu nội dung về “giáo dục môi trường”; “có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn”; và “có sự tham gia tích cực của cộng đồng”.

Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch ở Indonesia

Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch ở Indonesia

Đất nước và tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch Indonesia

* Vị trí địa lý: Indonesia là một quốc đảo với khoảng 17.500 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó phải kể đến một số đảo chính như: đảo Java, đảo Sumatra, đảo Kalimanta (phần lãnh thổ của Indonesia trên đảo Borneo, hòn đảo thuộc chủ quyền của 3 nước Indonesia, Malaysia và Brunei Darussalam), đảo Sulawesi (hay Celebes), quần đảo Moluccas, quần đảo Nusa Tenggara (hay quần đảo Sunda nhỏ, trong đó một nửa phía Tây thuộc Đông Timor và đảo Bali) và đảo Papua (trước đây có tên là Irian Jaya, là một phần của đảo New Guinea – phần còn lại thuộc quốc đảo Papua New Guinea).

Với tổng diện tích lên tới 1,9 triệu km2, Indonesia là nước lớn thứ 15 trên thế giới, trải dài khoảng 5.440km từ lục địa Đông Nam Á về phía đông Philippines và Australia, được bao quanh bởi ba vùng biển Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Biển Đông. Nằm trên một đường đứt gãy kiến tạo, Indonesia là khu vực chịu ảnh hưởng của động đất, núi lửa phun trào, bão lũ và hạn hán.

* Dân số: Theo báo cáo dân số thế giới của Ủy ban Xã hội thuộc Liên hợp quốc, năm 2012, dân số Indonesia vào khoảng 245 triệu dân, đứng thứ 4 trên thế giới với tỷ lệ 122 triệu nam giới (chiếm 49,8%) và 123 triệu nữ giới (chiếm 50,2%). Tổng dân số tăng 1,3%/năm trong giai đoạn 2000-2005 và 1,1%/năm giai đoạn 2005-2010, tương đương khoảng 2,5 triệu dân/năm. Mức tăng trưởng này dự báo sẽ giảm xuống 1,0% mỗi năm trong giai đoạn 2010-2015 và 0,8% giai đoạn 2015-2020.

* Ngôn ngữ: Ngôn ngữ chính thức là tiếng Indonesia (Bahasa Indonesia), có sự liên quan mật thiết với tiếng Mã Lai, nhưng bên cạnh đó có tới hơn 300 ngôn ngữ địa phương, trong đó quan trọng nhất là ngôn ngữ Java.  Tiếng Anh và tiếng Anh “bồi” được sử dụng rộng rãi ở các thành phố, tiếng Hà Lan ngày càng mất ảnh hưởng.

* Tôn giáo: Điều tra năm 2000 đã đưa ra số liệu thống kê dân số theo tôn giáo như sau: đạo Hồi chiếm 86%; đạo Tin Lành chiếm 6%; Công giáo La Mã chiếm 3%; đạo Hinđu chiếm 2%; còn lại 3% thuộc tôn giáo khác. Hầu hết người Indonesia cảm thấy thoải mái với đạo Hồi, nhưng ở một số khu vực cũng có những căng thẳng xã hội giữa người theo đạo Kitô và người theo đạo Hồi.

* Môi trường kinh tế: Trong những năm gần đây, Indonesia trở thành một trong những nước có nền kinh tế năng động hơn trên thế giới, và hiện nay là nền kinh tế lớn thứ 16 trên thế giới. Indonesia là một trong những thành viên sáng lập của tổ chức ASEAN và là thành viên của hội nghị G20 của các nền kinh tế lớn.

Năm 1997, kinh tế Indonesia bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nhưng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 thì nước này lại vượt qua tương đối dễ dàng. Năm 2009 Indonesia là một trong số ít các nước thành viên G20 đạt được tăng trưởng kinh tế tích cực. Hàng loạt lĩnh vực kinh tế đạt tăng trưởng tốt, được thúc đẩy bởi cả tăng trưởng xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong nước. Chính sách khôn ngoan của Chính phủ đã giúp duy trì thâm hụt ngân sách và nợ công ở mức vừa phải và lạm phát thấp so với trước đây.

* Chính sách du lịch: Vào cuối năm 2011, chính phủ Indonesia đã bổ nhiệm Tiến sĩ Mari Elka Pangestu, nguyên Bộ trưởng Thương mại – một người được đánh giá là có trình độ cao và rất năng động, để làm Bộ trưởng Bộ Du lịch (sau đó được đổi tên thành Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo). Điều này đã đã cho thấy sự chú trọng của chính phủ Indonesia tới vai trò của du lịch trong nền kinh tế đất nước.

Báo cáo năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2011 xếp Indonesia đứng thứ 13 trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và đứng thứ 74 trên thế giới – tăng 7 bậc so với vị trí trong Báo cáo năm 2009. Liên quan tới các chỉ số ảnh hưởng đến du lịch outbound, Indonesia đứng thứ 4 trên thế giới về cạnh tranh giá trong ngành du lịch và lữ hành, một phần do giá vé tham quan và lệ phí sân bay thấp (đứng thứ 16); xếp thứ 17 về tác động của thuế nói chung và thứ 19 về mức giá nhiên liệu ưu đãi. Ngoài ra, Indonesia còn xếp thứ 15 về mức độ ưu tiên quốc gia cho du lịch; xếp thứ 32 về mức độ cởi mở hợp tác song phương trong lĩnh vực dịch vụ hàng không và xếp thứ 37 về mạng lưới hàng không quốc tế.

Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy, những thế mạnh trên bị hạn chế bởi cơ sở hạ tầng trong nước kém phát triển, trong đó có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (đứng thứ 96) và mối lo ngại liên quan tới an toàn và an ninh, đặc biệt là sự thiếu tin tưởng vào dịch vụ cảnh sát và chi phí thiệt hại có thể xảy ra do khủng bố.

Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch của Indonesia

Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2015 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia.

Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế – xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD.

Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

Năm 2012, với sự hợp tác của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo Indonesia đã ban hành “Kế hoạch chiến lược Phát triển du lịch bền vững và Việc làm xanh cho Indonesia” với tầm nhìn “Nâng cao sự thịnh vượng và chất lượng cuộc sống cho người dân Indonesia thông qua phát triển du lịch và kinh tế sáng tạo”. Hiển nhiên, bền vững là yếu tố quan trọng nhất trong việc hiện thực hóa tầm nhìn này, bởi chất lượng cuộc sống không thể bảo đảm nếu thiếu sự bền vững. Kế hoạch này hình thành khung chiến lược cho hoạch định du lịch bền vững, đồng thời đưa ra những giải pháp chiến lược cùng phương cách thực hiện nhằm đạt được sự bền vững và việc làm xanh trong du lịch. Tiếp cận theo hướng này, Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo Indonesia hy vọng rằng ý tưởng về tính bền vững và việc làm xanh sẽ được lồng ghép trong mọi chính sách liên quan đến phát triển du lịch ở Indonesia.

* Định hướng của “Kế hoạch chiến lược Phát triển du lịch bền vững và Việc làm xanh cho Indonesia”:

– Thay đổi tư duy của tất cả các bên liên quan;

– Xây dựng và áp dụng các chỉ số đo lường du lịch bền vững;

– Làm quen với tư duy mới về Việc làm xanh và Du lịch bền vững;

– Ban hành cơ chế kiểm soát, quản lý chiến lược và thực thi chiến lược.

* Những giải pháp thực hiện:

– Thúc đẩy việc làm xanh thông qua phát triển du lịch bền vững: nhằm đạt được mục tiêu về hiệu suất làm việc trong khi bảo đảm sự tự do, công bằng, an toàn, phẩm giá con người và giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường, trong cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

– Ưu tiên giảm nghèo trong ngành du lịch: nhằm giảm nghèo cho cộng đồng địa phương, bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên, văn hóa và lối sống của người dân bản địa. Giảm nghèo trong du lịch liên quan tới các vấn đề: giám sát và đánh giá tác động môi trường của du lịch; hỗ trợ việc làm liên quan đến du lịch ở khu vực nông thôn như du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp; tăng cường phối hợp và trao đổi; giải quyết tình trạng thất nghiệp hiện tại.

– Nâng cao cơ hội việc làm cho thanh niên trong ngành du lịch và phát triển du lịch thanh niên: nhằm hỗ trợ thanh niên nhận thức được tầm quan trọng của tính bền vững trong các hoạt động du lịch của mình. Chính họ là những người có tiềm năng làm việc trong ngành du lịch với kỹ năng tốt và nhận thức đầy đủ về khái niệm bền vững trong quản lý, vận hành và xây dựng hệ thống du lịch trong tương lai.

– Bảo vệ phụ nữ và trẻ em chống lại những vấn đề về giới và trẻ em: mục tiêu ở đây là tạo cơ hội cho phụ nữ có việc làm được trả công tốt hơn, tương đương với những đồng nghiệp nam ở cùng vị trí, cùng trình độ kỹ năng, giúp họ có điều kiện làm việc tốt hơn. Đồng thời, loại bỏ mọi hình thức lao động trẻ em trong ngành.

– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tự nguyện trong du lịch bền vững: nhằm xây dựng bộ tiêu chuẩn về đạo đức trong ngành, xây dựng các tiêu chuẩn và chương trình chứng nhận trong du lịch bền vững. Đây sẽ là cơ sở vững chắc để phát triển du lịch, tạo cơ hội cho tất cả các bên liên quan trong ngành dễ dàng tương tác với nhau theo những chuẩn mực này.

– Coi đào tạo và nghiên cứu du lịch là một ưu tiên trong chiến lược đào tạo và nghiên cứu của đất nước: Du lịch nói chung và du lịch bền vững nói riêng là ngành đòi hỏi phải có kiến thức, do vậy cần có nguồn nhân lực có trình độ phù hợp ở cả khu vực nhà nước và tư nhân. Đào tạo cho nhân lực của tất cả các bên liên quan ở tất cả các cấp là một yêu cầu bắt buộc.

– Xác định những đối tác tiềm năng ở địa phương: Chiến lược phát triển du lịch bền vững tại địa phương cần được xây dựng phù hợp với tiềm năng, điều kiện và các ưu tiên chính sách của địa phương đó.

– Triển khai marketing sáng tạo và có lựa chọn: Để bảo đảm công tác marketing điểm đến được hiệu quả cần phân bổ ngân sách lớn và được sử dụng một cách khôn ngoan. Về dài hạn, cần phải đầu tư thích đáng vào nghiên cứu thị trường, qua đó xây dựng chiến lược marketing sáng tạo và hiệu quả về chi phí, cũng như tìm ra được những thị trường tiềm năng.

– Áp dụng cách tiếp cận bền vững trong hoạch định du lịch: Cách tiếp cận này đặt cộng đồng và con người là những đối tượng chính của du lịch, qua đó nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.

– Thành lập một cơ quan điều phối duy nhất cho phát triển du lịch bền vững: Vấn đề chính trong điều hành ở các cấp là các cơ quan du lịch thường thiếu năng lực trong phối hợp với các ngành liên quan. Do vậy, cần có một cơ quan điều phối đủ sức mạnh để chỉ đạo hoạt động của các bên liên quan. Cơ quan này cần được thành lập ở cả cấp tỉnh/thành phố và các địa phương.

Kết quả đạt được

Theo Cục thống kê Trung ương Indonesia (BPS), các điểm đến hàng đầu ở Indonesia là Bali, Tây Java, Trung Java, Đông Java, Jakarta, Bắc Sumatra, Lampung, Nam Sulawesi, Nam Sumatra, Banten và Tây Sumatra.

Như hầu hết các quốc gia khác, khách du lịch nội địa là phân khúc thị trường lớn nhất. Thời gian khách nội địa đi lại nhiều nhất là dịp lễ Eid ul-Fitr diễn ra trong thời gian 2 tuần sau tháng ăn chay Ramadan. Thời gian này rất nhiều người dân theo đạo Hồi đi lại thăm bà con ở quê. Giao thông trong nội đô thường xảy ra ùn tắc và có thể người tham gia giao thông sẽ bị tính thêm phí.

Trong giai đoạn 5 năm đầu thế kỷ 21, Indonesia đặt trọng tâm thu hút khách du lịch nội địa. Sự cạnh tranh giữa các hãng hàng không giá rẻ đã làm tăng lượng khách du lịch nội địa bằng đường hàng không trong cả nước. Gần đây, Bộ Lao động Indonesia đã có chính sách tạo ra các kỳ nghỉ cuối tuần dài hơn khi kết hợp với các kỳ nghỉ lễ quốc gia nếu rơi vào gần dịp cuối tuần, trừ trường hợp diễn ra các dịp lễ tôn giáo quan trọng. Trong những dịp nghỉ cuối tuần dài này, hầu hết các khách sạn tại các điểm đến nổi tiếng đều kín phòng.

Từ năm 2000, tính trung bình mỗi năm có khoảng 5 triệu khách quốc tế đến Indonesia, chi tiêu trung bình khoảng 100 USD/ngày, thời gian chuyến đi trung bình từ 9-12 ngày; mang lại nguồn thu ngoại tệ hàng năm khoảng 4,6 tỷ USD cho đất nước. Nguồn thu này đưa du lịch trở ngành quan trọng thứ ba trong nền kinh tế Indonesia sau ngành gỗ và dệt may (không tính các ngành dầu khí và gas).

Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản và Úc để trở thành thị trường nguồn lớn thứ ba của Indonesia, đạt mức tăng trưởng hàng năm khoảng 30,42%. Theo số liệu trong quý 1 năm 2014, những quốc gia thị trường nguồn hàng đầu của Indonesia đến từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó Singapore (tăng 15,7%), Malaysia (14,0%), Trung Quốc (11,0), Úc và Nhật Bản. Vương quốc Anh, Pháp và Đức là những thị trường nguồn lớn nhất từ châu Âu. Mặc dù khách Hà Lan quan tâm đến tìm hiểu quan hệ lịch sử giữa hai nước, nhưng phần lớn khách châu Âu ưa thích các bãi biển khí hậu nhiệt đới ở Bali.

Trong tổng số du khách quốc tế đến Indonesia, khoảng 59% vì mục đích nghỉ dưỡng, 38% vì mục đích công việc. Năm 2012, theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới, du lịch và lữ hành đóng góp khoảng 8,9% GDP và tạo ra 8% trong tổng số việc làm của đất nước.

Ở Indonesia, tự nhiên và văn hóa là hai yếu tố nền tảng tạo dựng nên hệ thống sản phẩm du lịch. Các chiến dịch quảng bá du lịch tập trung mạnh vào xúc tiến các điểm đến nhiệt đới với biển xanh, cát trắng và các thắng cảnh văn hóa. Các khu nghỉ dưỡng và khách sạn ven biển đã được phát triển ở một số điểm đến nổi tiếng, đặc biệt là đảo Bali. Trong khi đó, du lịch văn hóa được xem là một phần không thể tách rời của ngành du lịch Indonesia. Ngược lại, phát triển du lịch sẽ góp phần phát huy và bảo tồn di sản văn hóa. Với tiềm năng và chính sách nhất quán như vậy, Indonesia tập trung phát triển những loại hình sản phẩm du lịch sau:

* Về du lịch tự nhiên, Indonesia sở hữu hệ sinh thái và rừng mưa đa dạng, phong phú được bảo vệ tốt, bao phủ khoảng 57% diện tích đất liền Indonesia, trong đó khoảng 2% là rừng đước. Một trong những nguyên nhân khiến hệ sinh thái tự nhiên ở Indonesia được bảo vệ tốt là do chỉ có 6.000 trong tổng số 17.000 hòn đảo của đất nước này là có người sinh sống thường xuyên. Những khu rừng ở Sumantra và Java là những điểm du lịch rất nổi tiếng. Hơn nữa, Indonesia có đường bờ biển vào hàng dài nhất trên thế giới (khoảng 54.000km), với rất nhiều bãi biển và khu nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, hầu hết các bãi biển còn nguyên sơ nằm tại những khu vực biệt lập và kém phát triển như  các đảo Karimunjawa, Togian, Banda.

– Lặn biển: Indonesia là một điểm đến đầy tiềm năng cho loại hình du lịch lặn biển với hơn 17.000 hòn đảo, trên 3.000 loài cá khác nhau, 600 loài san hô, các luồng nước sâu, miệng núi lửa dưới đáy biển, xác tàu chiến từ thời chiến tranh thế giới thứ 2 và thế giới sinh vật đa dạng. Du lịch lặn biển ở đây được đánh giá là tuyệt hảo và không hề đắt đỏ.

– Lướt sóng: cũng là một loại hình du lịch phổ biến ở Indonesia và được xem là có đẳng cấp quốc tế. Hầu hết các điểm lướt sóng nổi tiếng nằm ở phía nam Indonesia, chẳng hạn như khu vực biển phía Ấn Độ Dương, ngoài ra có thể thưởng ngoạn ở  các khu vực dọc theo Sumatra, xuống Nusa Tenggara, trong đó có Aceh, Bali, Banten, Java, Lombok, đảo Mentawai, và Sumbawa. Phần lớn người lướt sóng đến từ Úc và Mỹ.

– Du lịch vườn quốc gia: Vườn quốc gia Bogor được thành lập năm 1817 và Vườn quốc gia Cibodas được thành lập năm 1862 là hai trong số những vườn quốc gia lâu đời nhất ở châu Á. Với sự đa dạng của các loài cây nhiệt đới, những vườn quốc gia này vừa là trung tâm nghiên cứu sinh vật cảnh, vừa là điểm du lịch thu hút khách. Có 50 vườn quốc gia ở Indonesia, trong đó 6 vườn quốc gia là Di sản thiên nhiên thế giới (bao vườn quốc gia Gunung Leuser, Kerinci Seblat Bukit Barisan Selatan ở Sumatra, vườn quốc gia Lorentz ở Papua, vườn quốc gia Komodo ở đảo Lesser Sunda, và vườn quốc gia Ujung Kulon ở Tây Java). Cần chú ý rằng, những vườn quốc gia khác nhau có đa dạng sinh học khác nhau bởi Indonesia là một đất nước rộng lớn, thế giới tự nhiên ở đây được chia thành hai khu vực: khu vực phía Tây gồm Sumantra, Java và Kalimantan có cùng đặc điểm động thực vật như lục địa châu Á; trong khi khu vực phía Đông có đặc điểm tương tự lục địa châu Úc.

– Du lịch núi lửa: du lịch leo núi và cắm trại là những loại hình du lịch mạo hiểm phổ biến ở Indonesia. Một số ngọn núi còn có mạch sông, phù hợp cho hoạt động thể thao chèo bè, mảng trên sông. Mặc dù các ngọn núi lửa có thể gây nguy hiểm nhưng chúng đã trở thành những điểm đến nổi tiếng. Những ngọn núi lửa còn hoạt động nổi tiếng là ngọn Bromo cao 2.329m ở Đông Java, ngọn Tangkuban Perahu có hình chiếc thuyền nằm úp, ngọn Merapi gần Yogyakarta và ngọn Krakatau  huyền thoại. Ngọn Gede Pangrango ở Tây Java cũng là điểm leo núi được ưa thích, đặc biệt là đối với người dân trong nước.

* Về du lịch văn hóa, Indonesia có 300 nhóm dân tộc, tạo nên một sự đa dạng về văn hóa, cộng thêm ảnh hưởng của đạo Hindu, đạo Phật, đạo Hồi và văn hóa thời thực dân châu Âu. Mặc dù chịu ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài, nhưng văn hóa bản địa Indonesia vẫn duy trì được những nét độc đáo riêng có. Ví dụ ở  Yogyakarta, du lịch văn hóa là một phần rất quan trọng, đây là một tỉnh được coi là trung tâm văn hóa và mỹ thuật truyền thống Java. Sự thăng trầm của các vương quốc Hindu, Phật giáo và Hồi giáo ở Trung Java đã biến Yogyakarta thành một nơi hòa trộn các nền văn hóa Indonesia. Hầu hết các thành phố lớn ở Indonesia đều có các bảo tàng nhà nước, mặc dù quy mô trưng bày còn hạn chế. Bảo tàng lớn nhất giới thiệu lịch sử và văn hóa Indonesia từ thời kỳ tiền sử cho tới thời kỳ thuộc địa là Bảo tàng Quốc gia Indonesia nằm ở thủ đô Jakarta.

– Du lịch đền thờ cổ: Từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 15, đạo Hindu và đạo Phật định hình văn hóa Indonesia. Thời kỳ này các vương quốc nổi lên và suy tàn như Medang, Srivijaya, Kediri, Singhasari và Majapahit, đã để lại nhiều đền thờ và di tích gọi là candi. Đền thờ Phật giáo được bảo tồn tốt nhất là Đền Borobudur ở Trung Java, được xây dựng vào triều đại Sailendra thế kỷ thứ 8. Cách đó vài km về phía đông nam là đền Prambanan, ngôi đền Hindu lớn nhất Indonesia, được xây dựng vào triều đại Mataram đệ nhị. Ngôi đền thờ Shiva, Vishnu và Brahma – ba vị thần tối cao trong đạo Hindu. Cả đền Borobudur và Prambanan đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1991. Ngoài ra ở quanh Yogyakarta, có thể tìm thấy rất nhiều đền thờ cổ, tuy không lớn và nổi tiếng như hai ngôi đền trên, nhưng cũng thể hiện được đặc trưng văn hóa cổ Indonesia và kiến trúc đền đài cổ Java.

– Du lịch di sản Hồi giáo: Hồi giáo có đóng góp rất lớn trong hình thành xã hội văn hóa ở Indonesia. 88% người dân Indonesia là theo đạo Hồi. Văn hóa đạo Hồi rất phổ biến ở Sumantra. Du lịch di sản Hồi giáo rất phổ biến ở Indonesia, đặc biệt là đối với người theo đạo Hồi ở Indonesia và những nước láng giềng như Malaysia, Singapore và Brunei vốn có cùng nền văn hóa Hồi giáo Đông Nam Á. Đối với du khách khi đến tham quan các di tích Hồi giáo, dù là người dân địa phương hay người nước ngoài, theo đạo Hồi hay không, thì cũng phải tuân thủ các quy định về trang phục và hành xử. Hầu hết các thành phố lớn ở Indonesia đều có các đền thờ Hồi giáo, vừa là biểu tượng của thành phố, vừa là điểm quan quan cho khách du lịch.

– Du lịch di sản thuộc địa: Loại hình du lịch này chủ yếu tập trung vào khám phá lịch sử Indonesia, chẳng hạn như kiến trúc thuộc địa thời kỳ Đông Ấn Hà Lan vốn thu hút đối tượng khách du lịch đến từ Hà Lan cung như là những người yêu thích lịch sử thuộc địa Indonesia ở trong và ngoài nước. Du lịch thuộc địa bao gồm cả các hoạt động khác như thăm bảo tàng, nhà thờ, pháo đài, và các tòa nhà thuộc địa, hay ngủ lại các khách sạn thuộc địa. Các điểm du lịch thuộc địa nổi tiếng là Kota – trung tâm của Jakarta cổ với bảo tàng hàng hải, cầu nâng Kota Intan, bảo tàng Wayang, bảo tàng mỹ thuật gốm sứ, bảo tàng Ngân hàng Indonesia, khu Chinatown ở Indonesia…

– Du lịch đô thị: bao gồm các hoạt động như mua sắm, tham quan ngắm cảnh tại các thành phố lớn, tận hưởng các hoạt động vui chơi giải trí ở các công viên chủ đề, khu nghỉ dưỡng, spa, hoạt động về đêm… Ở mức độ nào đó, du lịch đô thị cũng bao gồm cả du lịch di sản và văn hóa đô thị, chẳng hạn như thăm thú các bảo tàng ở thành phố hoặc các thị trấn thuộc địa.  Khu Ancol Dreamland với công viên chủ đề Dunia Fantasi và công viên nước Atlantis nằm ở thủ đô Jakarta được xây dựng theo phong cách Disneyland. Một số công viên tương tự cũng được xây dựng tại các thành phố khác. Thủ đô Jakarta cũng là nơi có rất nhiều trung tâm mua sắm phục vụ du khách. Khu Mal Kelapa Gading là trung tâm mua sắm lớn nhất với diện tích 130 km2. Bên cạnh những trung tâm mua sắm cao cấp với các sản phẩm hàng hiệu, Indonesia cũng là điểm đến nổi tiếng với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du khách mua hàng lưu niệm. Các sản phẩm lụa và thời trang của Indonesia được biết đến với chất lượng tốt và giá cả hợp lý. Bandung là trung tâm mua sắm hàng thời trang nổi tiếng đối với du khách Malaysia và Singapore. Một hoạt động du lịch khác là chơi golf – một môn thể thao được ưa chuộng trong giới thượng lưu Indonesia và người nước ngoài.

– Du lịch ẩm thực: Indonesia có nền ẩm thực truyền thống độc đáo và đặc sắc vào hàng bậc nhất trên thế giới, ví dụ món rendang gần đây được bầu chọn là món ngon nhất trong danh sách “50 món ăn ngon nhất thế giới” do hãng tin CNN công bố. Ẩm thực Indonesia phong phú và rất khác nhau tùy theo các vùng. Du lịch ẩm thực Indonesia là một hoạt động rất thú vị khi được thưởng thức sự đa dạng trong văn hóa bản địa. Một số món như nasi goreng, sate và soto có thể tìm thấy ở mọi nơi trên đất nước Indonesia và được coi là những món ăn đại diện cho đất nước. Du khách có thể thưởng thức ẩm thực Indonesia ở nhiều nơi khác nhau, từ các xe bán hàng nhỏ trên phố cho tới các nhà hàng sang trọng. Hầu hết các trung tâm mua sắm ở các thành phố lớn đều dành riêng một tầng phục vụ du khách ăn uống với rất nhiều món ăn truyền thống Indonesia.

Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch ở Indonesia

Kinh nghiệm phát triển du lịch và sản phẩm du lịch của Singapore

Kinh nghiệm phát triển du lịch và sản phẩm du lịch của Singapore

Singapore là một quốc đảo nhỏ bé có 710 km2, 5,2 triệu dân, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc đặc biệt về lĩnh vực du lịch. Hàng năm quốc đảo này đón trên mười triệu lượt khách quốc tế, gấp hơn hai lần dân số. Từ năm 2008, đến nay, tăng trưởng khách quốc tế 9,2%/năm và thu nhập bình quân tăng 10,4%/năm.

Ở Singapore, tháng 6 năm 2010, quốc đảo này chạm mốc “một triệu khách du lịch trong một tháng”. Năm 2010 có 11,64 triệu khách quốc tế đến Singapore và năm 2011 là 13 triệu. Năm 2010, du lịch đóng góp cho nền kinh tế Singapore 18,8 tỷ đô Sing, năm 2012 là 22,2 tỷ đô Sing, chiếm 3% GDP. Singapore hiện có khoảng trên 50.000 phòng khách sạn, với giá dịch vụ trung bình khoảng 245 đô Sing/phòng/ngày (khoảng hơn 4 triệu đồng Việt Nam), tỷ lệ sử dụng phòng năm 2011 đạt đến 86%. Đây thực sự là những con số ấn tượng của ngành du lịch ở một đất nước nhỏ bé, ít tài nguyên và chưa hẳn đã có nhiều lợi thế để phát triển du lịch như Singapore.

Để có được kết quả này, phải nói đến sự thành công của việc hoạch định, xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singapore. Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012).

Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…

Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.

Trong “Du lịch 2015” (năm 2005), Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012, Singapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2015, Singapore sẽ đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô Sing.

Kinh nghiệm phát triển du lịch Singapore được rút ra một số bài học về:  1) Xây dựng, điều chỉnh chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp điều kiện kinh tế – xã hội cho từng giai đoạn; 2) Năm yếu tố tạo thành công cho du lịch Singapore là điểm thắng cảnh (Attractions), phương tiện giao thông (Accessibility), cơ sở tiện nghi (Amenities), các dịch vụ hỗ trợ (Ancillary services) và sự điều chỉnh phù hợp về chính sách (Adjustment).

Kinh nghiệm phát triển du lịch và sản phẩm du lịch của Singapore