092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Tình hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế giới

Tình hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế giới

Từ những năm giữa thế kỷ XX, các nước phát triển đã quan tâm đến việc xây dựng các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm thúc đẩy sáng tạo khoa học công nghệ giúp cho kinh tế phát triển. Đầu những năm 80, tại Hoa Kỳ đã có hơn 100 khu khoa học công nghệ. Ở Anh quốc, đến năm 1988 đã có 38 khu vườn khoa học công nghệ với sự tham gia của hơn 800 doanh nghiệp. Phần Lan đến năm 1996 đã có 9 khu khoa học nông nghiệp công nghệ cao. Phần lớn các khu này đều phân bố tại nơi tập trung các trường đại học, viện nghiên cứu để nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới và kết hợp với kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp để hình thành nên một khu khoa học với các chức năng cả nghiên cứu ứng dụng, sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ.

Bên cạnh các nước tiên tiến, nhiều nước và khu vực lãnh thổ ở Châu á cũng đã chuyển nền nông nghiệp theo hướng số lượng là chủ yếu sang nền nông nghiệp chất lượng, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, cơ giới hoá, tin học hoá… để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, an toàn, hiệu quả.

* Việc ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) trong canh tác cây trồng trên thế giới bao gồm:

–  Công nghệ lai tạo giống: Đây là công nghệ được ứng dụng phổ biến trong việc nghiên cứu và chọn tạo các giống cây trồng, con vật nuôi có những tính chất ưu việt cho hiệu quả, năng suất cao hoặc có khả năng chống chịu cao đối với điều kiện ngoại cảnh tác động góp phần đẩy nhanh sự phát triển về mặt năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, có nhu cầu ứng dụng cao trong nông nghiệp.

–  Công nghệ nuôi cấy mô thực vật In vitro: Công nghệ nuôi cấy mô được hơn 600 công ty lớn trên thế giới áp dụng để nhân nhanh hàng trăm triệu cây giống sạch bệnh. Thị trường cây giống nhân bằng kỹ thuật cấy mô vào khoảng 15 tỷ USD/năm và tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm.

–  Công nghệ trồng cây trong nhà kính: nay được gọi là nhà màng do việc sử dụng mái lớp bằng màng polyethylen thay thế cho kính (green house) hay nhà lưới (net house). Trên thế giới, công nghệ trồng cây trong nhà kính đã được hoàn thiện với trình độ cao để canh tác rau và hoa. Ứng với mỗi vùng miền khác nhau những mẫu nhà kính và hệ thống điều khiển các yếu tố trong nhà kính cũng có sự thay đổi nhất định cho phù hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng, trong đó hệ thống điều khiển có thể tự động hoặc bán tự động. Tuy nhiên đối với các vùng thường chịu nhiều tác động của thiên tai như bão lũ, động đất thì lại cần cân nhắc kỹ giữa lợi ích và chi phí do rủi ro.

–  Công nghệ trồng cây trong dung dịch (thủy canh), khí canh và trên giá thể: Trong đó các kỹ thuật trồng cây thủy canh (hydroponics) dựa trên cơ sở cung cấp dinh dưỡng qua nước (fertigation), kỹ thuật khí canh (aeroponics) – dinh dưỡng được cung cấp cho cây dưới dạng phun sương mù và kỹ thuật trồng cây trên giá thể – dinh dưỡng chủ yếu được cung cấp ở dạng lỏng qua giá thể trơ. Kỹ thuật trồng cây trên giá thể (solid media culture) thực chất là biện pháp cải tiến của công nghệ trồng cây thủy canh vì giá thể này được làm từ những vật liệu trơ và cung cấp dung dịch dinh dưỡng để nuôi cây.

–   Công nghệ tưới nhỏ giọt: Công nghệ này phát triển rất mạnh mẽ ở các nước có nền nông nghiệp phát triển, đặc biệt ở các nước mà nguồn nước tưới đang trở nên là những vấn đề quan trọng chiến lược. Thông thường hệ thống tưới nhỏ giọt được gắn với bộ điều khiển lưu lượng và cung cấp phân bón cho từng lọai cây trồng, nhờ đó tiết kiệm được nước và phân bón.

* Trong chăn nuôi và thuỷ sản:

            – Đưa các giống vật nuôi qua thụ tinh nhân tạo và truyền cấy phôi vào sản xuất: Với phương pháp này có thể giúp duy trì được nguồn giống tốt và tiện lợi cho việc nhập khẩu giống nhờ việc chỉ phải vận chuyển phôi đông lạnh thay vì động vật sống, tuy nhiên giá thành tương đối cao và đòi hỏi kỹ thuật phức tạp.

Sử dụng các giống cá qua biến đổi bộ nhiễm sắc thể và chuyển đổi giới tính ở cá: giúp nâng cao năng suất nuôi trồng. Ví dụ chỉ có cá tầm cái đẻ trứng và cá đực Tilapia lớn nhanh hơn cá cái. Ví dụ cá đực tilapia chuyển thành cá cái khi xử lý với oestrogen. Loại cá đực này khi giao phối với cá cái bình thường sẽ đẻ ra toàn cá đực do đó tăng năng suất nuôi trồng khá cao.

–  Hỗ trợ dinh dưỡng vật nuôi: Các công nghệ biến đổi gen ngày càng được áp dụng rộng rãi nhằm cải thiện dinh dưỡng vật nuôi như thông qua việc biến đổi thức ăn để vật nuôi dễ tiêu hoá hơn, hoặc là kích thích hệ thống tiêu hoá và hô hấp của vật nuôi để chúng có thể sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

Công nghệ trong chuẩn đoán bệnh và dịch tễ: Các loại kít thử dựa trên nền tảng công nghệ sinh học cao cho phép xác định các nhân tố gây bệnh và giám sát tác động của các chương trình kiểm soát bệnh ở mức độ chính xác cao mà trước đây chưa hề có. Dịch tễ phân tử đặc trưng bởi các mầm bệnh (vi rút, vi khuẩn, ký sinh và nấm) có thể xác định được nguồn lây nhiễm của chúng thông quan phương pháp nhân gen.

Tình hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế giới

Tình hình ô nhiễm môi trường nước

Tình hình ô nhiễm môi trường nước

1. Định nghĩa ô nhiễm môi trường nước

Ô nhiễm nước là sự biến đổi các thành phần của nước khác biệt với trạng thái ban đầu. Đó là sự biến đổi các chất lý, hoá, vi sinh và sự có mặt của chúng trong nước làm cho chúng trở thành độc hại [24].

.Thay đổi về lý học: màu, mùi, vị, độ trong.

.Thay đổi về thành phần hoá học: các chất vô cơ, các chất hữu cơ, các chất độc.

.Thay đổi về sinh vật: làm tăng hoặc giảm các vi sinh vật hoại sinh, xuất hiện vi khuẩn và virut gây bệnh.

2. Nguyên nhân ô nhiễm nước bề mặt

Việc đẩy mạnh công nghiệp hoá và kỹ thuật canh tác nông nghiệp đã đưa nền kinh tế phát triển không ngừng, tuy nhiên vấn đề chất thải gây ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề cấp bách cần được quan tâm. Chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường phần lớn bị dồn chảy vào sông, hồ và cuối cùng tích tụ ở đáy đại dương [12]. Tại Mỹ (1950) hơn 200 km2 nước (tương đương với 1/4 dòng chảy thường xuyên của Mỹ) đã cho chạy qua các nhà máy điện nguyên tử và làm tăng nhiệt độ 10-120C, phá vỡ nghiêm trọng hệ thống thuỷ văn. Anwar và CS (1999) nghiên cứu về chất lượng nước uống ở Punjab cho thấy 95,83% giếng khoan và 91,3% bể chứa nước bị nhiễm khuẩn [33].

Phần lớn các nước trên thế giới có sử dụng nước bề mặt, ở Anh là 2/3, Mỹ là 1/2, Nhật đến 90% tổng nước sử dụng, ở một số nước khác như Cộng hoà liên bang Đức và Hà Lan lại hoàn toàn sử dụng nước ngầm (vì nước bề mặt đã bị ô nhiễm).

Nước ao, hồ, sông, suối (nước bề mặt) là nguồn nước ngọt quan trọng, nhưng con người đã làm cho nguồn nước này bị ô nhiễm bởi những chất thải, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khoẻ người dân. Các nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nước bề mặt:

+ Do chất thải công nghiệp:

Theo tính toán của một số chuyên gia, cứ 1 m3 nước bị ô nhiễm sẽ làm cho 50-60 m3 nước ngọt khác không sử dụng được. Trên thế giới hiện nay cứ mỗi năm có tới 500 km3 nước bị ô nhiễm trộn vào nước nguồn tự nhiên trên trái đất, làm cho khoảng 2 tỷ người thiếu nước ngọt hợp vệ sinh [8].

Mặc dù các nước đã có những quan tâm đúng mức tới nguồn tài nguyên nước: năm 1950, Mỹ thành lập ủy ban cố vấn về các nguồn tài nguyên nước, năm 1956, ủy ban thanh tra quốc tế về nước được thành lập. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá diễn ra với tốc độ nhanh, các biện pháp bảo vệ môi trường chưa đủ mạnh nên tình hình ô nhiễm nước ngày càng trở nên trầm trọng.

+ Do phát triển nông nghiệp :

Những thành tựu của khoa học kỹ thuật trên toàn cầu không chỉ thúc đẩy ngành công nghiệp hoá phát triển không ngừng mà sự thâm canh tăng năng suất nông nghiệp cũng luôn được cải tiến. Sản lượng nông nghiệp hàng năm đã được nâng lên nhờ chất lượng giống và sử dụng các loại thuốc diệt trừ sâu bệnh. Nhưng cũng chính điều này đã mang lại những hậu quả tai hại ghê gớm cho môi trường và con người, nhất là các loại hoá chất trừ sâu diệt cỏ. Qua nghiên cứu người ta đã thấy hàm lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ trong nước ở một số nước như: Pháp đạt tới 1,6-6,4 mg/l, Mỹ, một số dòng sông hàm lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ cao: DDT 11,3 mg/l, Aldrin 5 mg/l. Sông Detroit hàng ngày có tới 20 triệu tấn chất thải hỗn hợp trong đó có các chất diệt côn trùng, chất diệt cỏ, dầu hoả và các chất phóng xạ đổ vào [14].

+ Do chất thải sinh hoạt:

Trong sinh hoạt hàng ngày con người cũng thải vào môi trường một lượng rác thải đáng kể và đấy cũng là một trong những nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước bề mặt. Qua phân tích mẫu nước tại 20 điểm của 18 con sông ở Kanagawa, Nhật Bản từ 1987-1995 cho thấy 64,7% mẫu nhiễm V.cholerae, ở Nga 98% mẫu xét nghiệm nước sông Cama có chỉ số E.coli 102-104/100ml nước [1].

+ Do chất thải y tế:

Song song với việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vấn đề quản lý chất thải bệnh viện ở một số bệnh viện ở các nước phát triển đã được thực hiện ở tất cả các cơ sở y tế. ở Việt Nam, mặc dù Nhà nước và Bộ Y tế đã ban hành hàng loạt các luật, các quy chế như: Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật bảo vệ môi trường, Qui chế chống nhiễm khuẩn bệnh viện, Quy chế quản lý chất thải y tế…[4], [6]. Nhưng công tác quản lý, xử lý chất thải bệnh viện vẫn còn nhiều tồn tại. Có tới 47% các bệnh viện không có bể xử lý chất thải lỏng, 15 % bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải lỏng nhưng không hoạt động do hỏng vì không có kinh phi bảo trì [19]. Như vậy, những bệnh viện không có hệ thống xử lý chất thải, nước thải được thải vào hệ thống cống công cộng. Điều này sẽ góp phần không nhỏ trong tình trạng ô nhiễm vi sinh vật từ bệnh viện ra cộng đồng, nơi có dòng nước thải của bệnh viện chảy qua . Rác thải nếu không được phân loại mà thải chung với rác thải sinh hoạt hoặc chôn lấp ngay tại bệnh viện cũng là một yếu tố gây ô nhiễm môi trường [9].

3. Nguyên nhân ô nhiễm nước ngầm

Nước ngầm là một nguồn nước vô cùng quan trọng, nó là nguồn nước sinh hoạt không thể thiếu ở mỗi quốc gia. Một số nước như Cộng hoà Liên bang Đức, Hà Lan hoàn toàn sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt. Nước ngầm hầu như phân bố khắp nơi và an toàn (sạch) hơn so với nước bề mặt, đặc biệt là các nguồn nước ở tầng sâu dưới lòng đất. Tuy nhiên nguồn nước ngầm ở nhiều nơi trên thế giới cũng đang có nguy cơ bị ô nhiễm do khai thác bừa bãi, quá mức của con người cũng như bị ô nhiễm bẩn do nước thải công nghiệp, đô thị hoá và phát triển nông nghiệp [14].

+ Do công nghiệp:

Nguồn nước ngầm trên thế giới ở nhiều nơi nói chung đang bị ô nhiễm nặng nề bởi chất thải công nghiệp. Tại Mỹ, chất thải độc được đưa vào các hầm ngầm dưới đất. Năm 1981 cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ EPA kiểm tra hơn 52.000 cái hầm, trong đó có 12.000 cái đã làm ô nhiễm nước ngầm (do độ phóng xạ vượt quá ngưỡng). Năm 1980 kiểm tra 27.000 cái thì 8.000 cái nằm trong vùng đất thấm và hơn 1/2 số kiểm tra đã gây ô nhiễm nặng nước ngầm. Hiện nay có khoảng 1/2 dân số Mỹ đang dùng nước ngầm cho sinh hoạt, vì vậy đây là vấn đề rất hệ trọng [21].

Các nhà khoa học đã cho biết, có tới 55.000 các hợp chất hoá học khác nhau được thải vào môi trường . Thành phần cơ bản của chúng là cặn lơ lửng, acid, este, phenol, dầu mỡ và các chất hoá học Asen, thuỷ ngân, xyanua, cadmium, một số chất phóng xạ và đồng vị phóng xạ cũng có thể làm ô nhiễm nguồn nước ngầm [16].

+ Do nông nghiệp:

Việc lạm dụng các hoá chất công nghiệp ở một số khu vực nông nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Ví dụ chất nitrat có thể thấm dần xuống đất từ 0,5- 1m mỗi năm cho đến khi chúng gặp được nguồn nước ngầm. Hàng năm có hàng tấn nitrogen gây ô nhiễm nguồn nước ngầm bằng con đường trực tiếp hay thẩm thấu, Halwani và CS 1999, [32]. Càng ngày người ta càng sử dụng với số lượng lớn các hoá chất bảo vệ thực vật, loại hoá chất phân huỷ rất chậm trong môi trường tự nhiên. Đây cũng là một nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Theo báo cáo trước đây, nước ngầm ở nhiều nơi đã nhiễm các hoá chất độc hại như: DDT, lindol, monitor, wolfatox,…[29].

+ Do sinh hoạt:

Nước ngầm cũng có thể bị ô nhiễm trầm trọng do các hoá chất sinh hoạt. Trong một nghiên cứu ở Philippines (1991), người ta đã thấy 50% tổng số mẫu nước giếng khơi có chỉ số fecal coliform trên 101 [1]. Một số tác giả cũng lưu ý đến sự ô nhiễm nguồn nước ở một số nơi và hiểm hoạ của việc này. Poclkin (1987) khi nghiên cứu chất lượng nước các vùng hạ lưu sông Cama (Liên Xô cũ ) vào mùa xuân hè đã thấy có 96% số mẫu có chỉ số E.coli là 102 – 103, độ nhiễm khuẩn được đánh giá là cao [20].

4. Tình hình nghiên cứu vi sinh vật gây ô nhiễm nguồn nước trên Thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều vụ dịch liên quan đến nguồn nước. ở Hoa Kì năm 1971-1985 có 502 vụ dịch với 111.228 người mắc, 42% số vụ dịch với 68% số người mắc là do nguồn nước công cộng, do nước bề mặt chiếm 24% số vụ dịch và 32% các trường hợp mắc [31].

Cũng tại Hoa Kì, năm 1987, 88% vụ dịch ỉa chảy mãn tính kéo dài nhiều tháng đều do nước bị ô nhiễm [31].

Từ năm 1985, WHO cũng đã đánh giá tại các nước châu á, 60% người bị nhiễm trùng và 40% các trường hợp tử vong là do các căn bệnh truyền qua nước [36].

Moe CL, 1991, nghiên cứu về ô nhiễm do fecal coliform trong các mẫu nước giếng khơi nhận thấy: 65% số mẫu có số vi khuẩn lớn hơn 101 vi khuẩn chỉ điểm/ 100ml [30].

5. Tình hình nghiên cứu vi sinh vật gây ô nhiễm nguồn nước ở Việt Nam

Nguyễn Đình Sỏi và cộng sự, 1994 tại Thái Bình kiểm tra 164 mẫu nước giếng về vi sinh vật, chỉ số coliform không đạt tiêu chuẩn vệ sinh chiếm hơn 99% và chỉ số fecal coliform vượt quá tiêu chuẩn chiếm gần 93% [15].

Nguyễn Đình Sơn và cộng sự, 1994: kiểm tra chất lượng vệ sinh các nguồn nước ở Thừa Thiên Huế cho thấy: 1/2 số mẫu nước sông không đạt vệ sinh [17] .

Phạm Thị Xá, Hà Ngư và cộng sự, từ tháng 1/1990-tháng 7/1992 nghiên cứu về vi sinh vật của 54 mẫu nước nguồn cung cấp cho thị xã Thanh Hoá thấy tới 95,8% số mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh [27].

Tại một số tỉnh phía bắc: Hải Phòng, 1987, Trần Huy Bích cho thấy tại vòi nước có 66% không đạt tiêu chuẩn vệ sinh [2].

Vũ Đức Vọng, 1992, nghiên cứu ở Tây Nguyên cho thấy nước bị nhiễm bẩn các chất hữu cơ và vi sinh vật theo mức độ bẩn 52%, cấm dùng chiếm 8% [26].

Còn theo nghiên cứu về tình trạng nước sinh hoạt của Đào Xuân Vĩnh, Nguyễn Thế Vinh và cộng sự ở Tây Nguyên thấy 90,14% mẫu nước suối và sông không đạt tiêu chuẩn vệ sinh [25].

Tại đồng bằng Sông Cửu Long, Lê Thế Thự, 1995, nghiên cứu các nguồn nước bề mặt thấy fecal coliform từ 1,3-2,7.105/100ml nước [20].

Theo Trương Xuân Liễu và cộng sự, 1994, tại 3 xã huyện Cần Giờ có 393 trường hợp bị tả nhưng vụ dịch đã được dập tắt nhanh chóng do đã xử lý vệ sinh nguồn nước [10].

Tình hình ô nhiễm môi trường nước

Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu hệ thống cây trồng và hệ thống canh tác

Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu hệ thống cây trồng và hệ thống canh tác

Trong việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản xuất muốn đảm bảo hiệu quả kinh tế thì ngoài việc chọn giống cần phải giải quyết tốt mối liên hệ giữa hệ thống cây trồng với các điều kiện khí hậu, đất đai, tập quán canh tác và phương hướng sản xuất ở vùng, khu vực đó. Vì vậy nghiên cứu hệ thống cây trồng một cách khoa học sẽ có ý nghĩa quan trọng giúp cho các hộ nông dân, các nhà quản lý có cơ sở để định hướng sản xuất nông lâm nghiệp một cách đúng đắn và toàn diện. Khi nghiên cứu về hệ thống cây trồng cho một vùng sinh thái, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về: Khí hậu, nguồn nước, đất đai, cây trồng, đặc điểm kinh tế – xã hội, điều kiện thị trường [52], [35], [99].

1. Môi trường khí hậu với hệ thống cây trồng

Các loài cây trồng khi cùng chung sống với nhau trên một đơn vị diện tích nó sẽ chịu ảnh hưởng qua lại lẫn nhau (quần xã sinh vật) [36].

Khí hậu là thành phần quan trọng đối với hệ sinh thái, trong đó nhân tố ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng nhất đối với cây trồng cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, tạo năng suất cây trồng. Trung bình cây xanh có khả năng tích luỹ được khoảng 1% năng lượng của ánh sáng mặt trời.

Ở nước ta độ ẩm tương đối trong năm thường cao hơn 80%, lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1500 – 2000 mm/năm. Nguồn nhiệt trong năm biến động từ 7000 – 100000C tuỳ theo vùng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng và cây rừng. Trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chúng ta có thể sản xuất nhiều vụ trên năm với các công thức luân canh, trồng xen trồng gối, khai thác tài nguyên thiên nhiên trên nhiều tầng không gian. Xét theo yêu cầu ánh sáng của cây người ta đã phân thực vật thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây chịu bóng. Cây ưa sáng là những loài cây có nhu cầu về ánh sáng cao, cần trồng ở tầng tán trên trong hệ thống cây trồng nông lâm nghiệp như Keo, Mỡ, Bồ đề…, các cây chịu bóng như Dong riềng, Thảo quả, Hương nhu, Chè…cần nhu cầu ánh sáng trực tiếp ít hơn có thể trồng ở dưới tán rừng [28], [36].

Như vậy căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của cây mà trong sản xuất NLKH người ta phối trí cây trồng theo không gian và thời gian hợp lý sao cho tận dụng tối đa không gian dinh dưỡng mà không làm tổn hại giữa các loài cây trồng.

2. Môi trường nước và hệ thống cây trồng

Nước là thành phần quan trọng trong quá trình sống của cây, nước mưa là nguồn nước cung cấp chủ yếu cho cây trồng, đặc biệt là những vùng không có hệ thống tưới tiêu. Nước mưa cũng có ảnh hưởng đến quá trình canh tác như làm đất, thu hoạch, đồng thời mưa cũng gây ra lũ lụt, làm rửa trôi độ phì của đất. Nước ta có lượng mưa tương đối lớn 1600 – 2000mm/năm. Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm và ở các vùng sinh thái khác nhau. Vào mùa mưa lượng mưa thường tập trung lớn, từ 80 – 85%, do đó dễ gây lũ lụt ở một số vùng, những tháng mùa khô lượng mưa ít, làm cho đất khô hạn. Đồng thời ngay cả trong mùa mưa có nơi cũng bị hạn hán nặng [8]. Vì vậy khi xác định hệ thống cây trồng cần phải chú ý đến lượng mưa để tránh được các hạn chế như úng lụt, hạn hán ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Đặc biệt là ở những vùng đất dốc nước mưa đã gây xói mòn, rửa trôi rất mạnh.

3. Môi trường đất và hệ thống cây trồng

Khi nghiên cứu hệ thống cây trồng trên đất dốc, các nhà khoa học cho rằng, các yếu tố làm suy giảm tính bền vững của hệ canh tác trên đất dốc là sử dụng đất không hợp lý, các chất hữu cơ dễ phân huỷ, bị rửa trôi theo dòng nước, vì thế đất rất dễ bị thoái hoá, tầng đất mặt bị xói mòn nghiêm trọng làm cho độ phì của đất giảm, cây trồng sinh trưởng kém, dẫn tới sản lượng thu được trên một đơn vị diện tích ngày càng giảm [53], [60].

Để hạn chế xói mòn đất, các nhà khoa học đã đưa ra các giải pháp như xây dựng các ruộng bậc thang, mương rãnh, bờ ngăn, luân canh, xen canh, trồng băng cây phân xanh cố định theo đường đồng mức, xây dựng hệ thống NLKH có tác dụng chống xói mòn [49], [97].

4. Môi trường kinh tế – xã hội và hệ thống cây trồng

Sản xuất nông lâm nghiệp là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế của đất nước. Điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp ở miền núi đặc thù là địa hình phức tạp, cơ sở hạ tầng như đường giao thông liên thôn, liên xã…, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, điều kiện giao lưu hàng hoá và nắm bắt thị trường còn rất khó khăn, việc phát triển kinh tế hàng hoá chưa phát triển; sản xuất lương thực chưa đủ tự cung, tự cấp [49], [66], [69], [97]. Do vậy việc phát triển hệ thống canh tác theo hướng đa dạng hoá cây trồng và áp dụng tiến bộ kỹ thuật phù hợp để xây dựng các hệ thống sản xuất theo hướng NLKH là điều rất quan trọng, đây là tiền đề cho việc mở rộng và phát triển hệ thống cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá.

5. Điều kiện thị trường và hệ thống cây trồng

Muốn phát triển sản xuất, chúng ta cần có chính sách đầu tư phát triển phù hợp với từng loại cây trồng, khuyến khích, phát huy hết mọi tiềm năng cho sản xuất. Sản phẩm của hệ thống canh tác nông lâm nghiệp phải phù hợp với nhu cầu thực tế và phải trở thành loại hàng hoá có tính quy mô, phải có kế hoạch phát triển thị trường sao cho đầu ra của các loại sản phẩm được ổn định, nhằm mang lại hiệu ích về cả kinh tế, môi trường và xã hội [43], [38].

Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu hệ thống cây trồng và hệ thống canh tác

Khái niệm về hệ thống cây trồng

Khái niệm về hệ thống cây trồng

1. Hệ thống cây trồng

Hệ thống cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian và thời gian của các loại cây trồng trong mọi hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế – xã hội (Đào Thế Tuấn, 1984) [61],. Hệ thống cây trồng là tổng thể các loại cây trồng trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau, được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian (Nguyễn Duy Tính, 1995) [54]. Hệ thống cây trồng tối ưu không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên mà còn phụ thuộc vào quy mô và phần trả lại của sản phẩm cây trồng, giá của chi phí đầu vào bao gồm lao động, sự kết hợp giữa các hợp phần công việc, sức khoẻ của nông dân và chiều hướng của rủi ro (David, 2003) [82].

Theo Zahidul và cs (1982) [104], mô hình cây trồng ở Bangladesh được điều chỉnh khảo nghiệm thực hiện bao gồm giống cây trồng, quản lý cải tiến chi phí đầu vào và giới thiệu những giống cây trồng mới cho từng vùng khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc gia tăng lương thực và thực phẩm cho người dân địa phương, làm tăng cường độ màu mỡ của đất. Ở Srilanka, nghiên cứu hệ thống cây trồng cho thấy cải tiến công nghệ canh tác (cơ cấu cây trồng phù hợp, luân canh tăng vụ, kỹ thuật hợp lý cho từng loại cây trồng) thì tiềm năng sản lượng cây trồng tăng cao rõ rệt tuỳ theo từng vùng đất khác nhau (Fernando và cs, 1982) [87].

Hoạt động nông nghiệp chính ở các vùng trước tiên là trồng trọt, sau đó là chăn nuôi (Bộ NN&PTNT, 2003) [6]. Như vậy, có thể thấy rằng hệ thống trồng trọt (HTTT) là nền tảng chiếm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp. Hệ thống trồng trọt là một hệ thống phụ trung tâm của hệ thống nông nghiệp, hoạt động của hệ thống trồng trọt ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự hoạt động của các hệ thống phụ khác (Nguyễn Duy Tính, 1995) [54]. Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất cây trồng trong nông trại, nó bao gồm các hợp phần cần thiết để sản xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại và mối quan hệ của chúng với môi trường. Trong hệ thống trồng trọt thì hệ thống cây trồng đóng vị trí chủ đạo. Nghiên cứu hệ thống cây trồng là xác định hệ thống cây trồng đó có những loại cây gì, giống gì, mùa vụ trồng trọt, công thức luân canh (Phạm Chí Thành và cs, 1993) [45].

Việc chuyển đổi nền kinh tế trong nông nghiệp ở vùng cao nước ta hiện nay theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá đòi hỏi bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để sản xuất có hiệu quả cao nhất, đảm bảo an toàn về lương thực, bảo vệ môi trường sinh thái (rừng và nguồn nước) góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hoá đất nước vào năm 2020 (Nguyễn Văn Trương, 1992) [59]. Việc xác định và xây dựng các hệ thống cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng là cở sở để đạt năng suất và sản lượng cây trồng cao, đồng thời cũng là biện pháp sinh học tốt nhất nhằm khai thác triệt để mọi nguồn lợi tự nhiên, kinh tế-xã hội mỗi vùng (Lê Thị Bích và cs, 1996) [2].

2. Hệ thống cây trồng tiến bộ

Theo Phạm Chí Thành và cs (1996) [46], hệ thống cây trồng tiến bộ bao gồm hệ thống cây trồng bản địa cộng với tiến bộ kỹ thuật. Đây là cách làm kế thừa cái tốt do nhân dân tích luỹ được, vì vậy nghiên cứu phát triển hệ thống cây trồng phải đánh giá cho được hệ thống cây trồng hiện tại. Hiện tại ở đây là những kỹ thuật đã được nông dân thừa nhận, tiến bộ kỹ thuật là những cái mới, cái chưa từng có ở địa phương và có tác dụng tăng hiệu quả sản xuất.

3. Hệ thống cây trồng hợp lý

Hệ thống cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí và thời điểm, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau để khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội (Trần Khải, 1994) [21]. Hệ thống cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế-xã hội của vùng (Đào Thế Tuấn, 1989) [63], (Phùng Đăng Chinh và cs, 1987) [8]. Hệ thống cây trồng hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả của mối quan hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng, làm cho sản xuất ngành trồng trọt trong nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh gắn với đa canh, sản xuất hàng hoá và có hiệu quả kinh tế cao. Hệ thống cây trồng là một thực tế khách quan, nó được hình thành từ điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội cụ thể và vận động theo thời gian.

Hệ thống cây trồng hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải tiến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng. Trên cơ sở thực tế là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Thế Hoàng,1995) [20]; (Lê Duy Thước, 1991) [50]. Đứng về quan điểm sinh thái học, bố trí hệ thống cây trồng hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào để đạt năng suất sơ cấp cao nhất (Đào Thế Tuấn, 1989) [63]. Về mặt kinh tế, hệ thống cây trồng hợp lý cần thỏa mãn yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, bảo đảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao. Xác định Hệ thống cây trồng hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất của vùng. Phương hướng sản xuất quyết định hệ thống cây trồng, nhưng hệ thống cây trồng hợp lý sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng sản xuất (Bùi Phúc Khánh, 1995) [22].

Khái niệm về hệ thống cây trồng

Thực trạng và những giải pháp nhằm quản lý môi trường nông thôn

Thực trạng và những giải pháp nhằm quản lý môi trường nông thôn

Bạ đâu đổ đấy

Khi điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày một cải thiện thì cũng đồng nghĩa với việc rác thải ngày một nhiều. Thoạt đầu, rác thải sinh hoạt được người dân mang ra đổ ở mương máng, ao hồ quanh làng. Do khi đó, rác vẫn còn chưa nhiều và chủ yếu là rác hữu cơ nên qua nhiều năm vẫn chưa nhìn thấy sự ô nhiễm đáng kể nào!

Thế nhưng, chỉ khoảng trên, dưới chục năm gần đây rác thải trở nên quá tải vì ao, hồ, mương máng không thể còn chỗ mà chứa nổi nữa. Người ta mang rác đổ lung tung, thậm chí là cả ven các bờ vùng bờ thửa, ven các khu ruộng đất canh tác… Nếu như trước đây, rác đổ công khai, thì nay nhiều hộ phải mang rác đi đổ… trộm ngoài đồng vì quá bí chỗ đổ.

Quả thực là, về bất cứ một làng quê nào, cũng có thể gặp ngổn ngang những bãi rác tự phát. Rác tràn xuống ruộng, rác lấp ao, hồ và rác “bao vây” cả các khu dân cư. Mùi xú uế của rác thải khiến cho môi trường sống của chính người nông dân ít nhiều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Có những bãi rác chỉ cách phòng ngủ, quán hàng ăn, khu vui chơi giải trí của trẻ em chưa đầy 20 mét.

Theo Vietnamnet, dường như người dân cũng đã quá quen với hình ảnh của các bãi rác hôi thối, ruồi nhặng xúm đen nên họ vẫn thản nhiên ăn, thản nhiên sống, sinh hoạt…bên cạnh (?!). Rác thải ở nông thôn bây giờ có quá nhiều rác vô cơ là túi nilon, các loại bao bì công nghiệp khó phân huỷ nên gây độc hại tới môi trường là không nhỏ.

Ngoài rác thải ra thì môi trường nông thôn cũng đang bị “tấn công” bởi nguồn nước ô nhiễm trầm trọng. Nếu như nước bề mặt quanh làng, xóm đen ngòm vì chính lượng nước thải sinh hoạt của người dân hàng ngày trực tiếp đổ ra, thì nước ngầm cũng đã và đang có dấu hiệu “bẩn” rất nhanh.

Từ rác thải, từ nước thải trên bề mặt như vậy nên việc nước ngầm bị ô nhiễm là điều hiển nhiên, vì qua nhiều năm tháng, sự ô nhiễm cứ ngấm xuống để rồi người dân vẫn phải hút nước ngầm lên sử dụng và sẽ khó lòng tránh được bệnh tật cùng nhiều ảnh hưởng về sức khoẻ khác…

Báo cáo môi trường quốc gia 2014 với chủ đề “Môi trường nông thôn” vừa công bố cho thấy với khoảng 67% dân số cả nước, nông thôn Việt Nam đang chịu những sức ép không nhỏ về ô nhiễm môi trường từ các khu-cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất và sinh hoạt của người dân, doanh nghiệp.

Báo cáo cũng chỉ ra nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc ô nhiễm môi trường nông thôn là do các hoạt động sản xuất ở các vùng nông thôn còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, công nghiệp lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên/nhiên liệu còn thấp.

Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn

Để giảm những tác động từ ô nhiễm môi trường đến sức khỏe người dân đang sinh sống ở các vùng nông thôn hiện nay, chúng ta cần có các kế hoạch và biện pháp đánh giá toàn diện về thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn – ThS. Nguyễn Thị Bích, Trường Đại học Tài nguyên & Môi trường Hà Nội, chia sẻ trên Tạp chí Tài nguyên & Môi trường.

Tuy nhiên, do đặc điểm phát triển kinh tế – xã hội tại mỗi địa phương khác nhau, cho nên mức độ ô nhiễm môi trường cũng khác nhau, do vậy, việc cấp bách hiện nay là phải lập được bản đồ về ô nhiễm môi trường tại khu vực này, để qua đó xác định được các vùng ô nhiễm trọng tâm, trọng điểm nhằm có các biện pháp khắc phục phù hợp và kịp thời.

Chú trọng đến công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề tại các khu vực nông thôn, bảo đảm tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp, tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo như ở một số địa phương thời gian qua.

Đối với các khu công nghiệp đóng trên địa bàn các vùng nông thôn hiện nay, cần có quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được cấp phép hoạt động; đồng thời, bổ sung nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trường.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó cần chú trọng việc xây dựng các chế tài xử phạt phải mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vị phạm. Ban hành và thể chế hoá các luật có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường tại các khu vực nông thôn, tiến tới xây dựng luật riêng về lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo đúng tiêu chuẩn, đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ hoạt động bảo vệ môi trường.

Tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lí kịp thời, triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân.

Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường; trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ có hiệu quả hoạt động bảo vệ môi trường.

Chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề, đô thị, bảo đảm tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo như ở nhiều địa phương thời gian vừa qua, gây khó khăn cho công tác quản lí nói chung, quản lý môi trường nói riêng.

Đối với các khu công nghiệp cần có quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lí nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lí nước thải, rác thải.

Chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư.

Việc quyết định các dự án đầu tư cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích đem lại trước mắt với những ảnh hưởng của nó đến môi trường về lâu dài. Thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân có thể tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch và dự án đó.

Để cải thiện mức độ ô nhiễm môi trường nông thôn, biện pháp quan trọng nhất và mang tính chiến lược là vận động, tuyên truyền cộng đồng để thay đổi tập quán, thói quen xả rác tùy tiện; đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên, con người và xã hội.

Thực trạng và những giải pháp nhằm quản lý môi trường nông thôn

Ảnh hưởng của rác thải công nghiệp đến môi trường tự nhiên

Ảnh hưởng của rác thải công nghiệp đến môi trường tự nhiên

Sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN) trên khắp cả nước trong những năm gần đây đã góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, việc hình thành và phát triển các KCN còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải công nghiệp từ các KCN. Trong đó, ô nhiễm môi trường nước đang là vấn đề cấp bách đặt lên hàng đầu.

Rác thải công nghiệp là gì?

Rác thải công nghiệp bao gồm nhiều chất thải độc hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Nếu không được xử lý, chất thải độc hại sẽ ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người.

Ðộ độc hại của các chất thải độc hại rất khác nhau. Có chất gây nguy hiểm cho con người như các chất cháy có điểm cháy thấp, các chất diệt côn trùng, các vật liệu clo hoá phân huỷ chậm, có chất gây tác động nhỏ hơn nhưng khối lượng của nó lại là vấn đề lớn như các chất thải hầm mỏ, xỉ, thạch cao phốt phát cũ hoặc các sệt hydroxyt khác.

Những chất thải có chứa những hoá chất không tương hợp có thể gây nổ, bắt cháy. Tiếp xúc với axít hoặc kiềm mạnh gây bỏng da. Da hấp thụ một số thuốc trừ sâu có thể gây ngộ độc cấp tính. Những thùng, hòm chứa chất thải hoá chất nếu không được xử lý, để bừa bãi vào nơi không được bảo vệ tốt có thể gây các tai nạn ngộ độc nghiêm trọng.

Theo các chuyên gia về môi trường, một số chất thải nguy hại như: chất phóng xạ, dầu nhờn, phốt pho, thuốc trừ sâu hay cả chất thải y tế,… nếu đem chôn lấp sẽ rất nguy hiểm cho con người. Chẳng hạn thuốc trừ sâu nếu đem chôn xuống đất sẽ lan trong đất, ngấm vào mạch nước ngầm. Người sử dụng nguồn nước này sẽ bị ung thư. Chất thải y tế, nhất là những bệnh phẩm có tính chất lây truyền, nếu đem chôn nó cũng sẽ gây tình trạng tương tự.

Việc xử lý chất thải công nghiệp độc hại ở nước ta đã được quan tâm của các cơ quan. Nhưng có một thực tế cho thấy rằng, các hoạt động dường như “muối bỏ bể”, những vấn đề cần xử lý tận gốc còn tồn tại rất nhiều. Một trong những nguyên nhân sâu xa chính là sự thiếu ý thức của các doanh nghiệp xử lý chất thải công nghiệp.

Tình trạng các doanh nghiệp mang danh thu gom, xử lý chất thải lại chính là thủ phạm phát tán chất thải, lén lút đổ chất thải nguy hại ra môi trường không phải hiếm.

Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp sản xuất đã cấu kết với các doanh nghiệp xử lý chất thải nguy hại để ký hợp đồng khống. Thực chất họ thuê các chủ xe ba gác hoặc xe ben chở đổ ra môi trường. Hoặc có những đơn vị nhận chuyển giao với giá thấp sau đó đổ vào những khu đất trống rồi đốt hoặc đơn giản là chất đống để đó. Thậm chí, dùng xe ép rác để đổ vào các bô rác, trạm trung chuyển nhà nước lại phải bỏ tiền ngân sách ra xử lý số chất thải này.

Khi ý thức, trách nhiệm của các doanh nghiệp xử lý chất thải còn bị xem nhẹ thì môi trường sẽ chịu nguy cơ ô nhiễm ngày càng cao.

Ảnh hưởng của rác thải công nghiệp đến môi trường tự nhiên

Các lợi ích của Khu công nghiệp thân thiện môi trường

Các lợi ích của Khu công nghiệp thân thiện môi trường

Khu công nghiệp thân thiện môi trường là một KCN có các cơ sở sản xuất cùng hoạt động như một cộng đồng các nhà máy có quan hệ mắc xích với nhau thông qua một số trao đổi chất trong các quá trình sản xuất và giải quyết các vấn đề môi trường để hướng đến một mục đích cuối cùng là sản xuất hiệu quả nhất, sử dụng ít nguyên vật liệu và năng lượng nhất, ít ô nhiễm môi trường nhất và bảo đảm điều kiện làm việc tốt nhất cho công nhân. Ngoài ra, KCN còn có tác động lan toả tích cực đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của các doanh nghiệp, ngành, địa phương, khu vực xung quanh

Lợi ích cho công nghiệp

– Đối với doanh nghiệp thành viên và chủ đầu tư:

+ Giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất bằng cách: tiết kiệm, tái chế, tái sử dụng nguyên vật liệu và năng lượng; tái chế và tái sử dụng chất thải. Điều đó sẽ làm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm.

+ Đạt hiệu quả kinh tế cao hơn nhờ chia sẻ chi phí cho các dịch vụ chung như: quản lý chất thải, đào tạo nhân lực, nguồn cung cấp, hệ thống thông tin môi trường cùng các dịch vụ chung như: quản lý chất thải, đào tạo nhân lực, nguồn cung cấp, hệ thống thông tin môi trường cùng các dịch vụ hỗ trợ khác.

+ Giải pháp toàn diện trong sự phát triển Khu công nghiệp thân thiện môi trường giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua các rào cản trong việc tiếp cận nguồn thông tin, tư vấn, bí quyết công nghệ và nhận được các nguồn đầu tư để phát triển.

+ Những lợi ích cho các doanh nghiệp thành viên cũng làm tăng giá trị bất động sản và lợi nhuận cho chủ đầu tư.

– Đối với nền công nghiệp nói chung:

+ Khu công nghiệp thân thiện môi trường là một động lực phát triển kinh tế công nghiệp của toàn khu vực: gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thu hút đầu tư, tăng việc làm,…

+ Tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp nhỏ địa phương.

+ Thúc đẩy quá trình đổi mới, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới.

Tóm lại, Khu công nghiệp thân thiện môi trường có thể mang lại các lợi thế cạnh tranh và lợi ích quan trọng trong thời điểm mà các KCN ở các nước Châu Á không đáp ứng được nhu cầu phát triển công nghiệp thời đại mới.

Lợi ích cho môi trường

– Giảm các nguồn gây ô nhiễm môi trường, giảm lượng chất thải cũng như giảm nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các nghiên cứu mới nhất về sản xuất sạch, bao gồm: hạn chế ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng, quản lý chất thải, tái tạo tài nguyên và các phương pháp quản lý môi trường và công nghệ mới khác.

– Đảm bảo cân bằng sinh thái: quá trình hình thành và phát triển của Khu công nghiệp thân thiện môi trường phù hợp với đặc điểm sinh thái của khu vực KCN và khu vực xung quanh.

– Phấn đấu vì mục tiêu ngày càng cao về môi trường: mỗi một Khu công nghiệp thân thiện môi trường đều có một mô hình phát triển và quản lý riêng để không ngừng nâng cao đặc trưng cơ bản của nó về Khu công nghiệp thân thiện môi trường

Lợi ích cho xã hội

– Khu công nghiệp thân thiện môi trường là động lực phát triển kinh tế – xã hội mạnh của khu vực, thu hút đầu tư của nhiều tập đoàn lớn, tạo việc làm mới trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

– Tạo động lực và hỗ trợ các dự án phát triển mở rộng địa phương như: đào tạo nhân lực, cải tạo hạ tầng kỹ thuật

– Khu công nghiệp thân thiện môi trường chính là một trung tâm tự nhiên của mạng lưới sinh thái công nghiệp. Các lợi ích kinh tế và môi trường do KCNTTMT mang lại sẽ tạo ra một bộ mặt mới, một môi trường trong sạch và hấp dẫn hơn cho toàn khu vực.

– Khu công nghiệp thân thiện môi trường tạo ra điều kiện hợp tác với các cơ quan nhà nước trong việc thiết lập chính sách, luật lệ về môi trường và kinh doanh ngày càng thích hợp hơn.

Các lợi ích của Khu công nghiệp thân thiện môi trường

Khái niệm người tiêu dùng xanh

Khái niệm người tiêu dùng xanh

Nếu người tiêu dùng thay đổi thói quen và nhận thức của mình, các nhà sản xuất sẽ phải thay đổi, và xã hội sẽ thay đổi

Tiêu dùng là một trong những thú vui tuyệt vời của cuộc sống! Mua những thứ chúng ta mong muốn, du lịch đến những thắng cảnh, thưởng thức những thực phẩm ngon lành, đó là lớp kem trên mặt cái bánh “cuộc sống”; nhưng cũng có quá nhiều những ảnh hưởng của việc tiêu thụ thoải mái của chúng ta làm nên câu chuyện buồn. Những chiếc xe hơi to lớn phả ra những làn khói nguy hiểm cho sức khỏe, các nhà máy sản xuất thải ra môi trường những loại chất thải độc hại phát sinh trong quá trình sản xuất hàng hóa làm suy giảm chất lượng môi trường sống.

Nhưng cũng không cần phải đánh đổi niềm vui lấy tội lỗi! Với sự thận trọng và cam kết của người mua hàng, họat động tiêu dùng có thể là một động lực tạo nên điều tốt đẹp. Đã từ lâu, mối quan hệ “người tiêu dùng – nhà sản xuất” giống như mối quan hệ giữa “cô dâu – người cầu hôn”- chúng ta, người tiêu dùng là một “cô dâu” bẽn lẽn và thẹn thùng trong một tình huống mà ta vừa mong đợi và khó mà phát biểu điều gì vào giờ phút quan trọng đó. Đã đến lúc cô dâu đòi hỏi quyền lợi cho chính mình. Chúng ta có quyền của người mua hàng, và chúng ta có thể yêu cầu nhà cung cấp làm theo tầm nhìn về bảo vệ môi trường, hoặc chúng ta có quyền từ chối mua hàng của họ. Thông qua việc chỉ mua sắm thứ ta cần, được sản xuất ra theo cách chúng ta muốn, chúng ta có thể tạo ra một thế giới mà chúng ta muốn sống trong đó.

Khái niệm “người tiêu dùng xanh” (green consumer) (NTDX) được hiểu là người tiêu dùng thân thiện với môi trường. Những người tiêu dùng (NTD) này gần đây đã có hưởng nhiều hơn đối với việc tạo ra những thay đổi trong vấn đề nhận thức về môi trường. Tuy nhiên, không dễ để trở thành một người tiêu dùng xanh! Bạn phải thay đổi những thói quen tiêu dùng của mình đã hình thành từ rất lâu.

Không hiểu biết về kỹ thuật, một người tiêu dùng xanh là người quan tâm đến môi trường và, vì thế, họ chỉ mua những sản phẩm thân thiện với môi trường hay thân thiện với tự nhiên. Sản phẩm có ít hoặc không có bao bì, sản phẩm tạo ra từ những thành phần tự nhiên và những sản phẩm trong quá trình sản xuất ra chúng không hoặc ít gây ô nhiễm môi trường đều là những ví dụ về sản phẩm thân thiện với môi trường.

Người tiêu dùng xanh sẽ là những người lái loại xe sử dụng ít nhiên liệu và thải ít khói thải ra môi trường hơn. (Xe gắn máy 2 thì từng bị các nhà hoạt động môi trường phản ứng do thải nhiều khí độc ra môi trường). Người tiêu dùng xanh sẽ không mua những sản phẩm được tạo ra từ da, lông, thú, thậm chí từ thịt của động vật hoang dã.người tiêu dùng xanh cũng là những người ủng hộ cho việc tái chế, tái sử dụng, tái sinh chất thải hoặc mua những sản phẩm sản xuất từ vật liệu tái chế (xin được hiểu rằng sản phẩm từ vật liệu tái chế đó phải đáp ứng các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn sức khỏe cho NTD).

Vài nguyên tắc cho người tiêu dùng xanh:

Giảm đi, tái sử dụng, tái chế (reuce, reuse, recycle). Giảm đi: tránh mua những gì bạn không cần. Nếu khả năng tài chính cho phép, khi mua đồ điện gia dụng mới, hãy chọn loại tiết kiệm năng lượng (điện, nước, nguyên vật liệu). Tái sử dụng: mua vật dụng xài rồi, và tận dụng hết tính năng của những món đồ bạn sở hữụ Tái chế: thực hiện nhưng đây là vế thứ 3 ít hiệu quả nhất của nguyên tắc nàỵ
Giữ khoảng cách gần nhà hơn. Làm việc gần nhà để rút ngắn khoảng cách với cộng đồng. Ăn thực phẩm được nuôi trồng gần nơi mình sinh sống. Chiếu cố đến nhà kinh doanh tại địa phương; tham gia các tổ chức địa phương. Những điều này làm cải thiện quan hệ trong cộng đồng của bạn.

Động cơ đốt trong, máy nổ đang gây ô nhiễm, và vì thế cần hạn chế sử dụng.

Quan sát cách bạn ăn. Bất cứ khi nào có thể, tránh mua thực phẩm có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, có chất kích thích tăng trưởng. Đây là cách dễ dàng nhất để chúng ta sử dụng đồng tiền của mình chống lại sự lan rộng chất độc trong cơ thể chúng ta, trong đất, và nước.

Những doanh nghiệp tư nhân có rất ít sự khích lệ để cải thiện quy trình sản xuất tuân thủ môi trường. Sự chọn lựa tiêu dùng của chúng ta cần khuyến khích và hỗ trợ cho cách hành xử tích cực; sự chọn lựa chính trị của người tiêu dùng xanh là ủng hộ những quy định của chính quyền.

Ủng hộ những cách làm sáng tạo.

Xác định ưu tiên. Nghĩ kỹ trước khi mua bất kỳ đồ đạc, hàng hóa nàoTận hưởng những gì mình có – những thứ mà nó chỉ thuộc về bạn, và những thứ không thuộc về ai trong tất cả chúng tạ Cả hai đều tốt, nhưng cái sau quý giá hơn. Những thứ đó là cái mà chúng ta không sản xuất được, và không bao giờ sở hữu- nước, không khí, cây cối, muông thú- là nền tảng của những điều thú vị của cuộc sống. Không có chúng, chúng ta – loài người không là gì cả.

Vài ví dụ về tiêu dùng thân thiện với môi trường

Đừng ăn thịt rừng! Bạn có biết chúng đâu có sinh sản ào ào được như gia súc hay gia cầm!

Đừng tiêu thụ những động vật non hay đang trong thời kỳ sinh sản (mang trứng, đẻ con). Cá ròng ròng cuốn bánh tráng là món đặc sản ở Củ Chi ăn hoài không biết ngán. Bạn có biết 4-5 năm trước đây, các nhà hàng, quán nhậu ờ Củ Chi dễ dàng mua được cá ròng ròng bắt ngoài kênh rạch tại đâỵ Nhưng gần 1 năm nay, số lượng cá ròng ròng đã sụt giảm nghiêm trọng ngoài tự nhiên. Cá con bị ăn mất thì làm gì mà có cá trưởng thành để tiếp tục sinh ra một bầy “con nít cá” cho chúng ta xơi nữa!

Giấy vệ sinh có màu trắng tinh và hương thơm được chú ý nhiều hơn đối với người tiêu dùng. Thực tế, yêu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm này là cung ứng tính năng làm sạch (lau, chùi) và yêu cầu là đảm bảo vệ sinh (tiệt trùng) cho người sử dụng. Giấy càng trắng càng phải qua nhiều công đoạn tẩy trắng bằng chất tẩy và sử dụng nhiều nước kèm theo thải ra ngoài môi trường nhiều nước thải độc hại hơn. NTD ở Đức hơn 5 năm qua đã chuyển sang loại giấy vệ sinh sản xuất từ bột giấy không tẩy trắng và không tẩm hương lịêụ Loại giấy này đắt gấp 3 lần so với loại giấy vệ sinh sản xuất theo cách thông thường.

Thay đổi thói quen mua hàng và tiêu dùng để giảm tác động đến môi trường là xu thế đang phát triển từ những người tiêu dùng xanh. Những thói quen đã bị mất dần đi, nay đang được khuyến khích trở lại tại các nước giàu có. Xách theo túi mua hàng là một ví dụ khi đi siêu thị. Ở Thụy điển, hàng hóa sau khi tính tiền của bạn chỉ được đựng trong những túi nylon rất mỏng manh và rất dễ rách nếu bạn mua hàng nhiều và nặng.

Đi ăn buffet ở nhà hàng, bạn thay đĩa nhiều lần là điều bình thường. Nhưng nếu bạn giảm số lần thay dĩa đi, sẽ giúp giảm lượng nước dùng để rửa dĩa đấy! Nước cũng là tài nguyên mà! Thêm nữa, đừng phung phí thức ăn, ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêụ Lương thực, gia súc, gia cầm được nuôi trồng rồi mới chế biến thành thức ăn cho chúng ta tiêu thụ. Và cũng phải khai thác môi trường để có những sản phẩm nàỵ

Điều gì sẽ đến khi số lượng người tiêu dùng xanh tăng lên? Tại châu Âu, đa số là người tiêu dùng xanh. Sự khác biệt vè tỉ lệ người tiêu dùng xanh phản ánh sự thiếu nhận thức về môi trường trong giới chính trị, kinh tế và cộng đồng. Vấn đề quyết định là khi ngày càng có nhiều người quan tâm hơn đến vấn đề môi trường và cởi mở hơn khi nói ra quan điểm và ý tường của họ đến cộng đồng. Nếu đại đa số ngừơi tiêu dùng chọn lựa không mua các sản phẩm làm nguy hại đến môi trường, thì nhà sản xuất sẽ bị áp lực để sản xuất ra những sản phẩm thân thiện với môi trường và điều này sẽ tạo ra một ảnh hưởng tích cực có ảnh hưởng sâu rộng đến xã hộị

Nếu những thông tin liên quan đến môi trường tăng lên và các sản phẩm và luật lệ trở nên thân thiện hơn với môi trường, điều này sẽ giúp biến đổi không chỉ nhận thức và cư xử của con người, mà cũng làm thay đổi xã hội hiện tại và tương lai của chúng ta.

Vậy thì, hãy góp phần làm môi trường sống của cộng đồng tốt hơn bằng những thay đổi nhỏ trong hành vi tiêu dùng của mình nhé!

Khái niệm người tiêu dùng xanh

Thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam

Thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam

Theo Hiệp hội Thực Phẩm Chức Năng, thực phẩm chức năng là sản phẩm hỗ trợ các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có hoặc không có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại bệnh tật. Tác dụng của thực phẩm chức năng là có khả năng cải thiện sức khỏe và làm giảm thiểu nguy cơ và tác hại bệnh tật, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học. Nó không phải là trị liệu y học nhằm mục đích điều trị hay cứu chữa bệnh tật của con người. Từ năm 1999, thực phẩm chức năng từ các nước bắt đầu nhập khẩu chính thức vào Việt Nam. Đồng thời, do có sẵn nguồn nguyên liệu, có lịch sử lâu đời nền y học cổ truyền, có sẵn dây truyền sản xuất thuốc và đội ngũ công nhân chuyên nghiệp và trào lưu phát triển thực phẩm chức năng trên thế giới, các công ty dược, các cơ sở sản xuất thuốc Y học cổ truyền bắt đầu chuyển sang sản xuất thực phẩm chức năng. Tính đến cuối năm 2014, gần như cả ngành dược Việt Nam đã lao vào lĩnh vực thực phẩm chức năng, với sự tham gia của 1,781 doanh nghiệp.

Số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng năm 2000 là 13 cơ sở, đến cuối 2012 là 1,552 cơ sở, với hơn 5,500 sản phẩm. Năm 2013, số cơ sở SXKD thực phẩm chức năng đã tăng lên 3,512 cơ sở (tăng 226% so với 2012), với 6,851 sản phẩm (tăng 124%). Trong đó, 80% sản phẩm thực phẩm chức năng là nhập khẩu – 20% sản phẩm sản xuất trong nước. Sản phẩm xuất khẩu đang gia tăng nhanh chóng, tăng 172% giai đoạn 2012-2013, trong khi sản phẩm sản xuất trong nước giảm 23% giai đoạn 2012-2013.

Thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam