092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Vai trò của người dân trong cải cách thủ tục hành chính

Vai trò của người dân trong cải cách thủ tục hành chính

Cải cách hành chính được coi là một nhiệm vụ trọng tâm của nền hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Đây là chương trình có mức độ tác động mạnh mẽ, sâu sắc và rộng khắp. Nó đã tạo được nhiều bước chuyển biến lớn trong hệ thống quản lý hành chính công, xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hiện đại, phục vụ tốt hơn cho những nhu cầu ngày càng tăng của người dân và tổ chức.

Nhìn chung hiện nay người dân có vai trò vô cùng quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính bao gồm:

Thứ nhất: Người dân là người tuân thủ tất cả các quy định của nhà nước trong quá trình quản lý hành chính, là người thụ hưởng những dịch vụ hành chính công mà Nhà nước cung ứng. Do đó, sự chấp hành nghiêm túc của người dân là sự phối hợp tích cực, có ý nghĩa thiết thực đối với công tác cải cách thủ tục hành chính. Bộ máy hành chính do Nhà nước thiết lập ra, các quy định thể chế, cụ thể là các thủ tục hành chính do Nhà nước đề ra, sắp xếp trên cơ sở khoa học, đội ngũ cán bộ công chức được bố trí hợp lý, có đủ năng lực,… nhưng sẽ không thể vận hành nền hành chính công tốt nếu không có sự “hợp tác” tích cực của người dân. Nhân dân khi đến yêu cầu chính quyền giải quyết công việc cho mình, nếu họ hiểu biết và tuân thủ theo các quy định được niêm yết công khai tại trụ sở, mọi yêu cầu sẽ được đáp ứng theo đúng trình tự. Các cán bộ, công chức cũng sẽ phối hợp với nhau nhịp nhàng để giải quyết công việc cho dân. Nhưng nếu ngược lại, mọi việc sẽ đình trệ, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động chung của chính quyền cũng như ảnh hưởng đến việc đáp ứng yêu cầu của các cá nhân, tổ chức khác.

Trong rất nhiều trường hợp, do người dân không nắm vững và thực hiện đầy đủ các yêu cầu, thủ tục về hồ sơ, giấy tờ, nên cơ quan hành chính không thể giải quyết công việc của họ và có quyền đề nghị họ hoàn chỉnh hồ sơ thì mới giải quyết. Trên thực tế người dân thường xử lý tình trạng này theo các cách sau: người dân bỏ cuộc, không tiến hành hoạt động gắn với loại dịch vụ này; người dân tiến hành chui, không xin phép chính quyền; nhờ vả, chạy chọt vòng vèo, đút lót cho cán bộ, công chức liên quan đến công việc. Tất cả những tình huống nói trên đều đưa đến những hậu quả tiêu cực cho công dân, cho nhà nước và cho xã hội.

Như vậy, có thể thấy, cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng nêu ra nhiều chương trình, hoạt động, nhiều nội dung, mục tiêu đòi hỏi nỗ lực của toàn bộ nền hành chính, nhưng, mọi việc sẽ không thể thực hiện có hiệu quả nếu không có sự tham gia, hợp tác tích cực của người dân.

Thứ hai, ý kiến, sự tham vấn của người dân vào các vấn đề cải cách thủ tục hành chính của nhà nước là một đóng góp quan trọng cho sự thành công của chương trình. Bởi vì, không ai khác, người dân là những người tham gia trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính, và do đó là người hiểu sâu sắc những thủ tục hành chính nào còn rườm rà, không cần thiết, gây cản trở, khó khăn cho họ. Do đó, sự tham gia, đóng góp của người dân ngay từ khi xây dựng chủ trương, chính sách sẽ góp phần đảm bảo tính khả thi, thiết thực và hiệu quả của các thủ tục hành chính.

Theo “Báo cáo tổng quan những Nghiên cứu về môi trường kinh doanh tại Việt Nam” của CEPR (Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách – ĐH Kinh tế – ĐH quốc gia Hà Nội), các chuyên gia của CEPR cho rằng một giải pháp quan trọng giúp cho công cuộc cải cách các thủ tục hành chính chỉ có thể đạt được hiệu quả là: Phải nhanh chóng và đẩy mạnh sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước vào đề án 30 (đề án cải cách thủ tục hành chính). Những hiệp hội doanh nghiệp, các viện nghiên cứu (chính là nhân dân)… cần được tạo cơ hội để có tiếng nói ảnh hưởng hơn nữa vào việc thực hiện đề án, bởi những đề xuất từ họ mới là những đề xuất từ thực tiễn sản xuất kinh doanh. Một hình thức nữa là để các đối tượng này có quyền tham gia vào một hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính cho đề án 30.

Thứ ba: trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, người dân hiểu hơn ai hết công chức nào tốt, không tốt, chất lượng giải quyết thủ tục hành chính như thế nào. Vì thế, sự đánh giá của người dân về chất lượng thực hiện thủ tục hành chính, về thái độ, trình độ chuyên môn, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức khi tham gia quá trình giải quyết thủ tục hành chính là một kênh giám sát đặc biệt quan trọng và hiệu quả. Chính vì vậy, thông tin phản hồi từ phía người dân là một kênh thông tin xã hội tốt cho hoạt động cải cách thủ tục hành chính để những nhà quản lý có thể tham khảo và điều chỉnh cũng như là một “áp lực” để đội ngũ cán bộ, công chức sửa mình, làm cho đúng.

Vai trò của người dân trong cải cách thủ tục hành chính

Cải cách hành chính nhà nước trong thời kỳ đổi mới đất nước

Cải cách hành chính nhà nước trong thời kỳ đổi mới đất nước

TS. TRẦN ĐÌNH THẮNG
Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị –
Học viện Kỹ thuật quân sự

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc lãnh đạo, chỉ đạo cải cách hành chính nhà nước (HCNN), nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, chuyên nghiệp, vững mạnh, từng bước hiện đại; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành các lĩnh vực trong đời sống xã hội và thực thi quyền lực của nhân dân. Nền hành chính quốc gia phải được cải cách cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Thực chất đây là sự phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, Nhà nước trong việc lựa chọn nội dung, cách thức, biện pháp cải cách hành chính (CCHC) đạt kết quả tốt nhất.

Thực tiễn cho thấy, không có một mô hình hay phương pháp cải cách hành chính lý tưởng nào áp dụng chung, đúng đắn cho mọi quốc gia, đúng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, mọi giai đoạn lịch sử. Nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười từng khẳng định, cách mạng là sáng tạo, chỉ sáng tạo mới có thành công: “Khi một chủ trương được hình thành do sao chép rập khuôn kinh nghiệm của nước ngoài, thiếu tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo thì chủ trương đó sẽ không được cuộc sống chấp nhận, dẫn đến không thành công”(1).

Năm 1986, Nghị quyết Đại hội Đảng (khoá VI) đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, trọng tâm là đổi mới kinh tế, với nhiều chủ trương, giải pháp cải cách kinh tế về cơ chế, cơ cấu các thành phần kinh tế, nhưng chưa đề ra chủ trương cải cách nền HCNN với tư cách là một hệ thống, đồng bộ đúng với ý nghĩa và tầm quan trọng của nó. Đến Đại hội Đảng lần thứ VII, về nhiệm vụ cải cách hành chính, Đảng đã đặt “trọng tâm cải cách nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành pháp và quản lý hành chính nhà nước thông suốt từ trung ương xuống cơ sở, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu lực”(2). Tuy nhiên, việc cải cách hành chính mới dừng lại ở phạm vi cải cách một số nội dung của bộ máy hành chính là chủ yếu, chưa có tính tổng thể, đồng bộ. Bởi vậy, “mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực lập pháp cũng như hành pháp, song những tiến bộ đó vẫn còn thấp xa so với yêu cầu của tình hình thực tế”(3).

Năm 1995, Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đã ra nghị quyết chuyên đề về cải cách nền HCNN đồng bộ về thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức. Nghị quyết Đại hội Đảng (khoá VIII) nhấn mạnh “… Công cuộc cải cách hành chính phải dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính”(4).

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, lần thứ X đề ra chủ trương: “Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh”(5). Quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, năm 2001, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, tập trung cải cách trên bốn nội dung cơ bản của nền HCNN: thể chế hành chính; tổ chức bộ máy hành chính; cán bộ, công chức hành chính và tài chính công. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã nhấn mạnh: “Cải cách hành chính phải được thực hiện đồng bộ, vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể và bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước”(6).

Đảng và Nhà nước đã đánh giá đúng tình hình, hoàn cảnh lịch sử và các điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước; tình hình thực tế của bộ máy nhà nước, nền HCNN để lựa chọn những nội dung, hình thức, bước đi, cách làm cho phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm rõ ràng. Trong những năm từ 1991 đến 1995 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cải cách một bước nền HCNN, với khâu đột phá vào cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, thí điểm áp dụng cơ chế “một cửa, một dấu”; tập trung sửa đổi, bổ sung căn bản Hiến pháp; sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới một số luật về kinh tế; bước đầu chấn chỉnh, sắp xếp tổ chức bộ máy; cải cách một bước cơ bản chế độ tiền lương của cán bộ, công chức và bước đầu thực hiện chế độ thi tuyển ở một số cơ quan hành chính. Từ năm 1996, nền HCNN được cải cách đồng bộ. Những năm từ 1996 đến 2001 tập trung nhiều hơn vào xây dựng thể chế kinh tế thị trường, tăng cường cải cách thủ tục hành chính; quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, tiếp tục cải cách các chế độ, chính sách tiền lương của cán bộ, công chức. Từ năm 2001 đến nay, Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, ban hành nhiều luật mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế; mở rộng thực hiện cơ chế “một cửa” đến cấp cơ sở trong toàn quốc; tiếp tục tinh giản bộ máy; tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và thực hiện một bước cải cách tài chính công.

Cùng với việc lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm cải cách, Đảng và Nhà nước rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm điểm, làm thử, rút kinh nghiệm, với những sáng kiến, những việc làm mới. Năm 1995, thực hiện thí điểm cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa, một dấu” tại Quận 1, Quận 5 và huyện Củ Chi của thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm đã từng bước mở rộng thí điểm, triển khai thực hiện ra các tỉnh, thành, quận, huyện và xã, phường, thị trấn trên toàn quốc. Việc cải cách tài chính công cũng được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo từng bước làm điểm, rút kinh nghiệm. Đầu năm 2000, thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thí điểm “khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính” tại 3 sở, 4 quận và 3 huyện; năm 2001, mở rộng thực hiện đối với các cơ quan HCNN. Năm 2002, thực hiện chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu và từng bước triển khai thực hiện ở các bộ, ngành từ trung ương tới địa phương.

Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cải cách nền HCNN trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước từng bước nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách; lựa chọn đúng phương thức cải cách, đạt được nhiều kết quả thiết thực. Qua đó, rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, lãnh đạo, chỉ đạo cải cách nền HCNN, Đảng và Nhà nước thực hiện theo một chiến lược tổng thể, đồng bộ, cơ bản, lâu dài.

Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu đối với Đảng, Nhà nước phải giải quyết hàng loạt các vấn đề đối với nền HCNN một cách đồng bộ và có hệ thống. Đó là các vấn đề vừa mang tính chính trị, vừa mang tính pháp quyền, vừa mang tính hành chính nghiệp vụ kỹ thuật. Cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật quán triệt đầy đủ quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, tạo khung pháp lý cho hoạt động của các quá trình kinh tế – xã hội; cùng với một tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, đa năng, khoa học, hợp lý, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cao; với một đội ngũ cán bộ, công chức hành chính có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, có kiến thức, trình độ, năng lực chuyên môn cao, phong cách làm việc chuyên nghiệp và hiện đại; sử dụng có hiệu quả các công cụ, phương tiện để quản lý kinh tế – xã hội, nhất là nguồn tài chính, ngân sách.

Hai là, trên cơ sở cải cách cơ bản, đồng bộ nền HCNN, Đảng và Nhà nước xác định rõ hình thức, biện pháp với từng bước cải cách vững chắc theo một lộ trình hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và lựa chọn đúng khâu đột phá.

Khi bước vào thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nền HCNN của ta còn nhiều vấn đề do lịch sử để lại. Đó là nền hành chính quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trong nhiều năm, chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; mang nặng dấu ấn và những hạn chế của phương thức quản lý cũ bằng mệnh lệnh hành chính; trình độ quản lý nhà nước đối với kinh tế – xã hội còn nhiều bất cập… Trong khi đó, nhiệm vụ cách hành chính theo hướng hiện đại ở nước ta là một việc làm mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử; chưa có đủ kiến thức, kinh nghiệm và các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết… Do đó, Đảng và Nhà nước phải căn cứ vào tính chất, đặc điểm, điều kiện thực tiễn, trình độ phát triển kinh tế – xã hội và thực trạng của nền HCNN để lựa chọn nội dung, hình thức, với từng bước đi vững chắc, có lộ trình thích hợp, có trọng tâm, trọng điểm ở từng lĩnh vực, từng giai đoạn lịch sử. Thực hiện phương thức vừa làm, vừa tổng kết thực tiễn, vừa rút kinh nghiệm; vừa sáng tạo, vừa tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới; vừa tiếp thu truyền thống, vừa phát triển theo hướng hiện đại.

Ba là, coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo làm điểm, làm thử, rút kinh nghiệm; trên cơ sở đó tiếp tục rút kinh nghiệm và chỉ đạo mở rộng thực hiện đồng loạt ở các cơ quan HCNN.

Cải cách nền HCNN theo hướng dân chủ, chính quy, chuyên nghiệp, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới là việc làm khó khăn, phức tạp. Nhiều nội dung, công việc mới chúng ta chưa làm bao giờ, nhưng lại liên quan đến nhiều vấn đề của đời sống kinh tế – xã hội, đến lợi ích của đất nước và nhân dân, đòi hỏi các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước trước khi triển khai thực hiện phải nghiên cứu, cân nhắc cẩn thận với cách làm phù hợp; phải lãnh đạo, chỉ đạo làm điểm, làm thử, rút kinh nghiệm nghiêm túc. Qua đó, tổng kết những việc làm hay, những mặt tích cực để nhân rộng, phát triển; đồng thời đánh giá đúng những hạn chế, vướng mắc, bất hợp lý, tìm ra nguyên nhân kịp thời khắc phục rút kinh nghiệm, tránh những thiệt hại về vật chất, tinh thần cho Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bốn là, cải cách nền HCNN ở nước ta được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, không giáo điều, dập khuôn máy móc, có quyết tâm chính trị cao; gắn xây với chống.

Cải cách nền HCNN trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền của các nhà tư tưởng trên thế giới với tổng kết, kế thừa, tiếp thu những kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong nước và quốc tế; vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vừa tiếp thu những ý tưởng sáng tạo, vừa khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém.

Để thực hiện tốt công cuộc cách hành chính, Đảng và Nhà nước thường xuyên đổi mới tư duy lý luận, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện với quyết tâm chính trị cao; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lại những “lực cản” trong quá trình cải cách. Đó là tư tưởng nôn nóng, chủ quan, duy ý chí, muốn đốt cháy giai đoạn; cải cách thiếu tính khoa học, không dựa trên cơ sở pháp luật, trên những điều kiện thực tiễn về trình độ phát triển kinh tế – xã hội, đặc điểm truyền thống dân tộc, hoàn cảnh lịch sử cụ thể và thực trạng của nền hành chính… dẫn đến mất ổn định chính trị – xã hội hoặc khuynh hướng giáo điều, bảo thủ trì trệ, không muốn cải cách, cải cách nửa vời, dập khuôn máy móc theo mô hình, cách thức của nước ngoài….

Ghi chú:

(1) Đỗ Mười, Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1996, tr.40.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, H. 1991, tr.43.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VII, H. 1991, tr.20.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1996, tr.131.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2001, tr.337.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2007, tr.158.

Cải cách hành chính nhà nước trong thời kỳ đổi mới đất nước

Quan điểm triết học về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN việt nam

Quan điểm triết học về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN việt nam

PHẦN MỞ ĐẦU

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định nhiệm vụ xây dựng NNPQ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển Kinh tế – xã hội. Sự xây dựng NNPQ XHCN trong báo cáo chính trị của Đại hội IX không chỉ là khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế mà còn là sự đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu mới, một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Khởi đầu từ cách mạng tháng Tám năm 1945. Cách mạng tháng Tám thành công, bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước toàn dân đồng bào ngày 2/9/1945 đã khẳng định quyết tâm của toàn dân tộc Việt Nam không chỉ trong mục tiêu độc lập dân tộc mà còn trong mục tiêu phấn đấu vì một chế độ pháp quyền độc lập dân chủ,….

Trung thành với mục tiêu dân chủ, dân quyền, dân sinh, ngay sau khi dành được độc lập, dân tộc Việt Nam đã bắt tay vào xây dựng một bản Hiến pháp. Ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ giữa muôn vàn khó khăn thách thức, Hồ Chí Minh đã đề xuất một trong những nhiệm vụ cấp bách là “phải có một hiến pháp dân chủ”….  Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ,…”.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chủ Tịch, Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc Viện Nam và trong lịch sử dân tộc Đông Nam Á đã được xây dựng và thông qua. Với Hiến pháp năm 1946 chủ nghĩa lập hiến và quyền con người từ các giá trị tư tưởng đã trở thành các giá trị pháp luật hiện thực trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những quy định của Hiến pháp năm 1946 là những chuẩn mực hiến định đầu tiên cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Đã hơn bảy mươi năm trôi qua, 5 bản Hiến pháp đã lần lượt thông qua tương ứng với các giai đoạn phát triển của cách mạng nước ta. Vượt lên tất cả sự thăng trầm, phức tạp của thời cuộc, mỗi một bản Hiến pháp, kể cả Hiên pháp 1946, Hiên pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp năm 2013 là một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền XHCN của chúng ta.

Tuy nhiên quá trình xây dựng và tăng cường Nhà nước trong mấy chục năm qua cho thấy, hàng loạt vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Nhà nước vẫn chưa được tổng kết làm rõ. Do vậy, các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước được triển khai trong nhiều giai đoạn lịch sử vẫn chưa đưa lại các kết quả mong muốn. Sự bất cập trong tổ chức bộ máy Nhà nước và cơ chế vận hành của bộ máy này đang cản trở việc phát huy vai trò của Nhà nước ta trong cơ chế kinh tế mới. Nhận thức lý luận về chế độ Pháp quyền trong hoạt động Nhà nước và xã hội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước hiện nay và do vậy chưa tạo lập được cơ sở khoa học vững chắc cho việc tìm kiếm các giải pháp cải cách thực tiễn với đời sống Nhà nước. Chính vì thế sự nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền đang là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền và những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

1.1.1 Khái niệm

Trong quá trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến nhà nước và pháp luật thì vấn đề NNPQ đã và đang trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cưu trong và ngoài nước. Hiện tại, do có nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận vấn đề ở những khía cạnh khác nhau, chính vì thế một số vấn đề cơ bản có liên quan đến NNPQ vẫn chưa có được một tiếng nói chung giữa các tác giả. Tuy nhiên, đa phần các tác giả hiện nay đều thống nhất rằng dưới góc độ chính trị – xã hội và phân tầng giai cấp xã hội, NNPQ không phải là một kiểu nhà nước mới, thoát ly các kiểu nhà nước đã tồn tại từ trước như: Nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước XHCN.

Tóm lại, NNPQ là một hình thức tổ chức nhà nước khá đặc biệt, mà ở pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất với mục tiêu thực hiện quyền lực của nhân dân

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

Những đặc trưng này được xem là các giá trị phổ biến của NNPQ nói chung đã được đề cập trong nhiều quan điểm, học thuyết của các nhà tư tưởng, các nhà lý luận chính trị – pháp lý trong lịch sử phát triển các tư tưởng chính trị – pháp lý nhân loại.

– Thứ nhất: NNPQ có sự ngự trị cao nhất của pháp luật.

+ Luật pháp là tiêu chuẩn cao nhất, là căn cứ cơ bản nhất, là công cụ quản lý chủ yếu để quản lý mọi hoạt động của xã hội và công dân.

+ Quyền lực của pháp luật vượt trên quyền lực của mọi tổ chức chính trị xã hội hay của mọi cá nhân.

Đây là đặc điểm tiêu biểu nhất về phương diện pháp lý để xác định một nhà nước nào đó có phải là NNPQ hay không và là NNPQ ở trình độ nào.

– Thứ hai: NNPQ ở đó quyền lực nhà nước phải thể hiện ý chí và lợi ích của đại đa số nhân dân

+ Thực hiện chế độ dân chủ trong việc thiết lập quyền lực.

+ Mỗi cá nhân đều là công dân tự do, có quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, được quyền làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cấm.

+ Pháp luật chỉ nghiêm cấm những hành vi xâm hại đến lợi ích của các cá nhân hay tổ chức xã hội.

– Thứ ba, NNPQ có sự bảo đảm thực tế mối quan hệ hữu cơ về quyền và trách nhiệm giữa nhà nước và công dân.

+ Quyền công dân thuộc về trách nhiệm của nhà nước và ngược lại, quyền của nhà nước thuộc về trách nhiệm của công dân.

+ Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước mọi công dân về những vi phạm pháp luật của mình, làm phương hại đến lợi ích của công dân, của các tổ chức trong xã hội. Ngược lại, công dân và các tổ chức trong xã hội phải thực hiện các nghĩa vụ và chịu trách nhiệm về những hành vi của mình theo quy định của pháp luật.

Ngoài ba đặc trưng chung cơ bản nêu trên của NNPQ, một số tác giả cho rằng nguyên tắc “ Tam quyền phân lập” cũng là một trong những nguyên tắc đặc trưng của mọi NNPQ. Theo nguyên tắc này, quyền lực nhà nước được phân thành ba nhánh quyền lực chính là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.

1.2. Tư tưởng triết học về nhà nước pháp quyền trong lịch sử

Tư tưởng NNPQ đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị – pháp lý, gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc Châu Âu vì tự do, dân chủ.

Tư tưởng về NNPQ luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng của thời cổ đại như Xôcrat (469-399 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN), Xixêrôn (l06-43 Tr.CN). Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 – 1704), Montesquieu (1698 – 1755), J.J.Rút-xô (1712 – 1778), I.Kant (1724 – 1804), Hêghen (1770 – 1831)… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới.

Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về NNPQ như Tômát Jepphecxơn (1743 – 1826 – tác giả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 – 1809), Jôn A đam (1735 – 1826)…

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay

Mỗi giai đoạn tương ứng với một mức độ phát triển của xã hội và của nhà nước. Xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cần quán triệt những vấn đề có tính nguyên tắc sau:

1 – Xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân là cách thức cơ bản để phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.

Đó là Nhà nước trong đó bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, vì thế quyền lực nhà nước là thống nhất, không tam quyền phân lập nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đó là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do dân chủ, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa mọi sự tuỳ tiện lạm quyền từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, thiếu kỷ cương. Đó là Nhà nước mà mọi tổ chức (kể cả tổ chức đảng), hoạt động phải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình. Vì vậy, xây dựng NNPQ XHCN có quan hệ khăng khít với xây dựng xã hội công dân. Xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, là cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động nội lực của toàn thể nhân dân, của tất cả các thành phần kinh tế vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

NNPQ, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xã hội công dân là bộ ba hợp thành không thể tách rời, là điều kiện và tiền đề cho nhau, là bảo đảm và kết quả của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2 – Hiến pháp và pháp luật nước ta ghi nhận quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu của mình với các cơ quan nhà nước. Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền khiếu nại, tố cáo, v.v.. Các quyền và sự tự do đó trong nhiều trường hợp là điều kiện để nhân dân kiểm tra hoạt động của Nhà nước, nhưng trước hết đó là một trong những phương thức quan trọng để thực hiện dân chủ. Vì vậy, cần chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đổi mới cơ chế, xác định trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, công chức trong việc giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân.

Quyền lực nhà nước ở nước ta là quyền lực nhà nước thống nhất. Sự thống nhất đó là ở mục tiêu chung phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc. Xét theo cơ chế tổ chức thì quyền lực nhà nước tối cao, tức là những chức năng và thẩm quyền cao nhất thuộc về những cơ quan đại diện cho nhân dân. Ở nước ta, đó là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội có thẩm quyền lập hiến và lập pháp; quyền giám sát tối cao; quyền quyết định kế hoạch phát triển đất nước; quyền lập ra các cơ quan và chức vụ quốc gia cao nhất. Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

3 – Một trong những điểm cơ bản của việc xây dựng NNPQ của dân, do dân, vì dân là quyền lực nhà nước thống nhất trên cơ sở phân công và phối hợp trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Có thể hiểu rằng, sự thống nhất là nền tảng, sự phân công và phối hợp là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực nhà nước.

Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động lập pháp đang đứng trước những nhiệm vụ mới mẻ và phức tạp của việc điều chỉnh pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Lập pháp phải bảo đảm tính khả thi của các quy định pháp luật, tính hiệu lực và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật vào cuộc sống. Hoạt động lập pháp phải vừa bảo đảm chất lượng, vừa theo kịp yêu cầu của sự phát triển.

Muốn vậy, cần tổ chức tốt hơn nữa quy trình lập pháp. Quy trình đó phải vừa bảo đảm phản ánh được sự phát triển sống động của đời sống xã hội trong các lĩnh vực, lại vừa bảo đảm tính chuyên môn pháp lý của các quy định để có sự phối hợp chặt chẽ giữa khâu làm luật với việc ban hành các văn bản dưới luật, tổ chức thực hiện pháp luật.

4 – Một trong những nội dung cơ bản của nguyên tắc phân công và phối hợp quyền lực nhà nước và cải cách hành chính là sự phân công, phân cấp giữa trung ương và địa phương. Sự phân công, phân cấp ấy phải nhằm khuyến khích và nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.

Việc phân công và phân cấp giữa trung ương và địa phương phải dựa trên nền tảng của một hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, có tính chuyên nghiệp cao và đủ sức giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra. Đây đang là một khâu yếu.

5 – Đề cao pháp luật, tăng cường pháp chế phải đi liền với việc đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo thói quen và nếp sống tôn trọng pháp luật trong cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân. Cho nên, xây dựng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống phải thực sự là hai mặt của một nhiệm vụ. Đổi mới và hoàn thiện pháp luật phải đi liền với đổi mới và hoàn thiện thực tiễn áp dụng pháp luật.

Tăng cường hoạt động xây dựng pháp luật phải đi liền với việc khuyến khích và tạo điều kiện cho các hoạt động của các tổ chức và công dân nhằm sử dụng đầy đủ quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ của họ, sự khuyến khích tính tích cực pháp lý phải đi liền với việc hoàn thiện các thủ tục pháp lý, đổi mới và cải cách hành chính và hệ thống tư pháp. Đồng thời, đề cao pháp luật và pháp chế còn đặt ra nhiệm vụ phải bằng mọi cách nâng cao sự hiểu biết pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các vi phạm và tội phạm, kiên quyết chống quan liêu và tham nhũng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.

6 – Thực thi quyền lực và thi hành pháp luật là những hoạt động luôn luôn cần đến sự kiểm tra, giám sát đầy đủ và hữu hiệu. Các hình thức và cơ chế kiểm tra, giám sát phải thực sự được coi trọng và hoàn thiện ở mức cao nhất, bảo đảm cho quyền lực nhà nước luôn nằm trong quỹ đạo phục vụ nhân dân và đất nước, pháp luật luôn luôn được tôn trọng, pháp chế và kỷ cương được giữ vững. Đối với các cơ quan nhà nước, kiểm tra, giám sát là cách tốt nhất để các cơ quan đó thực hiện đúng chức trách và thẩm quyền của mình, đồng thời là điều kiện phối hợp các hoạt động một cách có hiệu quả. Đến lượt mình, các hoạt động, các hình thức và cơ chế kiểm tra, giám sát phải có sự phân công, phối hợp đầy đủ và hoàn thiện hơn.

7 – NNPQ của chế độ ta thể hiện những tư tưởng, quan điểm tích cực, tiến bộ, phản ánh mơ ước và khát vọng của nhân dân đối với công lý, tự do, bình đẳng. Trong việc xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân hiện nay, về mặt nhận thức, cần khẳng định các mối quan hệ chủ đạo giữa các nguyên tắc và yêu cầu của NNPQ với hệ thống chính trị duy nhất một đảng lãnh đạo; với phương thức tổ chức nhà nước tập trung có phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; với việc tôn trọng các quyền tự do của công dân và nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân trong việc bảo đảm một xã hội trật tự, kỷ cương.

2.2. Một số hạn chế của việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Thứ nhất, việc giữ vững tính chất giai cấp công nhân và tính chất nhân dân, tính chất nhân đạo của Nhà nước chưa được thực hiện triệt để. Địa vị chính trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ. Giai cấp công nhân còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế.

Thứ hai, các giá trị của nền dân chủ XHCN đã được phát huy nhưng chưa xứng tầm với yêu cầu của NNPQ XHCN. Biểu hiện ở chỗ, thể chế luật pháp để bảo đảm dân chủ được thực thi chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ, thiếu ổn định và tính khả thi của nó. Không ít quy định pháp luật được xây dựng công phu, tốn kém, nhưng mới ban hành chưa lâu đã có nhu cầu phải bổ sung, sửa đổi. Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu quả, một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức sa sút về phẩm chất, yếu kém về năng lực.

Thứ ba, công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị còn nhiều hạn chế, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn yếu về khả năng cạnh tranh. Bộ máy của hệ thống chính trị còn quá cồng kềnh, chưa thật trong sạch, vững mạnh; hiệu lực và khả năng quản lý, điều hành chưa ngang tầm với tình hình mới, cơ chế vận hành chưa thật khoa học. Sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện 3 quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp còn nhiều điểm chưa rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn yếu về khả năng cạnh tranh, chưa tăng cường được vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, chưa phát triển được kinh tế hợp tác và phát huy khả năng của các thành phần kinh tế, chậm đổi mới so với yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế.

Thứ tư, nguyên tắc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam cần có sự tiếp thu và vận dụng các giá trị phổ biến và kinh nghiệm thế giới về xây dựng NNPQ còn có những hạn chế nhất định. Hệ thống pháp luật về hội nhập quốc tế chưa được hoàn thiện, việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ. Đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo vệ môi trường…chưa có các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vv…

Thứ năm, đối với nguyên tắc Đảng lãnh đạo thì sự lãnh đạo của Đảng chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước, vẫn còn tình trạng buông lỏng và bao biện, chồng chéo nên chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực điều hành của bộ máy nhà nước. Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của Đảng chưa được tiến hành thường xuyên, các biện pháp xử lý vi phạm của Đảng còn nhẹ tay nên hạn chế về tính răn đe.

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Đó chính là sự tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới. Thực tiễn đổi mới trong những năm qua đã khẳng định yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan, mang tính quy luật của quá trình đi lên CNXH trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam là xây dựng một nhà nước thực sự của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ, nhân đạo, công bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; nhà nước được tổ chức và vận hành một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước, tổ chức, hoạt động của nhà nước phải đặt trên cơ sở pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật.

Để từng bước xây dựng và hoàn thiện nhà nước ta cần phải:

1 – Kiên trì vận dụng những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam.

2 – Đổi mới cơ cấu quản lý nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho toàn xã hội, đời sống nhân dân.

3 – Hoàn thiện hệ thống pháp luật về nội dung và hình thức, ưu tiên ban hành các luật về kinh tế, cải cách bộ máy nhà nước, về quyền của công dân nhằm tạo ra một khung pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động xã hội, nhà nước và công dân.

4 – Tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật, lối sống tuân theo pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt với cán bộ công chức.

5 – Tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật.

6 – Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật.

7 – Hoàn thiện hoạt động lập pháp, giám sát của Quốc hội, hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước và các cơ quan tư pháp.

8 – Mở rộng dân chủ, phát huy tính tích cực chính trị xã hội của quần chúng, thực hiện đầy đủ dân chủ ở cơ quan, tổ chức, cơ sở.

9 – Công khai hóa mọi lĩnh vực hoạt động nhà nước, trừ những lĩnh vực liên quan đến bí mật, an ninh quốc gia, bảo đảm quan điểm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tạo ra môi trường phát triển kinh tế, văn hóa,xã hội, bảo đảm sự ổn định về chính trị, sự thống nhất về tư tưởng.

KẾT LUẬN

Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là xây dựng một nhà nước thực sự của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ, nhân đạo, công bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; nhà nước được tổ chức và vận hành một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước, tổ chức, hoạt động của nhà nước phải đặt trên cơ sở pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân là một cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, vừa phải chống tư tưởng bảo thủ, vừa phải chống tư tưởng cực đoan và phải đi từng bước vững chắc, giữ vững ổn định chính trị. Chính vì vậy, ngoài việc kiên định các nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã đúc kết được, còn cần phải thống nhất nhận thức và quyết tâm thực hiện trong toàn bộ hệ thống chính trị. Với quyết tâm cháy bỏng và sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm của Đảng cộng sản Việt Nam, chúng ta tin tưởng nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân sẽ tiếp tục giành được những thành tựu mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
  2. Chính trị học (1994) . Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
  3. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 – Khoá VII, Hà Nội – 1995.
  4. Giáo trình triết học (2006), Nhà xuất bản lý luận chính trị.
  5. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr.131.
  6. Nguyễn Trọng Thóc (2005) Một vấn đề xây dựng NNPQ Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân. Đại học Nha Trang.

Quan điểm triết học về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN việt nam

Mục tiêu, nhiệm vụ của xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Mục tiêu, nhiệm vụ của xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

– Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ,

– Có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân

– Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức

– Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm;

– Hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống;

– Hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức tương ứng với trách nhiệm và có chế tài nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức;

– Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức: Hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu trước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm;

– Tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm được cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội.

– Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

Mục tiêu, nhiệm vụ của xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến năm 2020 trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính

Nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến năm 2020 trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính

– Cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là những thủ tục liên quan tới người dân, doanh nghiệp;

– Trong giai đoạn 2011 – 2015, cải cách thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững. Một số lĩnh vực cần tập trung là: Đầu tư; đất đai; xây dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu; y tế; giáo dục; lao động; bảo hiểm; khoa học, công nghệ và một số lĩnh vực khác do Thủ tướng quyết;

– Cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các ngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước;

– Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật;

– Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính bằng các hình thức thiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí mà cá nhân, tổ chức phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;

– Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục hành chính; giảm mạnh các thủ tục hành chính hiện hành; công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện;

– Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

Nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến năm 2020 trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính

Mục tiêu chủ yếu cải cách hành chính cho từng giai đoạn

Mục tiêu chủ yếu cải cách hành chính cho từng giai đoạn

Chương trình tổng thể cải cách hành chính đến năm 2020 của Chính phủ đề ra mục tiêu cho từng giai đoạn như sau:

1. Giai đoạn 1 (2011 – 2015)

– Một là: Sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương để không còn sự chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan hành chính nhà nước; trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được phân định hợp lý;

– Hai là: Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới cơ bản;

– Ba là: Thể chế về sở hữu, đất đai, doanh nghiệp nhà nước được xây dựng và ban hành ngày càng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

– Bốn là: Thủ tục hành chính liên quan đến cá nhân, tổ chức được cải cách cơ bản theo hướng gọn nhẹ, đơn giản; mỗi năm đều có tỷ lệ giảm chi phí mà cá nhân, tổ chức, phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước;

– Năm là: Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai 100% vào năm 2013 tại tất cả các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 60%;

– Sáu là: Từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, bảo đảm sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 60% vào năm 2015;

– Bảy là: 50% các cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm; trên 80% công chức cấp xã ở vùng đồng bằng, đô thị và trên 60% ở vùng miền núi, dân tộc đạt tiêu chuẩn theo chức danh;

– Tám là: Tiếp tục đổi mới chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức. Tập trung nguồn lực ưu tiên cho điều chỉnh mức lương tối thiểu chung; xây dựng và ban hành cơ chế tiền lương riêng đối với từng khu vực.

– Chín là: 60% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên mạng điện tử; 100% cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử ; cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 2 và hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp;

– Mười là: Các trang tin, cổng thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành việc kết nối với Cổng thông tin điện tử Chính phủ, hình thành đầy đủ Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet.

2. Giai đoạn 2 (2016 – 2020)

– Một là: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

– Hai là: Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả;

– Ba là: Thủ tục hành chính được cải cách cơ bản, mức độ hài lòng của nhân dân và doanh nghiệp đạt mức trên 80% vào năm 2020;

– Bốn là: Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước; 100% các cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm;

– Năm là: Chính sách tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản; thực hiện thang, bảng lương và các chế độ phụ cấp mới; đến năm 2020 đạt được mục tiêu quy định tại Điểm h Khoản 4 Điều 3 Nghị quyết này;

– Sáu là: Sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trên các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 80% vào năm 2020; sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020;

– Bảy là: Đến năm 2020, việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đạt được mục tiêu quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 3 Nghị quyết này.

Mục tiêu chủ yếu cải cách hành chính cho từng giai đoạn

Những mục tiêu chương trình tổng thể cải cách hành chính đến năm 2020 của Chính phủ

Những mục tiêu chương trình tổng thể cải cách hành chính đến năm 2020 của Chính phủ

Chương trình tổng thể cải cách hành chính đến năm 2020 của Chính phủ đề ra 5 mục tiêu sau:

– Một là, xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.

– Hai là, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính.

– Ba là, xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước.

– Bốn là, bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước.

– Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.

Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.

Những mục tiêu chương trình tổng thể cải cách hành chính đến năm 2020 của Chính phủ

Cải cách hành chính là gì? Tại sao Chính phủ lại lựa chọn cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá ?

Cải cách hành chính là gì? Tại sao Chính phủ lại lựa chọn cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá ?

Đứng trên góc độ hành chính học, việc nghiên cứu thuật ngữ cải cách hành chính trước hết phải được bắt đầu từ khái niệm “cải cách”. Cải cách có nghĩa là “sửa đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan”[41, tr 208]; hay là “sự sửa đổi căn bản từng phần, từng mặt của đời sống xã hội theo hướng tiến bộ mà không đụng tới nền tảng của chế độ xã hội hiện hành”[38, tr 58].

Trên cơ sở khái niệm cải cách, đã có nhiều khái niệm về cải cách hành chính được đưa ra như sau:

– “Cải cách hành chính có thể hiểu là một quá trình thay đổi cơ bản, lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồn lực để tạo ra hiệu lực và hiệu quả quản lý và chất lượng các sản phẩm (dịch vụ hoặc hàng hoá) phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực. Hiểu theo nghĩa này, cải cách hành chính là những thay đổi được thiết kế có chủ định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước từ việc: lập kế hoạch; định thể chế; tổ chức; công tác cán bộ; tài chính; chỉ huy; phối hợp; kiểm tra; thông tin; và đánh giá. Cũng có thể hiểu cải cách hành chính là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước”[22, tr1].

– Có những học giả đã đưa ra khái niệm theo hướng nhấn mạnh kế hoạch, tính mục tiêu, tính tiến bộ và những nỗ lực để cải cách hành chính. Chẳng hạn, tác giả Gerald E Caiden cho rằng: “Cải cách hành chính là sự tác động nhân tạo của việc chuyển đổi hành chính chống lại sự kháng cự”[61, tr 1].

– Một số tác giả khác lại nhấn mạnh việc nâng cao hiệu suất, cải tiến chế độ và phương thức hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới. Họ cho rằng: “cải cách hành chính là quá trình lâu dài và liên tục nhằm nâng cao hiệu suất hành chính, cải tiến chế độ và phương thức hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong phạm vi quản lý của hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp cũng như tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước”[56, tr 49].

– Khi đi sâu nghiên cứu về nội dung cải cách nền hành chính, một số tác giả cho rằng: “cải cách hành chính đề cập đến những thay đổi trong toàn bộ hệ thống hành chính công, nó bao gồm toàn bộ việc tổ chức lại các bộ, xác định nhiệm vụ và chức năng của các đơn vị hành chính, cải tiến các phương thức và thủ tục, đào tạo cán bộ…; Cải tiến sự phối hợp ở cấp cao hơn của chính phủ. Mọi sự cải tiến cơ cấu, thủ tục, năng lực và động cơ của cán bộ với mực đích nâng cao năng lực quản lý và tổ chức của các tổ chức công cũng được xem là cải cách hành chính theo nghĩa này”[42, tr 43].

– Trong Từ điển hành chính, “Cải cách hành chính là hệ thống những chủ trương, biện pháp tiến hành những sửa đổi, cải tiến mang tính cơ bản và có hệ thống nền hành chính nhà nước (hay còn gọi là nền hành chính công, nền hành chính quốc gia) về các mặt: Thể chế, cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, chế độ công vụ, quy chế công chức, năng lực, trình độ, phẩm chất phục vụ của đội ngũ công chức làm việc trong bộ máy đó”[43, tr 31].

Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn; các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn; cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội của một quốc gia.

Từ các khái niệm và cách nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau có thể tổng kết lại như sau: Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại.

Chính phủ chọn cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính bởi các lý do sau đây:

– Thứ nhất, cải cách thủ tục hành chính là một nội dung của cải cách hành chính, nhưng là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế.

– Thứ hai, trong điều kiện nguồn lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể cùng một lúc thực hiện được nhiều nội dung cải cách như: cải cách tài chính công, cải cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ máy… thì việc lựa chọn khâu cải cách thủ tục hành chính sẽ mang lại hiệu quả thiết thực nhất.

– Thứ ba, thông qua cải cách thủ tục hành chính, chúng ta có thể xác định căn bản các công việc của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó chúng ta có thể xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý, đáp ứng được yêu cầu công việc.

– Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính là tiền đề để thực hiện các nội dung cải cách khác như: nâng cao chất lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói quen, cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp của bộ máy hành chính; thực hiện chính phủ điện tử, …

– Thứ năm, cải cách thủ tục hành chính có tác động to lớn đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính sẽ gỡ bỏ những rào cản về thủ tục hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính.

– Thứ sáu, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam nói chung và các bộ, ngành, địa phương nói riêng trước cộng đồng trong nước và quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam cũng như của các địa phương về tính minh bạch, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Đây là những giá trị vô hình nhưng có tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cụ thể là có ảnh hưởng tích cực đến việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập khẩu, việc làm, an sinh xã hội…

Cải cách hành chính là gì? Tại sao Chính phủ lại lựa chọn cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá ?

Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

Hoạt động kinh tế của xã hội có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Nó có thể hàm chứa cả những khía cạnh kỹ thuật của quá trình sản xuất. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của kinh tế học không phải là những vấn đề kỹ thuật. Nó chỉ quan tâm đến kỹ thuật hay công nghệ dưới góc nhìn kinh tế. Ví dụ, với các kỹ thuật sản xuất mà xã hội hiện có, việc lựa chọn cách thức sản xuất (hay kỹ thuật sản xuất) nào là hợp lý? Hay: những biến đổi trong kỹ thuật sản xuất sẽ đem lại những hậu quả kinh tế gì? Sự lựa chọn các quyết định có tính chất kinh tế luôn gắn liền với việc so sánh và cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của những người có liên quan.

Với cách hiểu như vậy, có thể nói, kinh tế học quan tâm đến các lựa chọn kinh tế (và các hậu quả của chúng) trong phạm vi xã hội nói chung. Tuy nhiên, khi đối tượng nghiên cứu của kinh tế học được giới hạn lại trong một lĩnh vực cụ thể, xác định nào đó, nó phát triển thành các môn kinh tế học cụ thể như: kinh tế học tiền tệ – ngân hàng, kinh tế học môi trường, kinh tế học nhân lực hay kinh tế học công cộng v.v…Chẳng hạn, kinh tế học công cộng chính là môn khoa học ứng dụng các nguyên lý kinh tế học vào việc xem xét, phân tích hoạt động của khu vực công cộng. Các môn kinh tế học cụ thể có thể được xem như những nhánh khác nhau của kinh tế học. Song, khác với việc rẽ nhánh sâu vào các lĩnh vực cụ thể của đối tượng nghiên cứu, ở phạm vi rộng hơn, kinh tế học bao gồm hai phân nhánh chính: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.

Kinh tế học vi mô:

Kinh tế học vi mô tập trung nghiên cứu các hành vi của các cá nhân (những người sản xuất và người tiêu dùng) trên từng thị trường hàng hóa riêng biệt. Nền kinh tế được hợp thành từ nhiều thị trường hàng hoá khác nhau (các thị trường: vải vóc, quần áo, ô tô, gạo, máy móc, lao động v.v…). Khi nghiên cứu về các lựa chọn kinh tế, kinh tế học vi mô xem xét những lựa chọn này trong khuôn cảnh của một thị trường cụ thể nào đó. Nói chung, nó tạm thời bỏ qua những tác động xuất phát từ các thị trường khác. Nó giả định các đại lượng kinh tế chung của nền kinh tế như mức giá chung, tỷ lệ thất nghiệp v.v… như là những biến số đã xác định. Hướng vào từng thị trường cụ thể, nó xem xét xem những cá nhân như người tiêu dùng, nhà kinh doanh (hay doanh nghiệp), nhà đầu tư, người có tiền tiết kiệm, người lao động v.v… lựa chọn các quyết định như thế nào? Nó quan tâm xem sự tương tác lẫn nhau giữa những người này, trên một thị trường riêng biệt nào đó, diễn ra như thế nào và tạo ra những kết cục gì? Chẳng hạn, khi phân tích về thị trường vải, nhà kinh tế học vi mô sẽ quan tâm đến những vấn đề như: những yếu tố nào chi phối các quyết định của những người tiêu dùng vải? Nhu cầu về vải của mỗi cá nhân và của cả thị trường được hình thành như thế nào và biến động ra sao? Người sản xuất vải sẽ lựa chọn các quyết định như thế nào khi đối diện với các vấn đề như: số lượng công nhân cần thuê? lượng máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu cần đầu tư, mua sắm? sản lượng vải nên sản xuất? Khi những người tiêu dùng và người sản xuất vải tham gia và tương tác với nhau trên thị trường thì sản lượng và giá cả vải sẽ hình thành và biến động như thế nào? Thật ra, các biến số giá cả và sản lượng thường quan hệ chặt chẽ với nhau. Giá cả thị trường của một loại hàng hoá một mặt, được hình thành như là kết quả tương tác lẫn nhau của nhiều người tham gia vào các giao dịch thị trường (những người tiêu dùng với nhau, những người sản xuất với nhau và khối những người tiêu dùng và khối những người sản xuất với nhau); mặt khác, lại ảnh hưởng trở lại đến các quyết định của những người này. Vì thế, lý thuyết kinh tế học vi mô đôi khi còn được gọi là lý thuyết giá cả. Các thị trường thường có quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau. Những biến động trên thị trường vải chắc chắn có liên quan đến những biến động trên thị trường quần áo may sẵn. Khi chúng ta tách ra một thị trường để nghiên cứu, coi những yếu tố có liên quan từ thị trường khác là đã biết và giả định là không thay đổi (do ảnh hưởng trở lại từ thị trường mà ta đang khảo sát được xem là không đáng kể hay tạm thời bị bỏ qua), thì thực ra, đây là một sự đơn giản hoá. Tuy nhiên, sự đơn giản hoá như vậy luôn cần thiết trong nghiên cứu khoa học, khi người ta buộc phải tập trung vào những khía cạnh cốt yếu của vấn đề cần phải khảo sát. Phép phân tích như thế được gọi là phân tích cục bộ và trong kinh tế học vi mô nó được sử dụng như là phương pháp phân tích chủ yếu. Đương nhiên, trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng ngược mà ta đề cập ở trên là đáng kể và không thể bỏ qua, người ta phải dùng phương pháp phân tích phức tạp hơn được gọi là phép phân tích tổng thể chung. Với phép phân tích này, sự tác động qua lại của các thị trường có liên quan đến thị trường vải sẽ phải được tính đến khi chúng ta phân tích về chính thị trường vải.

Kinh tế học vĩ mô:

Kinh tế học vĩ mô tập trung xem xét nền kinh tế như một tổng thể thống nhất. Nó không nhìn nền kinh tế thông qua cái nhìn về từng thị trường hàng hoá cụ thể cũng giống như trường hợp người họa sỹ nhìn một cánh rừng một cách tổng thể thường không để mắt một cách chi tiết đến từng cái cây. Người hoạ sỹ có thể vẽ một cánh rừng mà không nhất thiết phải thể hiện chi tiết những cái cây trong đó.

Khi phân tích những lựa chọn kinh tế của xã hội, kinh tế học vĩ mô quan tâm đến đại lượng hay biến số tổng hợp của cả nền kinh tế. Cũng là phân tích về giá cả, song nó không quan tâm đến những biến động của từng loại giá cụ thể như giá vải, giá lương thực, mà là chú tâm vào sự dao động của mức giá chung. Cần có những kỹ thuật tính toán để có thể quy các mức giá cụ thể của những hàng hoá riêng biệt về mức giá chung của cả nền kinh tế, song đó là hai loại biến số hoàn toàn khác nhau. Sự thay đổi trong mức giá chung được thể hiện bằng tỷ lệ lạm phát. Đo lường tỷ lệ lạm phát, giải thích nguyên nhân làm cho lạm phát là cao hay thấp, khảo cứu hậu quả của lạm phát đối với nền kinh tế cũng như các khả năng phản ứng chính sách từ phía nhà nước v.v… là góc nhìn của kinh tế học vĩ mô về giá cả. Cũng có thể nói như vậy về biến số sản lượng. Khi chỉ quan tâm đến sản lượng của các hàng hoá cụ thể, nghĩa là ta vẫn đang nhìn sản lượng dưới góc nhìn của kinh tế học vi mô. Kinh tế học vĩ mô không chú tâm vào sản lượng của các hàng hoá cụ thể như vải hay lương thực mà quan tâm đến tổng sản lượng của cả nền kinh tế. Tổng sản lượng đó được hình thành như thế nào, do những yếu tố nào quy định, biến động ra sao? Những chính sách nào có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn (hay sự gia tăng liên tục của tổng sản lượng)? v.v… Đó là những câu hỏi mà kinh tế học vĩ mô cần giải đáp.

Kinh tế học vĩ mô cũng có thể chia nền kinh tế thành những cấu thành bộ phận để khảo cứu, phân tích. Song khác với kinh tế học vi mô, các bộ phận cấu thành này vẫn mang tính tổng thể của cả nền kinh tế. Ví dụ, nó xem các kết quả vĩ mô như là sản phẩm của sự tương tác giữa thị trường hàng hoá, thị trường tiền tệ, thị trường lao động. Tuy nhiên, ở đây các thị trường trên đều được xem xét như là các thị trường chung, có tính chất tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế.

Như vậy, kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô thể hiện các cách nhìn hay tiếp cận khác nhau về đối tượng nghiên cứu. Chúng là hai phân nhánh khác nhau của kinh tế học, song có quan hệ chặt chẽ với nhau. Những tri thức kinh tế học vi mô là nền tảng của các hiểu biết về nền kinh tế vĩ mô. Để có những hiểu biết về thị trường lao động chung hay tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế, người ta cần phải nắm được cách lựa chọn hay phản ứng của người lao động và doanh nghiệp điển hình trên một thị trường lao động cụ thể.

Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô