092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập

Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập

Có thể nói hoạt động kiểm toán đã hình thành từ thời Ai Cập, La Mã cổ đại. Nguồn gốc từ xa xƣa của kiểm toán (audit) nghĩa là thông tin đƣợc phê chuẩn bằng cách các tài khoản về tài sản đƣợc đọc to lên và đƣợc một bên độc lập phê chuẩn. Trong thời kỳ Trung cổ, hoạt động kiểm toán chủ yếu là thẩm tra độ chính xác của thông tin tài chính đƣợc thực hiện bởi các kiểm toán viên của Nhà nƣớc. Sau này đến thế kỷ 18, các công ty cổ phần ra đời và phát triển cùng với sự hình thành của thị trƣờng chứng khoán. Từ đó xuất hiện nhu cầu của chủ sở hữu cổ phần muốn kiểm tra tài chính nhằm tránh gian lận của ngƣời quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán đƣợc ra đời phục vụ chủ yếu cho mục đích này.

Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động kiểm toán:

Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì “hoạt động kiểm toán là việc kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính”

Các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đƣa ra định nghĩa khá bao quát về kiểm  toán như sau: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các tiêu chuẩn đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập”

Họat động kiểm toán có nhiều hình thức khác nhau. Nếu phân loại kiểm toán theo chủ thể thực hiện, kiểm toán đƣợc chia thành ba loại hình nhƣ sau:

1. Kiểm toán nhà nƣớc

Là hoạt động kiểm toán do các cơ quan chức năng của nhà nƣớc tiến hành để kiểm tra sự tuân thủ quy định pháp luật về tài chính của đơn vị đƣợc kiểm tra (có sử dụng vốn của Ngân sách nhà nƣớc). Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là: Kiểm toán nhà nƣớc, Thanh tra nhà nƣớc, Thanh tra tài chính chuyên ngành v.v..Ở Việt Nam, Cơ quan Kiểm toán nhà nƣớc là cơ quan kiểm toán cấp cao nhất, trực thuộc Quốc hội. Cơ quan này kiểm tra việc thực hiện ngân sách, quản lý sử dụng tài sản công.

2. Kiểm toán nội bộ

Là việc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo yêu cầu của Ban quản trị hay Ban quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ do nhân viên của đơn vị tự thực hiện kiểm tra, đánh giá về các quy trình quản trị tài chính, quản lý rủi ro trong đơn vị mình. Mục tiêu của kiểm toán nội bộ thƣờng là sự hiệu quả và hữu hiệu của quy trình quản trị doanh nghiệp, phòng ngừa rủi ro, đánh giá việc thực hiện kế hoach của đơn vị.

3. Kiểm toán độc lập

Là hoạt động kiểm toán đƣợc tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các doanh nghiệp kiểm toán độc lập.

Theo Luật kiểm toán độc lập 2011 thì “Kiểm toán độc lập là việc KTV hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính (BCTC) và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”

Ở Việt Nam hoạt động KTĐL xuất hiện từ đầu những năm 1990, vài năm sau khi nƣớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nƣớc ngoài phát triển nhanh chóng kéo theo nhu cầu dịch vụ KTĐL về báo cáo tài chính. Tháng 5/1991 đánh dấu mốc hình thành một công ty KTĐL đầu tiên ở Việt Nam là Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO). Sau đó các công ty kiểm toán cũng dần hình thành và phát triển. Vào năm 2011 Luật kiểm toán độc lập ra đời, đánh dấu một bƣớc phát triển quan trọng về mặt pháp lý cho hoạt động KTĐL và chấm dứt một thời kỳ dài thiếu một luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động KTĐL. Hiện nay có khoảng 160 doanh nghiệp kiểm toán với hơn 11 ngàn nhân viên đang hoạt động
trong lĩnh vực KTĐL trên phạm vi toàn quốc.

Các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) cung cấp các dịch vụ kiểm toán BCTC, soát xét thông tin theo thỏa thuận, tƣ vấn thuế và các dịch vụ khác có liên quan đến chuyên môn v.v…Trong đó dịch vụ kiểm toán BCTC thƣờng chiếm tỷ trọng doanh thu và nhân sự lớn nhất. Kiểm toán báo cáo tài chính (còn gọi tắt là kiểm toán tài chính) của khách hàng là việc kiểm tra nhằm đƣa ra ý kiến về tính hợp lý và trung thực về BCTC của khách hàng, dựa trên các tiêu chuẩn là chế độ kế toán, chuẩn mực Hiện nay hiểu theo nghĩa thông dụng thì thuật ngữ “kiểm toán” tức là kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng. Do vậy, trong phạm vi bài luận văn này, tác giả cần lƣu ý thuật ngữ “kiểm toán” hay “kiểm toán độc lập” đề cập đến hoạt động kiểm toán BCTC của doanh nghiệp. Đây là dịch vụ mang tính điển hình và quan trọng nhất của các doanh nghiệp KTĐL hiện nay.

Căn cứ theo điều 37 của Luật kiểm toán độc lập 2011, một số loại hình doanh nghiệp có ảnh hƣởng quan trọng đến lợi ích công chúng thì bắt buộc phải kiểm toán BCTC hàng năm, bao gồm: tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp kiểm toán, doanh nghiệp nƣớc ngoài v.v…

Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập

Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory)

Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory)

Lý thuyết trật tự phân hạng thị trường còn gọi là lý thuyết thứ tự tăng vốn. Lý thuyết này được nghiên cứu khởi đầu bởi Meyers và Majluf (1984). Xuất phát từ thông tin không cân xứng khi cho rằng nhà quản lý biết về hoạt động tương lai của DN (tiềm năng, rủi ro và giá trị của DN) rõ hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin không cân xứng). Các nhà đầu tư bên ngoài DN quan sát hoạt động tài trợ của DN để có phản ứng lại, xem nó như một sự phát tín hiệu từ phía DN.

Khi công ty phát hành cổ phiếu để huy động vốn, nhà đầu tư bên ngoài DN sẽ xem đây như một tín hiệu xấu khi cho rằng công ty đang gặp khó khăn về vốn, triển vọng phát triển thấp, do đó giá cổ phiếu thường sẽ giảm ngay khi có thông tin về việc phát hành cổ phiếu của công ty. Thêm vào đó, công ty cũng phải mất chi phí liên quan cho việc phát hành, điều này sẽ làm tăng chi phí của nguồn tài trợ bên ngoài so với nguồn vốn nội bộ. Trong khi đó, chỉ những nhà quản lý mới biết rõ thực trạng công ty, nhà quản lý sẽ phát hành cổ phiếu như một kênh huy động vốn khi thiếu vốn và cũng sẽ thực hiện phát hành cổ phiếu khi nhận thấy tiềm năng phát triển của công ty, giá cổ phiếu của công ty đang được thị trường đánh giá cao ngay cả khi không có sẵn các dự án. Vì vậy, việc phát hành cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi hơn là việc vay nợ. Điều này khiến các nhà quản trị quan tâm đến vay nợ hơn là huy động vốn cổ phần bằng phát hành cổ phiếu.

Cơ cấu nguồn vốn được quyết định bởi việc DN cân nhắc lựa chọn từ 3 nguồn chính: nguồn vốn nội bộ (chủ yếu là lợi nhuận tái đầu tư) nợ vay (chủ yếu là vay nợ và phát hành trái phiếu) và phát hành cổ phiếu. Do tính không cân xứng đưa đến một trật tự phân hạng (hay thứ tự ưu tiên) trong hoạt động tài trợ cho các dự án như sau: Trước tiên, DN sẽ sử dụng nguồn vốn nội bộ vì như vậy tiết kiệm được chi phí phát hành so với nguồn vốn bên ngoài. Tiếp theo, DN sử dụng vay nợ mới vì nó ít rủi ro và tránh được tình trạng định giá sai DN bởi thông tin không cân xứng. Cuối cùng DN phát hành vốn cổ phần mới. Đây là phương án cuối cùng khi DN đã sử dụng hết khả năng vay nợ.

Xem thêm: Lý thuyết đánh đổi về cơ cấu nguồn vốn (Trade of theory)

Do đó theo Meyers, cơ cấu nguồn vốn không chỉ phụ thuộc vào TOT mà còn phụ thuộc vào tính không cân xứng giữa nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài DN.

Những nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu lý thuyết này.

– Myers và Majluf cho rằng không có một cấu trúc vốn tối ưu, việc huy động vốn sẽ theo một trật tự phân hạng nhất định. Thuyết không tập trung vào cơ cấu nguồn vốn tối ưu bởi lợi nhuận tái đầu tư đứng đầu trật tự phân hạng còn vốn cổ phần đứng cuối trật tự phân hạng. Nó tập trung vào các quyết định hiện hành. Quyết định về cơ cấu nguồn vốn không dựa trên hệ số nợ mà dựa trên phân hạng thị trường.

Ưu điểm: Thuyết trật tự phân hạng cho phép DN xác định cơ cấu nguồn vốn ở bất kỳ thời điểm nào, nghĩa là ở trạng thái động. Nó được ưu tiên và hữu ích trong việc giải thích những thay đổi trong cơ cấu nguồn vốn của DN. Nó đã thành công trong việc giải thích tại sao các DN có khả năng sinh lời thấp thường vay nợ nhiều; các DN có khả năng sinh lời cao, cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng duy trì tỷ lệ nợ thấp; các DN có khả năng sinh lời cao, cơ hội đầu tư lớn sẽ vay nợ nhiều hơn. Điều này không hoàn toàn đúng với tất cả DN nhưng đã giải thích được tại sao hầu hết tài trợ bên ngoài của DN chủ yếu là từ nợ vay.

Hạn chế: Thuyết trật tự phân hạng không cho thấy ảnh hưởng của các yếu tố như thuế, chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện tới cơ cấu nguồn vốn. Đồng thời cũng không có mô hình lý thuyết để xác định cơ cấu nguồn vốn tối ưu.

Như vậy, có thể thấy thuyết trật tự phân hạng có cách tiếp cận mới đã bổ sung cho lý thuyết đánh đổi để cùng giải thích cách hành xử, ra quyết định của các công ty đó là:

Thứ nhất, hầu hết các công ty đều ít nhiều sử dụng nợ vay do lợi ích thu được từ việc tiết kiệm thuế. Các chi phí phát sinh khi tăng nợ như chi phí phá sản, chi phí đại diện đặt ra giới hạn cho số lượng vốn vay. Đây là cơ sở lý thuyết hợp lý giải thích tại sao đại đa số các công ty đều sử dụng cả nợ vay và vốn cổ phần. Hệ số nợ mục tiêu là một hệ số nợ trung bình bao gồm cả nợ vay và vốn cổ phần.

Thứ hai, do thông tin bất cân xứng, các công ty đều duy trì một công suất vay nợ dự trữ nhằm nắm thế chủ động trong việc huy động và sử dụng nợ vay. Có thể vay nợ thực hiện đầu tư khi cần thiết mà không phải phát hành cổ phiếu với giá thấp. Do đó, hệ số nợ mục tiêu thường thấp hơn hệ số nợ được xác định trong mô hình lý thuyết đánh đổi.

Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory)

Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư

Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư

1. Doanh nghiệp hạn chế tài chính  và ảnh hưởng  của nguồn vốn nội bộ đến quyết định đầu tư của doanh  nghiệp.

Doanh nghiệp được xem là DN hạn chế tài chính khi DN đó có một khoảng cách giữa chi phí vốn bên trong và chi phí vốn bên ngoài và khoảng cách này càng lớn, thể hiện DN nhiều hạn chế tài chính (Fazzari, Hubbard, và Petersen ,1988; Kaplan và Zingales,1997). Hình 1.2 cho thấy tầm quan trọng của nguồn vốn bên nội bộ trong quyết định đầu tư của DN hạn chế tài chính. Hình 1.2, đường D thể hiện đường cầu đầu tư của DN theo chi phí vốn (WACC). Đường S thể hiện đường cung của vốn. Tại mức chi phí vốn xác định r, nguồn vốn nội bộ sẵn có bên trong của DN là W0, vượt quá W0, đường cung của vốn có chiều hướng đi lên trên, theo mức gia tăng của chi phí vốn bên ngoài do bất cân xứng thông tin. Bởi vì hạn chế của nguồn vốn tài trợ, mức đầu tư cân bằng (I0) lúc này thấp hơn mức đầu tư tốt nhất là I’ và chi phí vốn là r0, cao hơn chi phí vốn r, thể hiện cho việc hạn chế nguồn vốn tài trợ đầu tư.

Như là một kết quả, với chi phí vốn r0, nguồn vốn nội bộ bên trong giảm từ W0 xuống W’, đường cung vốn S cũng dịch chuyển đi lên sang trái thành S’ và hình thành 2 vùng giá trị đã bị đánh mất. Thứ nhất, tam giác AEE’ thể hiện các dự án có NPV dương bị bỏ qua, khiến đầu tư từ I’giảm xuống I0. Thứ hai, vùng gạch chéo ABHDFGE’ thể hiện giá trị bị mất do sự thay đổi về phía trái của đường cung, khiến một số dự án còn sống sót đã được tài trợ với chi phí cao hơn (r’). Vùng tổn thất ABHDFGE’ bao gồm hai phần: phần tứ giác ABGE’, chính là chi phí vốn gia tăng của những dự án được tài trợ bằng nguồn vốn bên ngoài trước và sau sự dịch chuyển của đường cung vốn; phần tứ giác HDFG là chi phí tăng thêm của những dự án được tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ trước và sau sự dịch chuyển của đường cung vốn. Sự phân tích này cho thấy rõ sự ảnh hưởng của hạn chế tài chính đến quyết định đầu tư của DN.

2. Ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư: nghiên cứu trong trường hợp doanh nghiệp hạn chế tài chính.

Theo lý thuyết bất cân xứng thông tin trên thị trường, lý thuyết trật tự phân hạng, nguồn vốn nội bộ được DN ưu tiên sử dụng trước tiên, điều này, cho chúng ta một câu hỏi rằng quyết định đầu tư sẽ như thế nào ở những DN với mức độ dòng tiền nội bộ khác nhau?. Câu hỏi này đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu tìm hiểu sự ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư ở những DN hạn chế tài chính khác với DN ít hoặc không hạn chế tài chính ra sao? Kết quả của hướng nghiên cứu này cho ra hai kết luận trái chiều nhau. Một số nghiên cứu cho rằng, độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền thể hiện mức độ hạn chế tài chính của DN đó và những DN có nhiều hạn chế tài chính đầu tư nhạy cảm với dòng tiền hơn các DN khác, đại diện cho trường phái này là Fazzari và cộng sự (1988). Một trường phái khác thì lại cho rằng, độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền cho chúng ta ít thông tin để kết luận về hạn chế tài chính và DN có ít hạn chế tài chính đầu tư nhạy cảm với dòng tiền hơn DN nhiều hạn chế tài chính, đại diện cho trường phái này là Kaplan & Zingales (1997).

Từ sau hai nghiên cứu này, đã có nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư trong hạn chế tài chính đưa ra những kết luận ủng hộ một trong hai quan điểm trên. Những nghiên cứu ủng hộ nghiên cứu của Fazzari và cộng sự (1988) như nghiên cứu của Allayannis và Mozumdar (2004), Fazzari và cộng sự (2000), Gilchrist và Himmelberg (1995), Hoshi và cộng sự (1991), Oliner và Rudebusch (1992), Schaller (1993). Những nghiên cứu ủng hộ kết quả nghiên cứu của Kaplan và Zingales (1997) như Cleary (1999), Kadapakkam và cộng sự (1998), Kaplan và Zingales (2000). Tại sao lại có hai kết luận trái chiều như vậy? Bởi vì, theo Bhagat và cộng sự (2005), hạn chế tài chính là một đại lượng không quan sát được, những nghiên cứu khác nhau, sử dụng đại lượng đại diện cho hạn chế tài chính khác nhau và đưa đến một kết luận khác nhau về độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền. Cụ thể, nghiên cứu của Hoshi Takeo, Anil Kashyap và David Scharfstein (1991) về cấu trúc vốn với đầu tư của các DN thuộc tập đoàn ở Nhật bản (gọi là các Keiretsu), sử dụng mối quan hệ với ngân hàng để xác định doanh nghiệp hạn chế tài chính, các DN có mối quan hệ tốt với các ngân hàng có khả năng huy động vốn nhanh, rẻ và như thế có ít hạn chế tài chính hơn các DN có mối quan hệ không tốt với các ngân hàng.

Các Keiretsu có quan hệ tốt với ngân hàng lớn, còn các DN riêng lẻ, không thuộc tập đoàn nào, mối quan hệ với ngân hàng kém hơn và do đó, họ gặp khó khăn khi cần nguồn vốn bên ngoài để mở rộng đầu tư. Vì thế, các Keiretsu có ít hạn chế tài chính hơn các DN riêng lẻ. Kết quả kiểm định của Hoshi và cộng sự (1991) cho thấy, các DN riêng lẻ (nhiều hạn chế tài chính) có đầu tư nhạy cảm với dòng tiền hơn các doanh nghiệp thuộc tập đoàn. Như vậy, có thể nói kết luận này ủng hộ nghiên cứu của Fazzari và cộng sự (1988). Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả kiểm định của họ vừa ủng hộ nghiên cứu của Kaplan và Zingales, vừa ủng hộ kết quả nghiên cứu của Fazzari và cộng sự (1988), bởi vì họ sử dụng nhiều đại lượng xác định hạn chế tài chính khác nhau. Chẳng hạn, Cleary Sean (1999) trong bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa đầu tư DN và tình trạng tài chính”, Cleary (1999) sử dụng hai đại lượng xác định hạn chế tài chính là tỷ lệ chi trả cổ tức và chỉ số Z- score của Altman; Moyen Nathalie (2004) sử dụng bốn đại lượng xác định hạn chế tài chính như: tỷ lệ chi trả cổ tức, mức độ dòng tiền, chỉ số KZ (1997), chỉ số Z- score trong nghiên cứu “Độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền ở những doanh nghiệp hạn chế tài chính và DN không hạn chế tài chính”; Bhagat và cộng sự (2005) sử dụng 5 đại lượng xác định hạn chế tài chính trong nghiên cứu “Mối quan hệ giữa đầu tư và dòng tiền của những DN có tình trạng khó khăn tài chính”… Và với mỗi đại lượng xác định hạn chế tài chính khác nhau, kết quả độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền khác nhau.

Một kết quả còn nhiều tranh luận khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư ở những DN nhiều hạn chế tài chính đó là: ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư là thuận chiều hay ngược chiều? Khi xem xét tổng thể hay đối với DN ít/không hạn chế tài chính, các kết quả nghiên cứu cho thấy dòng tiền có tương quan dương với đầu tư, nhưng khi xét DN hạn chế tài chính thì kết quả còn nhiều tranh cãi. Đa số các nghiên cứu cho rằng, dòng tiền ảnh hưởng thuận chiều đến đầu tư ở DN có hạn chế tài chính (Fazzari và cộng sự, 1988; Kaplan và Zingales,1997; Hoshi và cộng sự, 1991; Alti, 2003; Moyen,2004; Cleary và cộng sự, 2007) và một số nghiên cứu có kết luận ngược lại là những DN nhiều hạn chế tài chính ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư là ngược chiều (Cleary và cộng sự ,2004; Bhagat và cộng sự ,2005; Almeida và Campello, 2007). Ảnh hưởng nguọc chiều của dòng tiền đến đầu tư, theo Cleary và cộng sự (2007) và Bhagat và cộng sự (2005) lý giải rằng, tại một mức thấp nào đó của dòng tiền nội bộ, khi dòng tiền nội bộ giảm sút, đầu tư vẫn phải gia tăng nhằm đảm bảo một mức doanh thu theo nghĩa vụ của các hợp đồng mua bán đã ký. Theo các tác giả này, trong trường hợp có một mối quan hệ ngược chiều giữa dòng tiền và đầu tư, nguồn vốn gia tăng đầu tư nên sử dụng vốn chủ sở hữu, không nên sử dụng vốn vay. Khi đó, DN đang thực hiện một “canh bạc”, theo đó nếu đầu tư có hiệu quả, là cơ hội tăng giá trị vốn chủ sở hữu, giúp DN thoát khỏi nguy cơ phá sản. Nếu ngược lại, thì DN chỉ mất phần vốn chủ sở hữu hữu hạn đã đăng ký. Điều này giải thích lý do tại sao các DN có nhiều hạn chế tài chính chấp nhận gia tăng đầu tư ở những dự án với rủi ro cao.

Ngoài ra, có những nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư với sự tác động các yếu tố làm tăng dòng tiền như doanh thu từ việc bán tài sản dư thừa (Hovakimian và Titman, 2006) hay quy mô TSCĐ (Almeida và Campello, 2007). Các nghiên cứu như thế đều cho kết quả, mức độ ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư gia tăng khi DN có thêm các nguồn vốn gia tăng dòng tiền nội bộ. Điều này khẳng định thêm cho kết quả đầu tư của DN khá nhạy cảm với nguồn vốn nội bộ.

Một số nghiên cứu xem xét quan hệ phi tuyến giữa đầu tư và dòng tiền, chẳng hạn nghiên cứu của Povel Paul và Michel Raith (2001) sử dụng mô hình một thời kỳ, mô hình không quan sát đầu tư từ thị trường mà từ các giả định cho những mức đầu tư mục tiêu khác nhau và sử dụng hai đại lượng làm thước đo cho hạn chế tài chính: mức độ của nguồn vốn bên trong và khoảng cách bất cân xứng thông tin giữa DN và các nhà đầu tư bên ngoài. Povel và Raith (2001) đã tìm ra mối quan hệ giữa đầu tư và dòng tiền có hình chữ U và khoảng cách bất cân xứng thông tin càng gia tăng sẽ làm tăng độ nhạy cảm của dòng tiền. Tùy thuộc vào mức độ của nguồn vốn bên trong, một sự suy giảm trong nguồn vốn bên trong có thể dẫn đến sự sụt giảm hoặc không đổi hoặc tăng đầu tư. Cùng ý tưởng với Povel và Raith (2001), Dasgupta và Sengupta (2002) giả sử rằng đầu tư cũng không thể quan sát từ thị trường và sử dụng mô hình hai thời kỳ, Dasgupta và Sengupta (2002) kiểm tra 3 mối quan hệ: (i) Quan hệ giữa dòng tiền (thay đổi trong tính thanh khoản) với đầu tư; (ii) Quan hệ giữa lợi nhuận và đòn bẩy; (iii) Quan hệ giữa cơ hội đầu tư và đòn bẩy. Kết quả kiểm tra mối quan hệ giữa dòng tiền và đầu tư là phi tuyến tính: có một mức thanh khoản cân bằng, và nếu DN có tỷ lệ thanh khoản dưới mức này, dòng tiền khá nhạy cảm với đầu tư hơn trường hợp ngược lại.

Cleary, Povel và Raith (2007) bắt đầu từ ba giả định: thứ nhất, chi phí cho nguồn tài chính bên ngoài cao hơn chi phí của nguồn tài chính nội bộ; thứ 2, chi phí vốn phụ thuộc vào tình hình tài chính của DN và kế hoạch đầu tư; thứ ba, đầu tư phải là đầu tư mở rộng, sử dụng biến dòng tiền hoạt động và vốn lưu động ròng làm đại lượng cho nguồn tài chính bên trong, Cleary và cộng sự (2007) đã tìm thấy mối quan hệ chữ U giữa đầu tư và nguồn tài chính bên trong. Khi nguồn tài chính bên trong của DN lớn (ít hạn chế tài chính), dòng tiền gia tăng tuyến tính với đầu tư và ngược lại, khi nguồn tài chính bên trong thấp (nhiều hạn chế tài chính), dòng tiền giảm khi gia tăng đầu tư. Mối quan hệ chữ U giữa đầu tư và dòng tiền còn được tìm thấy ở nghiên cứu của Hirth Stefan và Marc Viswanatha (2011), Firth Michael, Paul H. Malatesta, Qingquan Xin, Liping Xu (2012).

Điểm qua các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư và độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền trong trường hợp hạn chế tài chính, tác giả nhận thấy rằng, ảnh hưởng dương của dòng tiền đến đầu tư được tìm thấy ở hầu hết các nghiên cứu, kết quả chưa rõ ràng ở DN hạn chế tài chính. Độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền ở những DN ít hạn chế tài chính và nhiều hạn chế tài chính khác nhau như thế nào, là tùy thuộc vào việc lựa chọn đại lượng xác định hạn chế tài chính. Hiện tại, có hai kết luận trái ngược nhau : Thứ nhất, theo kết quả nghiên cứu của Fazzari và cộng sự (1988): Đầu tư ở những DN nhiều hạn chế tài chính nhạy cảm với dòng tiền hơn những DN ít hạn chế tài chính; Thứ hai, theo nghiên cứu của Kaplan và Zingales (1997): Đầu tư ở những DN ít hạn chế tài chính nhạy cảm với đầu tư hơn DN nhiều hạn chế tài chính.

3. Ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư: Nghiên cứu trong trường hợp doanh nghiệp có sự kiểm soát Nhà nước.

Với những mục tiêu về kinh tế xã hội của Chính phủ, đầu tư của các DN có vốn Nhà nước thường cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi những mục tiêu này, đặc biệt là các DN có một tỷ lệ vốn Nhà nước cao, một tỷ lệ đủ để chi phối các quyết định trong hoạt động DN (Firth và cộng sự, 2012). Hiện nay các DN niêm yết ở thị trường Trung Quốc tồn tại một số lượng lớn các DN có tỷ lệ cổ phần Nhà nước, vì thế đã thu hút khá nhiều nghiên cứu xem xét sự khác biệt theo yếu tố sở hữu NN ở thị trường này. Khi đánh giá yếu tố sở hữu NN trong DN cổ phần là một yếu tố thuận lợi hay bất lợi đối với hiệu quả hoạt động DN, thì cho thấy có hai ý kiến khác nhau.

Một ý kiến cho rằng yếu tố sở hữu NN trong DN cổ phần là một yếu tố thuận lợi đối với hiệu quả hoạt động DN. Chẳng hạn, theo nghiên cứu của Cull và Xu (2003), có một mối quan hệ thuận chiều giữa nguồn vốn vay từ ngân hàng với lợi nhuận của các DN sở hữu NN. Điều này có nghĩa rằng, các DN có vốn NN làm ăn hiệu quả và vì thế, các ngân hàng gia tăng khoản vay cho các DN này. Sheshinski và Calva (2003), Allen và cộng sự (2005) cho thấy, các DN có tỷ lệ sở hữu NN lớn ở Trung Quốc dễ tiếp cận nguồn vốn bên ngoài, nhất là vốn vay từ ngân hàng và vì thế, giảm sự phụ vào nguồn vốn nội bộ và giảm khả năng hạn chế tài chính.

Ngoài ra, Allen và cộng sự (2005) nhận định rằng mối quan hệ giữa pháp luật và thị trường tài chính tại Trung Quốc là khá tốt, vì thế Trung Quốc có một nền kinh tế phát triển nhanh nhất, nhưng mối quan hệ giữa pháp luật – tài chính – tăng trưởng áp dụng cho các khu vực Nhà nước và khu vực DN niêm yết thì còn yếu. Khu vực DN tư nhân phát triển nhanh hơn nhiều so với những DN khác và đóng góp khá lớn cho tăng trưởng của nền kinh tế. Sự mất cân bằng giữa ba lĩnh vực cho thấy rằng, sự khác nhau về cơ chế tài chính và cơ chế pháp lý, có thể là các yếu tố hỗ trợ sự phát triển của khu vực tư nhân.

Nghiên cứu của Chen, Firth và Xu (2009) bổ sung thêm bằng chứng cho sự khác biệt giữa các DN có sự kiểm soát Nhà nước. Chen và cộng sự (2009) căn cứ vào việc xác định cổ đông lớn của các DN niêm yết, họ đã phân chia các DN thành 4 loại hình: DN kiểm soát bởi Cục quản lý tài sản quốc gia (SAMBs), DN có vốn Nhà nước kiểm soát bởi Trung ương (SOECGs), DN có vốn NN kiểm soát bởi chính quyền địa phương (SOELGs) và DN kiểm soát bởi tư nhân. Mục tiêu của Chen và cộng sự (2009) là tìm hiểu hiệu quả hoạt động của các nhóm doanh nghiệp SAMB, SOECG và SOELG khác nhau như thế nào. Kết quả kiểm định thực nghiệm của họ cho thấy, các doanh nghiệp SOECG có hiệu quả hoạt động tốt nhất, SAMB có kết quả hoạt động tệ nhất và SOELG có kết quả hoạt động ở mức giữa. Chen và cộng sự (2009) lý giải sự khác biệt này là do mục tiêu và động cơ hoạt động của các DN này khác nhau, mà nguyên nhân là chủ sở hữu kiểm soát DN khác nhau. Họ còn tìm thấy rằng, các DN kiểm soát bởi tư nhân trong nền kinh tế Trung Quốc, không phải là DN hoạt động hiệu quả nhất, có lẽ với thể chế của Trung Quốc các DN được kiểm soát bởi Nhà nước phù hợp nhất.

Ý kiến còn lại cho rằng yếu tố sở hữu NN trong DN cổ phần là một yếu tố bất lợi đối với hiệu quả hoạt động DN. Chẳng hạn, Calomiris, Fisman và Wang (2010), nghiên cứu lợi nhuận của các DN có cổ phần Nhà nước trong nền kinh tế của Trung Quốc. Bằng cách lấy biến lợi nhuận đại diện cho hiệu quả hoạt động của DN, họ thấy rằng lợi nhuận gia tăng khi tỷ lệ vốn cổ phần Nhà nước giảm. Lý do là chi phí trả cho các quan chức Nhà nước lớn hơn lợi ích mà quan hệ đó mang lại, vì thế khi giảm đi tỷ lệ cổ phần Nhà nước, chi phí này giảm làm gia tăng lợi nhuận. Rõ ràng nghiên cứu của Calomiris và cộng sự (2010) cho thấy, yếu tố sở hữu Nhà nước trong các DN cổ phần là một yếu tố bất lợi cho DN.

Cho dù yếu tố sở hữu NN trong DN cổ phần là một yếu tố thuận lợi hay bất lợi đối với hiệu quả hoạt động của DN, thì các nghiên cứu trên cũng đã cho thấy một vấn đề quan trọng đó là, yếu tố sở hữu Nhà nước có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DN. Mà hiệu quả hoạt động của DN là yếu tố quan trọng tạo nên độ lớn của dòng tiền nội bộ. Chính vì thế, các nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu sự ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư có khác nhau ở các DN kiểm soát bởi NN và kiểm soát bởi tư nhân hay không. Hướng nghiên cứu này dẫn đến kết luận là, ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư có sự khác biệt giữa hai loại hình DN này. Cụ thể, là DN có sự kiểm soát của Nhà nước, đầu tư nhạy cảm với dòng tiền hơn các DN được kiểm soát bởi tư nhân. Tuy nhiên, khi cơ hội đầu tư tốt, độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền của hai nhóm DN thì tương tự nhau (Firth và cộng sự, 2012). Firth và cộng sự (2012) ủng hộ giả thuyết rằng, chính các mục tiêu của chính phủ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN trong trường hợp cơ hội đầu tư kém.

Ở thị trường Việt Nam, tác giả tìm thấy một nghiên cứu có liên quan gần với luận án. Đó là nghiên cứu của Dương Nguyễn Thanh Tâm (2013), nghiên cứu về độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền, thực hiện trên mẫu gồm 60 công ty sản xuất được niêm yết từ năm 2008-2011, 240 quan sát. Kết quả kiểm định bằng phương pháp FEM trên mô hình với biến phụ thuộc là đầu tư trên TSCĐ, biến độc lập là dòng tiền và biến kiểm soát là Tobin’q, cho thấy mối quan hệ dương giữa dòng tiền và đầu tư. Kết quả này ủng hộ lập luận rằng dòng tiền hàm chứa những thông tin về đầu tư và ảnh hưởng đến đầu tư. Đồng thời, độ nhạy cảm giữa dòng tiền và đầu tư không thể là một công cụ để đo lường về hạn chế tài chính của một công ty. Ngoài nghiên cứu của Tâm (2013), tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào khác về ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư của các DN Việt Nam. Đặc biệt, nghiên cứu ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư của các DN hạn chế tài chính hay của các DN có kiểm soát Nhà nước tại thị trường Việt Nam, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu chính thức nào.

Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư

Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp

Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp

– Huy động, đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phát sinh các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Do đó, mục tiêu đầu tiên của quản trị tài chính doanh nghiệp là sử dụng các phương pháp để xác định nhu cầu về vốn trong từng thời kỳ, từ đó lựa chọn phương pháp và hình thức huy động vốn nhằm đảm bảo doanh nghiệp hoạt động liên tục với chi phí huy động vốn thấp. Nếu không huy động vốn đầy đủ, kịp thời sẽ là cho hoạt động sxkd của DN gặp khó khăn hoặc không thực hiện được.

Trên cơ sở tình hình thực tế thị trường tài chính, nhu cầu vốn và điều kiện của DN, nhà quản trị tài chính đưa ra quyết định phù hợp trong việc huy động vốn (bên trong, bên ngoài) đáp ứng nhu cầu hoạt động sxkd. Một quyết định đúng sẽ giúp giảm thiểu rủi ro tài chính, tối đa hóa giá trị DN.

➯ Xem thêm:Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp

Việc lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cơ cấu vốn hợp lý có thể giúp DN giảm chi phí sử dụng vốn, tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận VCSH.

– Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả.

Trong quá trình sử dụng vốn, doanh nghiệp cần phải phân tích, đánh giá và lựa chọn phương án nên sử dụng vốn để làm gì nhằm chớp được cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu, lợi nhuận; sử dụng tối đa nguồn vốn hiện có đã huy động, tránh ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm bớt nhu cầu vay vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Quản trị tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư tối ưu. Việc lựa chọn dự án đầu tư tối ưu trên cơ sở cân nhắc, so sánh giữ tỷ suất sinh lời, chi phí sử dụng vốn và mức độ rủi ro của dự án góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sxkd, sử dụng vốn tiết kiệm.

– Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Qua trình hoạt động sxkd là quá trình vận động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ. Do đó, thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã xây dựng, nhà quản trị có thể đánh giá và  kiểm soát các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, hoạt động tài chính nói riêng của doanh nghiệp; phát hiện những tồn tại, khó khăn và đưa ra các quyết định phù hợp với tình hình thực tế nhằm đạt mục tiêu DN đề ra. Đây là mục tiêu cuối, cơ bản nhất của quản trị tài chính doanh nghiệp.

Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp

Các chính sách kế toán vận dụng trong quản trị lợi nhuận

Các chính sách kế toán vận dụng trong quản trị lợi nhuận

Việc lựa chọn phương pháp kế toán áp dụng để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán Việt Nam

– Chính sách kế toán đối với hàng tồn kho: lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang có thể làm thay đổi giá thành sản phẩm, từ đó có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán; lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho có thể làm thay đổi giá vốn hàng bán trong kỳ; thay đổi giá bán và chi phí ước tính để thay đổi mức lập dự phòng, điều chỉnh chi phí trong kỳ;

– Chính sách lập dự phòng phải thu khó đòi: có thể điều chỉnh chi phí và lợi nhuận thông qua việc dự kiến mức độ tổn thất đối với những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán, điều chỉnh mức lập dự phòng phải thu khó đòi;

– Chính sách lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: có thể chỉ trích lập dự phòng ít hơn mức cần thiết hoặc tăng mức trích lập dự phòng hơn mức cần thiết để điều chỉnh chi phí và lợi nhuận;

– Chính sách về kế toán tài sản cố định: dựa vào tiêu chuẩn ghi nhận tài sản để điều chỉnh việc ghi nhận là tài sản hay một khoản chi phí; lựa chọn phương pháp khấu hao hoặc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của tài sản để điều chỉnh chi phí; Lựa chọn quy mô, tính chất sửa chữa và số kỳ trích trước hoặc phân bổ để điều chỉnh chi phí; lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý tài sản để điều chỉnh doanh thu, chi phí;

– Chính sách về phân bổ chi phí trả trước: lựa chọn số kỳ phân bổ sẽ chủ động điều chỉnh chi phí của từng kỳ;

– Ghi nhận chi phí phải trả, dự phòng phải trả, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm: lựa chọn về mức trích lập, hoàn nhập thông qua các giá trị ước tính từ đó có thể làm điều chỉnh chi phí của công ty.

Các chính sách kế toán vận dụng trong quản trị lợi nhuận

Thành phần cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Thành phần cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Để có thể tổ chức và lựa chọn hình thức huy động vốn một cách thích hợp, có hiệu quả cần thực hiện phân loại cấu trúc tài chính theo các tiêu thức nhất định. Trong công tác quản trị, cấu trúc tài chính thường được phân loại theo các tiêu thức chủ yếu sau:

1. Căn cứ theo quan hệ sở hữu vốn

Dựa trên quan hệ sở hữu vốn, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp bao gồm Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

1.1. Nợ phải trả:

Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác. Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn.

Nợ ngắn hạn phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản vay ngắn hạn, các khoản chiếm dụng vốn (như phải trả nhà cung cấp, phải trả người lao động, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp khác…).

– Vay ngắn hạn: Các tổ chức tín dụng có thể cho các doanh nghiệp vay ngắn hạn với thời hạn tối đa là 12 tháng. Thời hạn cho vay ngắn hạn cụ thể phải được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Lãi suất cho vay là lãi suất thỏa thuận theo thị trường khi thực hiện ký kết hợp đồng tín dụng.

– Các khoản chiếm dụng vốn: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đương nhiên phát sinh các quan hệ thanh toán với các tác nhân kinh tế khác như với Nhà nước, CBCNV, khách hàng, nhà cung cấp, từ đó mà phát sinh các khoản vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng. Thuộc về vốn chiếm dụng hợp pháp có các khoản vốn sau:

+ Phải trả nhà cung cấp (tín dụng thương mại).

+ Tiền lương, tiền công trả cho người lao động nhưng chưa đến kỳ hạn trả.

+ Các khoản thuế, bảo hiểm xã hội phải nộp nhưng chưa đến kỳ hạn nộp.

+ Các khoản tiền tạm ứng trước của khách hàng.

Nguồn vốn chiếm dụng là các nguồn vốn mang tính chất tạm thời, doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng trong thời gian ngắn nhưng không phải trả chi phí sử dụng vốn, đòn bẩy tài chính luôn dương, nên trong thực tế doanh nghiệp nên triệt để tận dụng nguồn vốn này trong giới hạn cho phép nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà vẫn đảm bảo kỷ luật thanh toán.

Nợ dài hạn phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong thời gian dài (lớn hơn một năm hay nhiều năm hay nhiều chu kỳ kinh doanh).. Nợ dài hạn bao gồm: vay dài hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng; phát hành trái phiếu và thuê tài chính…Nguồn vốn nợ dài hạn thường được sử dụng để đầu tư vào các tài sản dài hạn.

– Vay dài hạn: Là một thỏa ước tín dụng dưới dạng hợp đồng giữa người vay (doanh nghiệp) và người cho vay (NHTM, Tổ chức tín dụng) theo đó người vay phải có nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi theo quy định trong hợp đồng. Thông thường, các khoản vay từ 3 năm trở lên (có nơi tính từ 5 năm) được coi là vay dài hạn, còn khoản vay từ 1- 3 năm được coi là vay trung hạn. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp thường vay dài hạn ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các dự án đầu tư mới, mở rộng hoặc đầu tư theo chiều sâu của doanh nghiệp.

– Phát hành trái phiếu doanh nghiệp dài hạn: Thông qua việc phát hành trái phiếu dài hạn, doanh nghiệp có thể thực hiện vay dài hạn trên thị trường vốn với khối lượng lớn, doanh nghiệp có quyền chủ động đưa ra những điều kiện linh hoạt để phù hợp với điều kiện thị trường như loại trái phiếu phát hành là trái phiếu trơn, trái phiếu chứng quyền, linh hoạt trong việc định lãi trái phiếu (cố định, thả nổi, thả nổi theo kỳ), nên trái phiếu có tiềm năng hấp dẫn nhà đầu tư hơn.

– Thuê tài chính: Còn gọi là thuê vốn là phương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn không thể hủy ngang. Theo phương thức này, người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Người thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã được thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng trước hạn. Nếu xét trên góc độ người thuê (doanh nghiệp đi thuê tài chính) thì thuế tài chính là hình thức vay trung hạn và dài hạn; còn trên góc độ người cho thuê (doanh nghiệp cho thuê tài chính), thì đây là hình thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn bằng tài sản.

Lợi ích và bất lợi của doanh nghiệp khi sử dụng nợ vay.

Nợ phải trả là nguồn vốn mà doanh nghiệp chủ yếu huy động từ bên ngoài tài trợ cho nhu cầu đầu tư. Việc sử dụng nợ vay có những ưu điểm sau:

+ Ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ vay thay cho vốn chủ sở hữu đó là lãi vay phải trả được coi là khoản chi phí hợp lý và được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp hay nói cách khác doanh nghiệp được hưởng lợi từ “lá chắn thuế” và vì thế làm tăng giá trị doanh nghiệp.

+ Ưu điểm thứ hai của nợ vay, đó là thông thường chi phí tài trợ thấp và linh hoạt cao hơn vốn chủ sỡ hữu. Do lãi suất vay ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư. Ngoài ra, tổ chức tín dụng có thể thiết lập lịch trả nợ phù hợp với dòng tiền thu nhập của doanh nghiệp.

+ Ưu điểm thứ ba của nợ vay là nợ vay giúp cho các nhà quản trị thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định đầu tư. Khi doanh nghiệp sử dụng nợ vay để tài trợ cho những khoản đầu tư thì việc phải trả lãi và vốn gốc theo định kỳ sẽ ngăn, hoặc giảm việc đầu tư thái quá vào dự án cần nhiều vốn mà không đem lại nhiều hiệu quả.

Bên cạnh những ưu điểm, việc sử dụng nợ phải trả cũng tồn tại những hạn chế.

+ Sử dụng nợ vay sẽ đem lại bất lợi cho doanh nghiệp vì phải chịu áp lực lớn của gánh nặng nợ nần dẫn đến việc phải hy sinh nhiều lợi ích để thanh toán các khoản lãi vay đồng thời để mất tự chủ trong kinh doanh, khó khăn trong việc ra các quyết định kinh doanh.

+ Doanh nghiệp không thể sử dụng nợ vay quá cao so với vốn chủ sỡ hữu. Khi những lợi ích đem lại từ “lá chắn thuế” nhỏ hơn “chi phí khánh kiệt tài chính”, doanh nghiệp sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản.

+ Việc sử dụng nợ vay cao quá mức sẽ tác động đến tâm lý của nhà đầu tư và tạo ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ và nhà đầu tư.

1.2. Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp. Có 2 nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối, các quỹ của doanh nghiệp). Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể xác định bằng công thức sau:

Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả

Vốn góp của chủ sở hữu

Vốn góp của chủ sở hữu là phần vốn mà các chủ sở hữu đóng góp vào để hình thành vốn điều lệ của doanh nghiệp. Chủ sở hữu công ty cổ phần thực hiện góp vốn thông qua hình thức mua cổ phần thường hoặc cổ phần ưu đãi.

– Phát hành cổ phiếu thường: Trong công ty cổ phần, việc góp vốn được thực hiện dưới hình thức mua cổ phiếu. Cổ đông là người sở hữu cổ phiếu, chủ sở hữu của công ty cổ phần. Để đáp ứng nhu cầu tăng vốn, mở rộng kinh doanh, công ty cổ phần có thể lựa chọn hình thức huy động vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu thường. Việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới để huy động thêm vốn cổ phần có thể thực hiện theo hai phương thức, đó là chào bán riêng lẻ hay chào bán rộng rãi ra công chúng.

– Phát hành cổ phần ưu đãi: Để đáp ứng nhu cầu tăng vốn, mở rộng kinh doanh, công ty cổ phần có thể lựa chọn hình thức huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu ưu đãi. Về bản chất, việc quy định công ty cổ phần được phát hành các loại cổ phiếu ưu đãi là nhằm phát huy tối đa lợi thế của loại hình doanh nghiệp này về tính đại chúng trong cơ cấu sở hữu vốn, đồng thời giúp công ty cổ phần tận dụng hết những ưu thế của việc huy động các nguồn vốn từ các nhà đầu tư thuộc diện “muốn an toàn” khi bỏ vốn vào đầu tư, kinh doanh để hưởng cổ tức cao hơn gửi tiền vào ngân hàng – nơi có lãi suất cố định, thấp.

Lợi nhuận giữ lại tái đầu tư.

Lợi nhuận giữ lại tái đầu tư là một phần của lợi nhuận sau thuế của công ty có được từ hoạt động kinh doanh nhưng không được phân chia cho các cổ đông mà được giữ lại tái đầu tư cho hoạt động kinh doanh trong tương lai như bổ sung tăng vốn, tự đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng của công ty. Nguồn lợi nhuận giữ lại tái đầu tư nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty và chính sách phân chia lợi tức cổ phần của công ty, chiến lược kinh doanh và cơ hội đầu tư của công ty.

Lợi ích và bất lợi của doanh nghiệp khi sử dụng vốn chủ sở hữu.

+ Việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu bằng cách sử dụng lợi nhuận để lại, phát hành cổ phiếu thường sẽ làm tăng thêm vốn chủ sở hữu của công ty, từ đó làm giảm hệ số nợ và tăng thêm mức độ vững chắc về mặt tài chính của công ty.

+ Doanh nghiệp tăng được vốn đầu tư dài hạn bằng cách phát hành cổ phiếu nhưng không có nghĩa vụ bắt buộc phải trả vốn gốc và lợi tức cố định như sử dụng nợ vay.

+ Doanh nghiệp không có nghĩa vụ phải hoàn trả vốn gốc theo kỳ hạn cố định.

Cùng với những ưu thế trên, việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để đáp ứng nhu cầu tăng vốn kinh doanh cũng có thể đưa lại những điểm bất lợi sau:

+ Tăng chi phí sử dụng vốn. Theo cách tính thuế thu nhập của nhiều nước, lợi tức cổ phần không được tính trừ vào thu nhập chịu thuế, trong khi đó lợi tức trái phiếu hay lợi tức tiền vay được tính trừ vào thu nhập chịu thuế. Điều này làm cho chi phí sử dụng vốn cổ phiếu thường cao hơn so với chi phí sử dụng trái phiếu.

+ Việc tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu thường ra công chúng làm tăng thêm cổ đông mới, từ đó phải phân chia quyền biểu quyết và quyền kiểm soát công ty, quyền phân phối thu nhập cao cho cổ đông này. Điều này, gây bất lợi cho các cổ đông hiện hành trong việc quản lý điều hành kinh doanh của công ty.

Mỗi nguồn vốn có ưu điểm và bất lợi riêng. Nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phối hợp cả hai nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và nợ phải trả). Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp và môi trường kinh doanh.

2. Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Dựa trên tiêu thức này cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn tạm thời và nguồn vốn thường xuyên. Cách thức phân loại này nhằm giúp cho nhà quản trị xem xét huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh.

Nguồn vốn tạm thời (hay nguồn vốn ngắn hạn): Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn tạm thời bao gồm vay ngắn hạn, các khoản nợ ngắn hạn khác.

Nguồn vốn thường xuyên (hay nguồn vốn dài hạn): Là nguồn vốn có tính chất ổn định, lâu dài mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận hình thành tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm được xác định theo công thức sau:

Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn

Hay Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản của DN – Nợ ngắn hạn

Theo cách thức phân loại này sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp xem xét huy động các nguồn vốn phải phù hợp với thời gian sử dụng các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh. Hơn nữa cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những dự định về tổ chức lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.

Trong các mô hình tổ chức nguồn tài trợ, các doanh nghiệp thường sử dụng các nguồn vốn tạm thời có tính chất ngắn hạn để đáp ứng phần lớn nhu cầu về vốn lưu động. Trong đó, một nguồn vốn ngắn hạn chủ yếu mà các doanh nghiệp sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động là nguồn vốn tín dụng ngắn hạn. Thông thường, việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp có những điểm lợi sau:

+ Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện, dễ dàng, thuận lợi hơn so với việc sử dụng tín dụng dài hạn. Bởi vì, thông thường các điều kiện cho vay ngắn hạn mà ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác đưa ra đối với doanh nghiệp thường ít khắt khe hơn so với tín dụng dài hạn.

+ Chi phí sử dụng nguồn vốn tín dụng ngắn hạn thường thấp hơn so với sử dụng nguồn vốn tín dụng dài hạn

+ Sử dụng nguồn vốn tín dụng ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng linh hoạt điều chỉnh hơn cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Bên cạnh những ưu điểm, việc sử dụng nguồn vốn tạm thời có điểm bất lợi sau:

+ Doanh nghiệp phải chịu rủi ro về lãi suất cao hơn, bởi lẽ lãi suất tín dụng ngắn hạn biến động nhiều hơn so với lãi suất dài hạn.

+ Rủi ro vỡ nợ ở mức cao hơn. Sử dụng tín dụng ngắn hạn đòi hỏi doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi và hoàn trả vốn gốc trong một thời hạn ngắn, nếu tình hình kinh doanh gắp khó khăn, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Về cơ bản, nguồn vốn thường xuyên được sử dụng tài trợ hình thành tài sản thường xuyên của doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định, lâu dài, tạo ra sự an toàn trong kinh doanh, làm cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo vững chắc. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc sử dụng nguồn vốn thường xuyên đảm bảo cho việc hình thành tài sản lưu động thì doanh nghiệp phải trả chi phí cao hơn cho việc sử dụng vốn.

3. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn

Căn cứ theo phạm vi huy động vốn, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài. Tiêu thức phân loại này nhằm xem xét việc huy động nguồn vốn của một doanh nghiệp đang hoạt động.

3.1. Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp

Đây là nguồn vốn có thể huy động được vào hoạt động đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra. Nguồn vốn này thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp, là nguồn tăng thêm tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp bao gồm: Lợi nhuận để lại tái đầu tư.

Hàng năm, doanh nghiệp có thể sử dụng một phần lợi nhuận sau thuế bổ sung tăng vốn, tự đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng. Nguồn vốn bên trong nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, chính sách phân chia lợi tức cổ phần, chiến lược kinh doanh và cơ hội đầu tư trong tương lai của doanh nghiệp. Việc sử dụng nguồn vốn bên trong sẽ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp như sau:

+ Tăng vốn chủ sở hữu (nguồn vốn chủ sở hữu nội sinh) đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, kịp thời nắm bắt các cơ hội trong kinh doanh.

+ Làm tăng sự tự chủ về mặt tài chính: Việc gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu sẽ làm giảm hệ số nợ phải trả, làm tăng uy tín cho doanh nghiệp.

+ Tiết kiệm chi phí sử dụng vốn so với việc phát hành cổ phiếu.

+ Giữ được quyền kiểm soát cho các cổ đông hiện hữu.

+ Tránh áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn.

Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn này có nhưng bất lợi sau:

+ Đối với các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh ổn định, có xu hướng phát triển sẽ phải trả chi phí cao hơn so với vốn vay hoặc phát hành trái phiếu.

+ Hiệu quả sử dụng vốn thường không cao: Việc không phải có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi theo kỳ hạn cố định đã không tạo áp lực cho ban lãnh đạo doanh nghiệp trong việc cân nhắc, tính toán hiệu quả sử dụng vốn cho đầu tư. Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả sử dụng của các dự án được tài trợ bằng các nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp thường đạt hiệu quả không cao so với các dự án được tài trợ bằng các nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp.

+ Thường bị giới hạn về quy mô nguồn vốn.

3.2. Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp

Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp là nguồn vốn có thể huy động được vào hoạt động đầu tư từ các chủ thể bên ngoài doanh nghiệp. Việc huy động các nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp để tăng cường nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh là vấn đề rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Khi thị trường tài chính càng phát triển sẽ làm nảy sinh nhiều hình thức và phương thức huy động vốn mới từ bên ngoài doanh nghiệp. Những nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp chủ yếu gồm: Vốn vay từ người thân, NHTM và các tổ chức tài chính khác; Vốn góp liên doanh, liên kết; Tín dụng thương mại của nhà cung cấp; Thuê tài sản; Huy động thông qua phát hành chứng khoán như phát hành cổ phiếu thường mới, phát hành cổ phiếu ưu đãi, phát hành trái phiếu doanh nghiệp dài hạn…

Căn cứ theo phạm vi huy động vốn, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được phản ánh qua các chỉ tiêu sau:

– Hệ số nguồn vốn bên trong: Phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu đồng được tài trợ từ các nguồn vốn bên trong doanh nghiệp do chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra.

Hệ số nguồn vốn bên ngoài: Phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu đồng tài trợ từ các nguồn vốn được huy động từ bên ngoài doanh nghiệp.

Thành phần cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Một số bài học kinh nghiệm về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao rút ra cho Việt Nam

Một số bài học kinh nghiệm về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao rút ra cho Việt Nam

Với đặc thù hạn chế của đào tạo nghề so với các bậc đào tạo khác là yêu cầu đầu tư vốn lớn mua sắm trang thiết bị nhưng thu hồi vốn chậm nên không thu hút được các nhà đầu tư. Hơn nữa nhận thức của xã hội ở Việt Nam về dạy nghề vẫn còn hạn chế, tâm lý sính khoa bảng mà không tính đến năng lực và nhu cầu lao động trong xã hội nên đối tượng tham gia học nghề cũng hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng, chủ yếu là đối tượng học kém, con e gia đình khó khăn. Trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay của Việt Nam, những kinh nghiệm quốc tế về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề có thể vận dụng để đào tạo nghề chất lượng cao như sau:

Một là, đẩy mạnh công tác xã hội hóa nguồn lực cho đào tạo nghề nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài NSNN cho đào tạo nghề. Có chính sách quy định rõ ràng trách nhiệm của Doanh nghiệp trong việc chia sẻ chi phí đào tạo với NSNN, phải nộp ngân sách cho đào tạo nghề theo tỷ lệ nhất định trên cơ sở số lao động làm việc tại doanh nghiệp. Ngoài ra, có thể chia sẻ chi phí đào tạo thông qua việc tiếp nhận học sinh sinh viên thực tập tại đơn vị; tham gia vào việc xây dựng, thẩm định chương trình đào tạo. Tăng cường huy động các nguồn lực từ các tổ chức cá nhân, đặc biệt là các tổ chức cá nhân người nước ngoài để nhanh chóng đi tắt đón đầu công nghệ, kinh nghiệm và nguồn lực.

Hai là, tăng cường quyền tự chủ cho các CSDN công lập trong việc xác định chiến lược, kế hoạch,chỉ tiêu nhiệm vụ; cơ cấu tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính để các đơn vị được chủ động huy động các nguồn lực và các biện pháp để thực hiện nhiệm vụ, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công; Cơ quan quản lý nhà nước chỉ cần kiểm tra giám sát chất lượng dịch vụ theo kết quả đầu ra thông qua hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Như vậy, vừa giảm chi của NSNN, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác để vẫn đảm bảo việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Xem thêm: Kinh nghiệm quốc tế về giải pháp tài chính trong đào tạo nghề

– Ba là, thực hiện có lộ trình xóa bỏ việc Nhà nước bao cấp qua giá, phí dịch vụ cho tất cả các đối tượng. Chi phí đào tạo phải được tính đúng, tính đủ trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật. Người học phải chia sẻ chi phí theo giá dịch vụ mà mình tham gia. Nhà nước chỉ chi trả kinh phí cho các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN. Đối với lĩnh vực GDNN thì NSNN chỉ chi trả cho các ngành nghề nặng nhọc độc hại, trọng điểm… phục vụ phát triển các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn và hỗ trợ chi phí cho các đối tượng yếu thế, được ưu tiên. Đối với nguồn NSNN, thực hiện chuyển đổi cơ chế cấp phát kinh phí thường xuyên sang hình thức đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra, tạo môi trường pháp lý thuận lợi bảo đảm cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp công lập, ngoài công lập, các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trong việc tham gia cung cấp dịch vụ sự nghiệp công về giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật

Bốn là, trong bối cảnh nguồn lực hạn hẹp, cần chuyển đổi hình thức đầu tư theo chiều rộng, sang đầu tư theo chiều sâu. Trong hệ thống các cơ sở đào tạo thì cần tập trung đầu tư một số trường để hình thành các trường chất lượng cao, như là những đầu tầu trong hệ thống có thể đào tạo một số nghề đạt chuẩn khu vực và thế giới. Mỗi trường phải đưa ra được đâu là nghề trọng điểm chiến lược của trường, trên cơ sở tình hình thực tế và định hướng phát triển của ngành, địa phương để theo đó đầu tư một cách đồng bộ tránh tình trạng mỗi nghề đầu tư một chút nên không nghề nào hoàn thiện theo chuẩn danh mục thiết bị, cơ sở vật chất của từng nghề.

Một số bài học kinh nghiệm về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao rút ra cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về giải pháp tài chính trong đào tạo nghề

Kinh nghiệm quốc tế về giải pháp tài chính trong đào tạo nghề

Như đã phân tích ở trên về vai trò của đào tạo nghề trong việc quyết định đến phát triển kinh tế xã hội nên hầu hết các chính phủ đều phải tập trung đầu tư cho đào tạo nghề. Đầu tư từ ngân sách cho đào tạo nghề phổ biến ở các nước bằng hai con đường, đó là chi trực tiếp cho các trường công lập và trợ cấp cho các trường tư thục như giảm thuế, cho vay ưu đãi… Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho đào tạo nghề ở hầu hết các nước chiếm tỷ trọng từ 1-12% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo (Nguồn UNESCO 1993). Việt Nam, tỷ lệ này giai đoạn hiện nay là khoảng 8%.

Ngoài NSNN, nguồn tài chính đào tạo nghề đều lấy từ tài chính của các doanh nghiệp và phí trích từ bảng lương của người học nghề. Nguồn tài chính từ ngân sách của Nhà nước chỉ tập trung cho việc đầu tư phát triển chương trình đào tạo, cấp văn bằng chứng chỉ và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, chỉ một vài nước như Pakistan, Ấn Độ và Thái Lan: nguồn tài chính chi cho đào tạo nghề chủ yếu là ngân sách Nhà nước một phần rất nhỏ lấy từ các doanh nghiệp. Kinh nghiệm cụ thể của một số nước như sau:

– Đức: Đầu tư phát triển đào tạo nghề Ở Đức rất được coi trọng và được thực hiện nghiêm túc hàng năm. Đức nổi tiếng thế giới với hệ thống đào tạo nghề kép. Hệ thống đào tạo nghề kép có thể hiểu là học ở trung tâm hay trường nghề và thực hành ở doanh nghiệp trong suốt thời gian học nghề từ 3 năm đến 3 năm rưỡi tùy theo nghề học. Nhà nước và doanh nghiệp cùng có trách nhiệm đóng góp tài chính cho đào tạo nghề để thực hiện hệ thống đào tạo nghề kép. Tất cả các lý thuyết và kỹ năng cơ bản đều được đào tạo tại trường còn ứng dụng vận hành thự tập tại doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trợ cấp, đầu tư và tự chủ trong mọi hoạt động đào tạo của mình về số lượng học viên, người đào tạo, chương trình dạy thực hành, chi phí cho đào tạo… theo luật pháp và các quy định.

Khi xuống doanh nghiệp, học sinh hoàn toàn thực hành các kiến thức, kỹ năng đã được học tại trung tâm. Học sinh học nghề tại doanh nghiệp được ký hợp đồng với doanh nghiệp, được hưởng hỗ trợ về tài chính trong quá trình học và được nhận vào làm sau khi tốt nghiệp mà không phải thực tập nghề nữa mặc dù cũng có thể sau khi học người học không làm cho công ty này mà làm cho công ty khác.

2/3 số người trong độ tuổi từ 16-19 được đào tạo nghề tại những cơ sở đào tạo “kép”, một tuần học 4 buổi tại doanh nghiệp, 1 buổi tại trường học, học thực hành tại doanh nghiệp học sinh được trả lương. Có nghĩa là: các doanh nghiệp có trách nhiệm chính trong việc chia sẻ kinh phí đào tạo.

Đức hình thành Quỹ đầu tư cho đào tạo nghề tại các trường đào tạo toàn thời gian. Quỹ này chủ yếu cho các trường công lập do trích từ nguồn NSNN liên bang. Do phân cấp giữa các bang và các thành phố dẫn đến sự phân chia tài chính cho các trường bên trong và bên ngoài. Trong khi đó, các bang chịu trách nhiệm chi phí về đào tạo, thành phố chịu chi phí về vật chất và đầu tư trang thiết bị từ nguồn kinh phí của họ. Hiện nay, các bang chịu 80% chi phí cho các trường nghề bao gồm cả chi phí cho học sinh thuộc các trường nghề toàn thời gian.

Ở Đức không có ưu tiên nghề gì như Việt Nam gọi là nghề trọng điểm, mà hàng năm người học được đăng ký học nghề theo năng lực, nhu cầu của cá nhân, tùy theo số lượng đăng ký học nghề của học sinh mà doanh nghiệp, nhà nước phân bổ kinh phí để thực hiện.

– Nhật Bản: Lao động ở khu vực công chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, theo số liệu thống kê năm 1985, chỉ 3,6% tổng số lực lượng lao động, còn lại 85% lao động thuộc khu vực tư nhân. Do vậy, tài chính cho đào tạo nghề chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân đảm nhận. Tổ chức đóng vai trò to lớn trong đào tạo nghề ở Nhật Bản là Hiệp hội đào tạo nghề và công nghiệp Nhật Bản (The Japan Industrial and Vocational Training Association), tổ chức này chịu trách nhiệm chính về đào tạo nghề trong lĩnh vực công nghiệp, JVITA gồm 1000 công ty thành viên với 60% là công ty loại lớn và 40% là các công ty loại nhỏ, hoạt động đào tạo nghề của tổ chức này không được chính phủ cung cấp tài chính, 25% tài chính hoạt động của nó từ lệ phí của các thành viên, 75% tài chính thu từ người học.

– Hàn Quốc: Chính sách tài chính đối với đào tạo nghề của Hàn Quốc cũng giống như Nhật Bản song chủ yếu là các doanh nghiệp hạng lớn – họ luôn coi trọng hàng đầu về trách nhiệm của họ với đào tạo kỹ năng cho người lao động và xác định đào tạo nghề cũng là một phương hướng đầu tư để phát triển, các doanh nghiệp chưa tích cực trong nhiệm vụ này. Luật pháp từ những năm 1976 quy định rõ tỷ lệ trích từ chi phí tiền lương của doanh nghiệp là 1-3,9% để trả phí cho đào tạo nghề.

Chính phủ quy định về hệ thống thuế đào tạo doanh nghiệp – yêu cầu tất cả các công ty tuyển dụng hơn 300 lao động trong các ngành công nghiệp chiến lược phải cung cấp đào tạo tại doanh nghiệp cho lao động với số lượng khoảng 10% tổng số nhân viên. Nếu doanh nghiệp không thực hiện được việc đào tạo này thì thực hiện thuê công ty khác đào tạo hoặc phải nộp tiền vào Quỹ hỗ trợ đào tạo nghề một khoản tiền tương đương với chi phí đào tạo đó. Kể từ đó, đào tạo tại doanh nghiệp đóng vai trò nổi bật trong việc đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng và kỹ thuật tại Hàn Quốc. Vào năm 1979, hơn 90.000 nhân viên đã được đào tạo thông qua các chương trình đào tạo tại doanh nghiệp. Năm 1978, các doanh nghiệp thực hiện chương trình đào tạo chiếm khoảng 70% tất cả các doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thực hiện đào tạo. Phần còn lại lựa chọn đóng thuế đào tạo. Cho tới năm 1992, việc này áp dụng với các doanh nghiệp có số công nhân từ 150 trở lên [44, tr.26].

– Mỹ Latinh: Quy định trích từ 1-2%, đôi khi đến 3% tổng chi lương của các doanh nghiệp cho phí đào tạo nghề.

– Anh: Ngay từ những năm 1964, luật pháp Nhà nước đã quy định dành từ 1-3% tổng tiền lương của các doanh nghiệp cho đào tạo nghề, đến năm 1974 quy định các doanh nghiệp phải đảm bảo trả đầy đủ phí đào tạo nghề cho cơ sở đào tạo.

– Pháp: Quy định tỷ lệ bắt buộc quy định trong hệ thống biểu thuế về phí đào tạo và phí của người học nghề cho tất cả các doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả để dành nguồn tài chính cho đào tạo nghề. Quy định các doanh nghiệp có từ 9 lao động trở lên cũng phải chịu phí đào tạo, tỷ lệ phí quy định là 1,2% tổng tiền lương của doanh nghiệp.

– Áo: quy định các doanh nghiệp phải trả đầy đủ tất cả các chi phí đào tạo cho việc đào tạo nghề.

– Costa Rica: quy định từ 1-2% tổng chi lương của doanh nghiệp dành để đào tạo nghề.

– Canađa: chủ trương giảm bao cấp của Chính phủ cho đào tạo nghề, tăng cường quyền tự chủ, đa dạng hoá nguồn thu tài chính từ phía chính phủ, học phí và dịch vụ đào tạo. Kết cấu các nguồn trong tổng nguồn thu của tài chính đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo trong những năm 90 theo các tỷ lệ sau: ngân sách của chính quyền địa phương chiếm 57%, học phí và các phí khác 10%, các dịch vụ của cơ sở đào tạo 22%, thu khác 7%, khấu hao 4%.

– Trung Quốc: Những năm trước đây, Trung Quốc đầu tư nhiều vào hệ thống giáo dục đại học và phổ cập giáo dục 9 năm, việc đầu tư vào đào tạo nghề đặc biệt là đào tạo nghề trung cấp rất hạn chế. Tuy nhiên, nhu cầu về công nhân có tay nghề cao tăng để phục vụ phát triển kinh tế xã hội là lý do chính để Chính phủ Trung Quốc tập trung đầu tư cho Giáo dục nghề nghiệp vào những năm gần đây, họ đã chọn đào tạo nghề là động lực để phát triển.

Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề tại Đề tài cấp Bộ “Một số giải pháp đầu tư đồng bộ phát triển nghề trọng điểm” [44]: Chính phủ Trung Quốc đầu tư rất lớn vào giáo dục người lớn. Năm 2006, chính phủ đã đầu tư 17,431 tỉ nhân dân tệ. Quỹ quốc gia về giáo dục tăng hằng năm từ 11.9% – 20.5% vào giữa năm 1997 và 2006. Quỹ cho giáo dục người lớn cũng tăng từ 5/7 – 18.6% hằng năm so với những năm trước (một năm tăng 10.5%), nhưng đã giảm theo tỷ lệ tổng số tiền do tốc độ tăng trưởng lớn hơn tổng quỹ quốc gia chi cho giáo dục. Việc đầu tư cần thiết để đạt được mục đích đào tạo cho 34 triệu lao động lành nghề vào năm 2015 như tuyên bố của Bộ phát triển nguồn nhân lực và an ninh xã hội năm 2010.

Giáo dục người lớn bao gồm giáo dục đào tạo nghề. Trung Quốc tập trung chủ yếu vào đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục. Với cơ cấu hành chính của các chương trình đào tạo nghề thì chính phủ không có tác động đến việc thực hiện các chương trình của địa phương. Chính quyền giáo dục địa phương có nhiệm vụ phát triển kế hoạch thực hiện đào tạo nghề theo bối cảnh của địa phương, thêm vào đó họ còn xây dựng chương trình đào tạo, thuê giáo viên và đánh giá chương trình và sinh viên. Chính phủ đóng vai trò hướng dẫn và hỗ trợ tài chính.

+ Đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục: Chính phủ đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục đào tạo nghề bao gồm sơ sở vật chất, trường học, trang thiết bị dạy học cho giáo viên cho các chương trình đào tạo.

+ Hỗ trợ về tài chính: Chính phủ đầu tư vào cung cấp các gói hỗ trợ cho các nhóm công nhân khó khăn trong tìm việc làm tiếp tục tham gia vào học tập. Nhóm dân số mục tiêu bao gồm lao động đăng ký thất nghiệp, dân di cư nông thôn và lao động nông thôn. Chính phủ đã xây dựng chương trình đào tạo nghề đặc biệt vào năm 2009 để hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính. Chương trình này có mục đích hỗ trợ cho 15 triệu người trong hai năm. Chính phủ cũng xây dựng chương trình phát triển “cơ sở đào tạo” tại nhiều trường khác nhau ví dụ các trường công nhân kỹ thuật cơ sở, các trường cao đẳng kỹ thuật viên và cao đẳng đào tạo nghề và các trường đại học.

+ Đảm bảo chất lượng: Chính phủ có thể đóng vai trò trọng tâm trong việc đảm bảo chất lượng trong các chương trình day nghề trên khắp cả nước. Cũng như nhiều các cơ quan khác có liên quan đến phân phối đào tạo, chính phủ có thể phối hợp với các tổ chức để đảm bảo việc đào tạo được hiệu quả. Hơn nữa, chính phủ có mong muốn đảm bảo đào tạo đáp ứng các yêu cầu vị trí việc làm cho công nhân.

Ngoài ra, tài chính từ nguồn bảo trợ và khu vực tư nhân bao gồm: phí phải trả của người học nghề; các khoản được bảo trợ cho người học của các tổ chức hội (hội khuyến học), trợ cấp và khoản cho vay hỗ trợ người học nghề; dịch vụ thu được từ đào tạo (các khoản thu được từ việc ký kết các hợp đồng trọn gói về đào tạo với các doanh nghiệp); phí thực tập nghề (tiền phải trả cho việc luyện tập tay nghề). Nguồn thu được từ việc bán sản phẩm – sản xuất trong quá trình học của người học nghề. Thu phí cho các khoá học được nhận thấy là phương án tài chính tư nhân duy nhất đang sử dụng ở hầu hết tất cả các nước. Hầu hết các nước thuộc khu vực Mỹ Latinh, châu Âu là những nước đã thực hiện rộng rãi việc khai thác tài chính từ các nguồn trên cho đào tạo nghề, cụ thể:

– Chilê: hội đồng việc làm quốc gia ở Chilê là nơi cung cấp nguồn trợ cấp lớn cho đào tạo nghề ở Chilê, tổ chức này đã trợ cấp các khoá học bằng nguồn tài chính của nhiều tổ chức thành viên. Thời gian mỗi khoá học kéo dài từ 6-12 tuần, nguồn tài chính này thường dành cho đào tạo các ngành nghề thuộc lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, khai thác than và thương mại.

– Ấn Độ: quy định tỷ lệ bắt buộc từ tiền lương của cá nhân người học phải trả phí thực tập nghề.

– Sri lanka: quy định phí thu từ người học là 10% tổng phí đào tạo nghề.

Tuy nhiên, những phí thu từ cá nhân người học thì hầu hết các nước ở châu Âu và châu Mỹ Latinh đều miễn thu với những người nghèo, những người thuộc diện gặp khó khăn trong cuộc sống.

Kinh nghiệm quốc tế về giải pháp tài chính trong đào tạo nghề

Nội dung chủ yếu của giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao

Nội dung chủ yếu của giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao

1. Giải pháp về huy động nguồn lực tài chính

Tài chính cho đào tạo nghề nói chung và cho đào tạo nghề chất lượng cao nói riêng được huy động từ nhiều nguồn, trong đó bao gồm nguồn tài chính từ NSNN và nguồn tài chính ngoài NSNN.

1.1. Nguồn NSNN và vai trò của NSNN với đào tạo nghề chất lượng cao

Tài chính cho đào tạo nghề từ nguồn NSNN được cung cấp thông qua các khoản chi ngân sách cho hoạt động thường xuyên của bộ máy quản lý nhà nước, các cơ sở đào tạo nghề, chi xây dựng cơ bản và các chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia… Với vai trò là một giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia trực tiếp vào lực lượng sản xuất của nền kinh tế, từ đó quyết định đến việc phát triển kinh tế xã hội nên việc đầu tư cho đào tạo nghề là một yêu cầu tất yếu của mỗi đất nước. Cũng xuất phát từ đặc thù yếu thế của đào tạo nghề so với các lĩnh vực khác nói chung và với các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân nói riêng mà hầu hết các nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức trong và ngoài nước đều không muốn tham gia đầu tư cho đào tạo nghề do đòi hỏi vốn lớn lại thu hồi vốn chậm. Do đó, để đạt mục tiêu phát triển nền kinh tế thì việc đầu tư từ NSNN vẫn phải là nguồn lực chủ đạo. Hơn nữa, chỉ có nhà nước mới có đủ nguồn lực để xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ cho các đối tượng yếu thế trong xã hội thoát khỏi khó khăn thông qua những khóa đào tạo, tạo công ăn việc làm. Đồng thời, nhà nước đầu tư phát triển nhân lực cho những ngành kinh tế mũi nhọn, ngành nghề nặng nhọc độc hại mà xã hội rất cần nhưng không thu hút được người học… để phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ.

Vai trò của NSNN không chỉ đơn thuần là cung cấp tiềm lực tài chính để duy trì củng cố các hoạt động đào tạo nghề mà còn có tác dụng định hướng hoạt động đào tạo nghề phát triển theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, cụ thể:

Thứ nhất, NSNN là nguồn tài chính cơ bản để duy trì và phát triển của hệ thống đào tạo nghề theo đúng đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Thông qua cơ cấu, định mức chi ngân sách chi đào tạo nghề có tác dụng điều chỉnh cơ cấu, quy mô đào tạo nghề toàn ngành. Trong điều kiện đa dạng hóa đào tạo nghề thì vai trò định hướng của Nhà nước thông qua chi ngân sách để điều phối là rất quan trọng, đảm bảo cho đào tạo nghề phát triển theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.

Thứ hai, NSNN đóng vai trò quyết định trong việc củng cố tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy. Giúp cho đội ngũ cán bộ giảng dạy có điều kiện không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Đồng thời, hàng năm NSNN đã tài trợ cho việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy ở trong và ngoài nước.

Thứ ba, NSNN đầu tư cho đào tạo nghề tạo điều kiện ban đầu để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị. Đây là khoản chi có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề. Điều này là cơ sở, là tiền đề để có thể thu hút được nguồn tài chính từ phía nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước. Thu hút các nguồn tài chính từ lao động sản xuất, hợp đồng nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ của các cơ sở đào tạo nghề.

Thứ tư, NSNN đầu tư các mục tiêu, chương trình trong lĩnh vực đào tạo nghề, qua đó sẽ tạo điều kiện cho các trường tăng cường cơ sở vật chất, tăng cường trang thiết bị dạy học, tạo điều kiện bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy tại các chương trình bồi dưỡng giáo viên và xây dựng, biên soạn chương trình, giáo trình đào tạo nghề…, thí điểm tổ chức đào tạo theo các chương trình chuyển giao từ các nước tiên tiến trên thế giới.

Thứ năm, NSNN đầu tư cho đào tạo nghề đã góp phần giải quyết những vấn đề thuộc chính sách xã hội như: chính sách dân tộc, khu vực, con gia đình chính sách và các đối tượng yếu thế trong xã hội…

1.2. Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của các CSDN

Phát triển đào tạo nghề không chỉ đem lại lợi ích cá nhân người học nghề mà còn đem lại lợi ích cho toàn xã hội; vì vậy ngoài nguồn tài chính từ NSNN là nguồn tài chính chủ yếu đầu tư cho đào tạo nghề thì ở hầu hết các quốc gia đều có cơ chế chính sách huy động các nguồn tài chính ngoài NSNN để phát triển đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của mọi công dân và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp bao gồm:

1.2.1. Học phí, lệ phí tuyển sinh học nghề

Đào tạo nghề là hàng hoá công cộng nhưng là hàng hoá công cộng không thuần tuý vì không khó khăn gì trong việc xác định các đối tượng trực tiếp sử dụng dịch vụ đào tạo nghề, những người trực tiếp sử dụng dịch vụ đào tạo nghề là những người trực tiếp được hưởng lợi do đào tạo nghề đem lại. Vì vậy, người học phải có trách nhiệm đóng góp thông qua phí dịch vụ đào tạo nghề để tạo lập nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề. Tạo lập nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề thông qua việc thu phí đào tạo nghề có tác dụng nâng cao trách nhiệm của người dân và trách nhiệm của các cơ sở cung cấp dịch vụ đào tạo nghề trong việc đảm bảo chất lượng và hiệu qủa đào tạo nghề, từ đó thúc đẩy đào tạo nghề phát triển về quy mô, chất lượng và hiệu qủa.

Những tác động tích cực của chính sách thu học phí:

– Thu học phí góp phần xóa bỏ chế độ bao cấp tràn lan trong cung cấp dịch vụ đào tạo nghề; tạo thêm nguồn tài chính đáng kể đối với các cơ sở đào tạo nghề để tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục, cải thiện đời sống của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trong cơ sở đào tạo nghề.

– Góp phần nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người dân trong việc chăm lo sự nghiệp đào tạo nghề. Hơn nữa học phí đã thể hiện được chính sách ưu tiên miễn, giảm cho các đối tượng chính sách xã hội.

– Học phí ở các cơ sở GD – ĐT công lập nói chung và các cơ sở đào tạo nghề công lập nói riêng đã từng bước đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước trên các mặt:

+ Học phí được thống nhất quy định theo thẩm quyền, thể hiện được tương quan giữa từng bậc đào tạo.

+ Việc quy định khung học phí một mặt tạo điều kiện cho Nhà nước kiểm soát, mặt khác đã tạo quyền chủ động cho các trường và các địa phương trong việc tự xây dựng quy định mức thu học phí cụ thể; từ đó đảm bảo mức thu học phí phù hợp với khả năng đóng góp của dân cư từng địa phương và phù hợp với yêu cầu phát triển của từng ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo, hoàn cảnh của học sinh.

Bên cạnh đó để đảm bảo bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi công dân, các quốc gia đều có chính sách miễn, giảm học phí cho các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo…đặc biệt là chính sách tín dụng cho người học. Song song với việc hoàn thiện chính sách thu học phí và lệ phí tuyển sinh theo giá cung ứng dịch vụ, Nhà nước cũng hoàn thiện về chính sách tín dụng cho người học để giúp cho các đối tượng là người nghèo cũng được tham gia học nghề, tạo cơ hội về công ăn việc làm.

1.2.2. Thu từ hoạt động sự nghiệp khác

Bao gồm các khoản thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tư vấn, chuyển giao công nghệ, liên doanh, liên kết… với các CSDN khác hoặc với các tổ chức, cá nhân của cơ sở đào tạo nghề. Các hoạt động này giúp CSDN tăng cường khai thác cơ sở vật chất như máy móc thiết bị, giảng đường, phòng học; sản phẩm thực hành, sản phẩm thí nghiệm… để tăng thu nhập cho cán bộ, giáo viên. Đồng thời, các hoạt động liên doanh, liên kết với doanh nghiệp còn giúp giáo viên và học sinh, sinh viên của các CSDN được giao lưu học hỏi, tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nâng cao tay nghề.

1.3. Đầu tư, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Chủ trương xã hội hóa của nhà nước về văn hóa, giáo dục và thể thao đã tạo điều kiện hay tiền đề để các cá nhân hay tổ chức có trách nhiệm tham gia đóng góp chia sẻ chi phí đào tạo nghề với nhà nước. Nhà nước cần phải có chế tài đủ mạnh để các tổ chức đặc biệt là doanh nghiệp với trách nhiệm là người thụ hưởng sản phẩm của đào tạo nghề phải đóng góp chi phí cho đào tạo nghề.

Về đầu tư, tài trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, đây là nguồn tài chính quan trọng cho phát triển đào tạo nghề từ các nguồn viện trợ phát triển ODA, đầu tư của nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Các CSDN có thể nhận hỗ trợ tài chính trực tiếp để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị… nhưng cũng có thể nhận được những gói hỗ trợ kỹ thuật từ các nước tiên tiến để xây dựng chương trình, giáo trình, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý.

Với chủ trương xã hội hoá đào tạo nghề, đa dạng hoá các hình thức huy động nguồn tài chính để huy động được một nguồn tài chính đáng kể từ nguồn ngoài ngân sách đầu tư cho đào tạo nghề. Nguồn kinh phí này đã bổ sung những thiếu hụt của ngân sách, góp phần vào việc duy trì, ổn định và phát triển sự nghiệp đào tạo nghề. Vai trò đó được thể hiện như sau:

Thứ nhất, các khoản thu ngoài NSNN góp phần tăng nguồn đầu tư cho sự nghiệp đào tạo nghề để củng cố và mở rộng, tăng cường cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, cải thiện điều kiện giảng dạy và học tập, cải thiện đời sống của cán bộ giảng dạy và học sinh, sinh viên học nghề.

Thứ hai, thực hiện đa dạng các nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề, qua đó phát huy trách nhiệm của cộng đồng với sự nghiệp đào tạo nghề; khai thác được tiềm năng của các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội đầu tư cho đào tạo nghề.

Thứ ba, phát huy được tính tự chủ của các cơ sở đào tạo nghề trong việc khai thác nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề, xoá bỏ tư tưởng trông chờ vào nguồn ngân sách cấp. Nguồn tài chính ngoài ngân sách có tiềm năng rất lớn, nếu chúng ta có chính sách, giải pháp huy động có hiệu quả.

Thứ tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở đào tạo nghề, thúc đẩy các cơ sở đào tạo nghề nâng cao chất lượng.

2. Giải pháp về đầu tư, sử dụng nguồn lực tài chính

Việc đầu tư, sử dụng nguồn lực tài chính dạy nghề hiện nay thường được chia làm 03 nội dung: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi CTMTQG.

2.1. Kinh phí chi thường xuyên

Kinh phí chi thường xuyên là nguồn kinh phí chủ yếu để thực hiện chỉ tiêu đào tạo nghề. Chi thường xuyên là các khoản chi hàng ngày của các cơ sở đào tạo nghề để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mình. Kinh phí chi thường xuyên bao gồm các nội dung: chi lương, phụ cấp lương, chi công tác phí, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quỹ lương; chi cho xây dựng chương trình, giáo trình; chi mua nguyên nhiên vật liệu thực tập, chi phí điện, nước, điện thoại, internet…; chi mua sắm, sửa chữa các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo nghề.

2.2. Kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản

Chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN cho đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho từng cơ sở đào tạo nghề. Chi đầu tư xây dựng cơ bản cho đào tạo nghề bao gồm: xây mới hay cải tạo nâng cấp các công trình như nhà xưởng, thư viện, phòng học hay nhà điều hành của các CSDN. Chi đầu tư xây dựng cơ bản cũng bao gồm việc mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo nghề.

Với mục tiêu đào tạo nghề chất lượng cao thì việc ưu tiên đầu tư để xây dựng nhà xưởng, thiết bị cho thực hành nghề trong quá trình đào tạo là hết sức cần thiết.

2.3. Kinh phí chương trình mục tiêu Quốc gia

Để thực hiện những mục tiêu cụ thể có tính cấp bách hoặc giải quyết những tồn tại lớn trong đào tạo nghề ở những thời kỳ cụ thể nhằm tạo ra những chuyển biến tích cực về cơ cấu, nội dung chương trình, chất lượng và hiệu qủa trong giáo dục, các quốc gia và đặc biệt các nước đang phát triển thường sử dụng một phần nguồn tài chính từ NSNN để thực hiện các chương trình mục tiêu giáo dục, trong đó có đào tạo nghề. Tuỳ thuộc vào những mục tiêu cụ thể có tính cấp bách về đào tạo nghề ở từng thời kỳ mà mỗi quốc gia lựa chọn những chương trình mục tiêu khác nhau. Các chương trình mục tiêu cho giáo dục bao gồm về lĩnh vực đào tạo nghề thường được thực hiện là:

– Chương trình mục tiêu tăng cường cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề

– Chương trình mục tiêu nâng cao chất lượng và chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đào tạo nghề

– Chương trình mục tiêu về đổi mới các chương trình, nội dung giáo trình

– Chương trình mục tiêu về đổi mới và phát triển đào tạo nghề và các chương trình mục tiêu khác.

Với mỗi chương trình ở từng thời điểm nhất định sẽ có giải pháp tài chính phù hợp. Các giải pháp tài chính thường được thực hiện đối với các chương trình mục tiêu quốc gia về lĩnh vực đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề chất lượng cao bao gồm:

(1) Đầu tư nâng cao năng lực cho các cơ sở dạy nghề trọng điểm.

Trên cơ sở mạng lưới các cơ sở dạy nghề trong cả nước, các nhà quản lý phải lựa chọn ra các cơ sở dạy nghề cần ưu tiên để hỗ trợ đầu tư đảm bảo mục tiêu phát triển đào tạo nghề ở mỗi thời kỳ. Với nguồn lực được đầu tư từ NSNN và các nguồn lực hợp pháp khác, các cơ sở dạy nghề chủ động trình cơ quan chủ quản kế hoạch và thực hiện đầu tư trên cơ sở nhu cầu của đơn vị.

Nội dung chi thường bao gồm: Tăng cường cơ sở vật chất thiết bị trong đó có cả tăng cường công nghệ thông tin trong quản lý dạy và học; Đào tạo, bồi dưỡng tăng cường năng lực cho giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý; Phát triển chương trình, giáo trình; tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị; Phát triển hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo nghề; Phát triển hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia.

 (2) Đầu tư tập trung cho các nghề trọng điểm

Trên cơ sở danh mục nghề được ban hành, cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở trung ương phối hợp với các bộ ngành, địa phương xác định các ngành nghề cần ưu tiên đầu tư phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của ngành, địa phương và quy hoạch cơ sở dạy nghề được đầu tư nghề trọng điểm. Theo đó, các cơ sở dạy nghề thực hiện đầu tư các nghề đã được quy hoạch đối với nguồn kinh phí được phê duyệt để đầu tư nghề trọng điểm theo kế hoạch của cơ quan quản lý cấp trên.

Xuất phát từ việc nguồn lực là có hạn nên để các cơ sở dạy nghề chủ động đầu tư các nghề dẫn tới việc đầu tư dàn trải và không đồng bộ các điều kiện đảm bảo chất lượng nên cần phải thống nhất tập trung đầu tư theo nghề trọng điểm. Việc đầu tư nghề trọng điểm cũng gồm các nội dung như việc đầu tư cho cơ sở dạy nghề trọng điểm nhưng chỉ cho các nghề đã được quy hoạch mà thôi.

 (3) Thí điểm đặt hàng đào tạo nghề

Do những hạn chế của việc giao dự toán hiện tại là chưa gắn với chỉ tiêu đào tạo, sản phẩm đầu ra và kết quả cuối cùng nên các trường đào tạo nghề tập trung vào những nghề dễ đào tạo, chi phí thấp. Việc giao dự toán thường xuyên của NSNN cho các đơn vị sự nghiệp như hiện nay cũng chưa được xác định trên cơ sở tính đúng tính đủ chi phí đào tạo nên khó khăn tài chính cho các đơn vị nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là những nghề đòi hỏi công nghệ và kỹ thuật mới, chi phí đào tạo cao. Do đó, những nghề cần cho ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn hay những nghề nặng nhọc, độc hại, chi phí đào tạo cao, khó tuyển sinh, không hấp dẫn đối với trường đào tạo nghề và người học nghề thì ít được quan tâm dẫn tới sự thiếu hụt lao động có nghề ở những ngành, nghề này. Như vậy, cần phải thay đổi hình thức cấp phát kinh phí của NSNN như hiện nay, để có cơ sở ban hành chính sách, cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thí điểm đặt hàng, sau đó tổng kết rút kinh nghiệm và từng bước thực hiện chính sách đấu thầu cung cấp dịch vụ do nhà nước chi trả; khuyến khích các cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia nhằm tạo môi trường công bằng cho các cơ sở đào tạo ngoài công lập. Giá đặt hàng đào tạo nghề là giá dịch vụ đào tạo tính đúng tính đủ chi phí đào tạo trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật.

(4) Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề ở các nước tiên tiến và thực hiện đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế.

Đây là con đường tiếp cận nhanh nhất trong đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao tại Việt Nam khi gia nhập cộng đồng ASEAN và TPP; các bộ chương trình theo từng nghề được chuyển giao phải được thực hiện đồng bộ, trọn gói.

Do chưa có đủ các điều kiện cả về cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giáo viên và các điều kiện khác, để triển khai đại trà về đào tạo nghề chất lượng cao, cần thiết thí điểm việc thực hiện đào tạo theo chương trình chuyển giao của các nước tiên tiến trên thế giới nhằm học tập các khâu trong quá trình đào tạo để đảm bảo chất lượng học sinh sinh viên sau tốt nghiệp được tổ chức kiểm định có uy tín trên thế giới đánh giá và công nhận.

– Nghề chuyển giao: là nghề trong danh mục các nghề trọng điểm đã được quy hoạch

– Nội dung chuyển giao: phải thực hiện đồng bộ, trọn gói, bao gồm: Tiêu chuẩn kỹ năng nghề/ tiêu chuẩn năng lực; Chương trình đào tạo (trung cấp nghề và cao đẳng nghề); Giáo trình (theo chương trình đào tạo); Phương pháp xây dựng và đánh giá kết quả học tập; Danh mục máy móc, trang thiết bị.

– Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên và cán bộ quản lý:

+ Bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề và nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên đào tạo nghề đạt tiêu chuẩn giáo viên của nước chuyển giao chương trình để dạy chương trình đã chuyển giao

+ Bồi dưỡng phương pháp xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, phương pháp xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên… (gọi chung là bồi dưỡng chuyển giao công nghệ đào tạo).

– Đào tạo thí điểm cho học sinh của các nghề chuyển giao: trên cơ sở chương trình chuyển giao, công nghệ đào tạo chuyển giao các cơ sở dạy nghề cần chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, giáo viên để tổ chức đào tạo thí điểm. Việc tổ chức đào tạo từ khâu kế hoạch đến tổ chức thực hiện cần có sự giám sát và tư vấn của bên chuyển giao chương trình và kiểm định của các tổ chức kiểm định độc lập quốc tế. Nội dung này sẽ thực hiên theo cơ chế đặt hàng như trình bày ở trên.

Nội dung chủ yếu của giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao