092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Thu ngân sách địa phương là gì?

Các quốc gia đều có quy định cụ thể về phân cấp nguồn thu giữa trung ương và địa phương. Thông thường, NSTW và ngân sách địa phương có những khoản thu hưởng 100% và có những khoản thu chia sẻ giữa NSTW, NSĐP. Nguồn thu NSTW hưởng 100% thường là các nguồn thu lớn như thuế xuất nhập khẩu, thuế

TTĐB, thu từ dầu mỏ,…Nguồn thu NSĐP hưởng 100% thường là những nguồn thu nhỏ và gắn với các lợi ích trực tiếp của các dịch vụ mà chính quyền địa phương cung cấp như thuế tài sản, các khoản thu từ đất, một số loại phí và lệ phí,…Nguồn thu được chia sẻ sẽ đảm bảo tăng tính tự chủ tài khóa cho địa phương nhưng đồng thời vẫn đảm bảo nguồn huy động vào NSTW. Tuy nhiên, một vài quốc gia không áp dụng nguồn thu chia sẻ mà quy định NS cấp nào có nguồn thu và hưởng 100% nguồn thu đó.

Ở Hoa Kỳ, NS Liên bang, NS bang và NS cấp dưới bang về cơ bản là độc lập với nhau. Tính độc lập về NS giữa các cấp thể hiện NS cấp nào có nguồn thu riêng trên địa bàn cấp đó quản lý. Thu NS của chính quyền địa phương (đơn vị cấp dưới bang) chủ yếu phụ thuộc vào thuế tài sản. Tuy nhiên, để đảm bảo tính công bằng giữa các địa phương và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, chính quyền Liên bang cấp NS cho chính quyền bang hoặc chính quyền bang cấp NS cho các cấp dưới để thực hiện các mục tiêu, dự án phát triển cụ thể theo yêu cầu của cấp trên (tương tự như bổ sung NS có mục tiêu ở Việt Nam). Ngoài các khoản này ra, việc bổ sung cân đối NS cũng được áp dụng đối với những vùng thực sự nghèo và không thể cân đối được NS từ nguồn thu của mình, nhưng do đề cao nguyên tắc độc lập nên quan hệ này áp dụng rất hạn chế và được thực hiện chủ yếu bởi chính quyền bang cấp cho chính quyền địa phương. [114]

Tại Việt Nam, theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 quy định:

– Các khoản thu của NSTW gồm: các khoản thu NSTW hưởng 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSTW và NSĐP.

-Các khoản thu của ngân sách địa phương gồm: các khoản thu NSĐP hưởng 100%, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa NSTW và NSĐP và thu bổ sung từ NSTW Có 18 khoản thu mà NSĐP được hưởng 100% như: Thuế nhà, đất; thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí; Thuế môn bài; Thuế chuyển quyền sử dụng đất (Từ 01/01/2009 các hoạt động về chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu bất động sản được đều chỉnh bởi các chính sách thuế TNCN và thuế TNDN); Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Tiền sử dụng đất; Tiền cho thuế đất; Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; Lệ phí trước bạ; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; …

Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa NSTW và ngân sách địa phương gồm 5 khoản: Thuế GTGT, không kể thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu và thuế GTGT thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;Thuế TNDN, không kể thuế TNDN của các đơn vị hạch toán toàn ngành và thuế TNDN thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (thuế thu nhập cá nhân); Thuế TTĐB thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước, không kể thuế TTĐB thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Phí xăng, dầu (thuế bảo vệ môi trường).

NSTW sẽ bổ sung cho ngân sách địa phương dưới hai trường hợp: (1). Bổ sung cân đối để đảm bảo cho chính quyền địa phương cân đối nguồn NS; (2). Bổ sung có mục tiêu nhằm đảm bảo cho chính quyền địa phương thực hiện các mục tiêu đã được quy định cụ thể.

Thu ngân sách địa phương có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, thu ngân sách địa phương thể hiện quyền lực chính trị của các cơ quan nhà nước tại địa phương.

Phần lớn các khoản thu mang tính bắt buộc và chính quyền địa phương không có trách nhiệm phải hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp.

Thứ hai, thu ngân sách địa phương gắn chặt với thực trạng kinh tế của địa phương.

Kinh tế là điều kiện căn bản, là tiền đề quyết định tới thu NS. Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSĐP là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến. Khi nền kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng, nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường,…do vậy nguồn thu lớn nhất là từ thuế vào NSĐP cũng gia tăng và ngược lại.

Thu ngân sách địa phương bao gồm nhiều khoản thu nhưng chủ yếu là từ thuế, phí và lệ phí. Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc (cưỡng chế). Cùng với sự phát triển của xã hội, thuế không chỉ là công cụ để huy động nguồn tài chính cho nhà nước mà còn là công cụ để nhà nước điều tiết, phân phối lại thu thập, điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Văn bản pháp lý cao nhất về thuế là các Luật thuế do Quốc hội ban hành và các cơ quan hành pháp có thẩm quyền sẽ ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện, cấp địa phương tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực thi các chính sách thuế.

Các nhân tố ảnh hưởng tới thu ngân sách địa phương:

Thu ngân sách địa phương chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố cả chủ quan lẫn khách quan, nhưng chủ yếu là các nhân tố như: chính sách pháp luật về thu và phân cấp quản lý thu NS; tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên; tỷ suất lợi nhuận; mức độ trang trải các khoản chi phí của chính quyền địa phương; thu nhập GDP bình quân đầu người; tổ chức bộ máy thu; trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, nhân viên trong bộ máy thu; đối tượng nộp; kiểm tra, giám sát và chế tài xử phạt.

+ Chính sách pháp luật về thu và phân cấp nguồn thu NS.

Nếu chính sách thu bao phủ được hết các phạm vi, đối tượng phải thu sẽ góp phần tăng thu NSĐP. Chính sách thu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến số thu vào NS, chẳng hạn mức thuế suất thuế TN DN giảm sẽ làm giảm số thuế thu được so với trước (giả sử số DN nộp thuế không thay đổi), nhưng cũng có thể làm tăng số thuế thu được trong tương lai. Vì thuế TNDN giảm sẽ làm lợi nhuận để lại cho DN tăng lên, khuyến khích DN đẩy mạnh đầu tư sản xuất kinh doanh, hạn chế tình trạng trốn thuế. Nếu số thuế phải trả quá lớn, tình trạng trốn thuế sẽ xảy ra nhiều hơn, nhiều DN từ bỏ thị trường, nền kinh tế sẽ bị trì trệ. Ngược lại, thu thuế quá thấp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương, của cả nước. Do vậy, để đảm bảo huy động đầy đủ, hợp lý các khoản thu vào NS và tạo nguồn thu ổn định lâu dài thì chính sách thuế cần phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế (người chịu thuế).

Phân cấp nguồn thu NS giữa các cấp (trung ương và địa phương, giữa các cấp địa phương với nhau)  không những tạo ra những nguồn lực tài chính độc lập tương đối để mỗi cấp chính quyền chủ động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, mà còn là động lực khuyến khích mỗi cấp chính quyền tích cực khai thác các tiềm năng, lợi thế của địa phương mình, giảm sự phụ thuộc vào NS cấp trên. Các nguồn thu được phân cấp cũng cần phải đảm bảo tính hợp lý. Các khoản thu có quy mô nhỏ, khó thu hay không ổn định nếu phân cấp cho NSĐP sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến NSĐP. Chẳng hạn nguồn thu từ đất, đây là nguồn thu thiếu tính ổn định, nếu địa phương có quỹ đất nhiều, thị trường bất động sản sôi động, thì địa phương đó sẽ có số thu vào NSĐP rất lớn, nhưng nếu địa phương có ít quỹ đất hoặc thị trường bất động sản đóng băng sẽ ảnh hưởng lớn đến thu NSĐP, dễ dẫn đến mất cân đối và kết quả là lại trông chờ vào bổ sung từ NSTW. Do vậy, để giảm sự lệ thuộc vào NSTW và khuyến khích các địa phương tích cực trong thu NS cần chú trọng tới công tác phân cấp nguồn thu đảm bảo tính hợp lý.

+ Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên: Đây là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến số thu NSĐP. Chẳng hạn, địa phương có biển có thể phát triển ngành đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch,..hay địa phương có khoáng sản thì có thể phát triển ngành công nghiệp khai khoáng. Địa phương có tiềm lực mạnh, nền kinh tế phát triển, nhiều tài nguyên thiên nhiên,…sẽ góp phần ổn định và tăng thu cho NSĐP.

+ Tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất lợi nhuận phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỷ suất lợi nhuận càng lớn, nguồn tài chính càng lớn. Đây là nhân tố quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu NS.

+ Mức độ trang trải các khoản chi phí của chính quyền địa phương:

Nhân tố này phụ thuộc vào quy mô tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương, những nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng mà chính quyền địa phương phải đảm nhiệm trong từng thời kỳ và chính sách sử dụng kinh phí của nhà nước.

Nhu cầu trang trải các khoản chi phí của chính quyền địa phương tăng lên sẽ đòi hỏi thu NSĐP phải tăng.

+ Thu nhập GDP bình quân đầu người: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước. Thu nhập GDP bình quân đầu người là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN. Nếu không tính đến chỉ tiêu này khi xác định mức động viên của ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân cư. [18, tr88]

+ Tổ chức bộ máy thu: Bộ máy thu gọn nhẹ, không chồng chéo về nhiệm vụ, chức năng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thu nộp và giảm được chi phí thu. Nhiệm vụ được phân định một cách rõ ràng gắn với nâng cao trách nhiệm giải trình sẽ nâng cao hiệu quả thu NS.

+ Trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, nhân viên trong bộ máy thu:

Trình độ thể hiện ở năng lực chuyên môn, khả năng thích ứng với công việc. Cán bộ, nhân viên trong bộ máy thu NS có trình độ mới có thể thực hiện đúng các nhiệm vụ được giao,  phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật trong thu NS. Nếu cán bộ, nhân viên có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần kỷ luật nghiêm sẽ góp phần chống thất thu cho NSĐP. Những cán bộ quản lý thu, nhân viên trực tiếp thu suy thoái về đạo đức, thông đồng với đối tượng nộp để trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước sẽ làm giảm đáng kể số thu vào NSĐP.

+ Đối tượng nộp: Đối tượng nộp tuân thủ pháp luật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thu NSĐP, tạo điều kiện thu đủ và kịp thời. Sự tuân thủ của người nộp tùy thuộc vào sự nhận thức của mỗi người. Có những người nhận thức đúng về trách nhiệm, nghĩa vụ nhưng cố tình không tuân thủ hoặc có những người do trình độ nhận thức còn hạn chế nên chưa tuân thủ pháp luật về thu NS. Vì vậy, công tác giáo dục, thuyết phục rất cần thiết để người nộp nhận thức rõ trách nhiệm và thực hiện các hành vi đúng theo quy định. Giáo dục có thể áp dụng bằng nhiều hình thức như tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc họp tại các khu dân cư thậm chí là vận động từng hộ gia đình (chẳng hạn đối với thu các khoản đóng góp tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của địa phương).

+ Kiểm tra, giám sát và chế tài xử phạt: Kiểm tra, giám sát  có tác dụng đảm bảo tính hướng đích trong tác thu, nộp. Công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên sẽ góp phần giảm tiêu cực trong công tác thu, nộp. Chế tài xử phạt nghiêm minh sẽ có tính răn đe cao hơn đối với các đối tượng nộp cũng như những cán bộ trực tiếp quản lý và nhân viên thu.

Thu ngân sách địa phương là gì?

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.
Liên hệ: 092.4477.999 - Mail : luanvanaz@gmail.com

✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

Thu ngân sách địa phương là gì?

Bình luận