092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính bệnh viện công

Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính bệnh viện công

Đảng và Nhà nước ta luôn mong muốn đạt đến mục tiêu có được một hệ thống y tế công bằng và hiệu quả. Công bằng trong CSSK muốn thể hiện mục tiêu của một xã hội về sức khoẻ, mong muốn tất cả con người trong xã hội dù thuộc nhóm người nào trong XH cũng đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các DVYT khi có nhu cầu để phục hồi và nâng cao sức khoẻ.

Một hệ thống y tế công bằng, hiệu quả và phát triển luôn là mục tiêu đặt ra đối với các quốc gia. Hệ thống y tế như vậy đòi hỏi phải đáp ứng các tiêu chí như: “Bảo đảm được mức chi tiêu cho y tế bình quân trên một người dân ở mức thích hợp, thông qua việc huy động hợp lý các nguồn lực của xã hội; Bảo đảm cho các nguồn tài chính công chiếm tỷ trọng lớn hơn các nguồn tài chính tư trong tổng chi tiêu quốc gia; Giảm tỷ lệ hộ gia đình rơi vào tình trạng nghèo đói do chi tiêu y tế; Nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng tài chính y tế, nâng cao hiệu suất (giảm chi phí) và chất lượng dịch vụ”[4.12]. Cụ thể hơn, mục tiêu phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Bệnh viện công nhằm đáp ứng yêu cầu KCB của người dân trong XH, huy động hợp lý các nguồn lực để cố gắng hạn chế viện phí trở thành gánh nặng nghèo đói, tăng hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính tại các BV.

Theo Thông báo số 37TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công” đã nêu rõ: “Đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tăng cường phân cấp và tăng tính tự chủ đối với các ĐVSN công lập có tính đến đặc điểm từng loại hình dịch vụ, khả năng và nhu cầu thị trường, trình độ quản lý… thực hiện có lộ trình việc xóa bỏ bao cấp qua giá, phí dịch vụ”, “đi đôi với đổi mới cơ chế, tiếp tục hỗ trợ cho các đối tượng chính sách xã hội, các đối tượng nghèo sử dụng các dịch vụ này”. Chủ trương của Bộ Y tế về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính tiếp tục đẩy mạnh cơ chế tự chủ chuyển các BV từ loại hình tự đảm bảo một phần sang tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên để phát huy quyền chủ động sáng tạo trong việc sử dụng nguồn lực tài chính, sắp xếp bố trí nhân lực để hoàn thành nhiệm vụ; tăng cường tự chủ toàn diện cho giám đốc các đơn vị, đổi mới phương thức phân bổ ngân sách, triển khai khung giá DVYT mới trên cơ sở tính đúng, tính đủ, phần nào nhà nước đã chi thì không thu; đẩy mạnh việc vay vốn tín dụng ưu đãi từ NH phát triển để thực hiện đầu tư phát triển. Huy động các nguồn vốn khác ngoài Ngân sách nhà nước qua tổ chức các hoạt động dịch vụ, đáp ứng nhu cầu KCB, CSSK đa dạng của các tầng lớp nhân dân, đảm bảo tăng thu nhập hợp pháp cho cán bộ y tế.

Tóm lại, tất cả các cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với các Bệnh viện công đều nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Bệnh viện công cùng hướng đến mục tiêu chiến lược chung của ngành y tế là xây dựng một hệ thống y tế công bằng hiệu quả và phát triển. Hệ thống y tế mà đảm bảo cho mọi người dân đều có khả năng tiếp cận các DVYT cần thiết mà không rơi vào cảnh nghèo khó do các chi phí y tế tạo ra thông qua cơ chế “bao cấp chéo” giữa người giàu và người nghèo, người mạnh khỏe và người yếu đau. Hệ thống y tế đó đảm bảo sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có cần thiết để tái đầu tư duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng các DVYT đến mức cao nhất có thể đạt được. Những mục tiêu này được thể hiện thông qua các chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách của quốc gia đối với tài chính y tế – một trong những nhân tố đóng vai trò “xương sống” trong hoạt động của hệ thống y tế. Hệ thống y tế nói chung và Bệnh viện công nói riêng để hướng đến mục tiêu phát triển và công bằng hiệu quả không thể thiếu nguồn lực tài chính bền vững và các cơ chế quản lý tài chính lành mạnh.

1. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính bệnh viện công luôn quan t  m tới mục ti u công bằng và hiệu quả trong CSSK nh n d n

Mục tiêu an sinh XH, công bằng và hiệu quả trong CSSK nhân dân luôn là mục tiêu mà các nước đều muốn hướng tới. Tuy nhiên trong nền KTTT khi mà kinh tế phát triển phân hóa các giai cấp xã hội trở nên mạnh mẽ cùng với những tác động của các quy luật cạnh tranh, giá trị… thì việc đạt những mục tiêu công bằng và hiệu quả với hoạt động của các Bệnh viện công là khó khăn và cần thiết phải có những cơ chế điều tiết của nhà nước. Nếu trong kinh tế công bằng là “phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác”, thì công bằng trong lĩnh vực CSSK hoàn toàn không phải như vậy điều này không có nghĩa là ai đau ốm nhiều thì phải trả nhiều tiền, tức là không thể gắn khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK cơ bản với khả năng chi trả..

Nếu như chỉ những người có điều kiện kinh tế có khả năng thanh toán cho các DVYT thì mới có thể đến với các Bệnh viện công và tiếp cận với các DVYT, trong khi rất nhiều những người dân nghèo và các đối tượng XH nguy cơ mắc bệnh cao hơn và có nhu cầu CSYT lớn hơn nhưng không có khả năng thanh toán lại không được CSSK, đó là mất trong bằng trong CSSK. Ở đây công bằng là muốn tập trung vào là công bằng trong việc thụ hưởng các DVYT của người dân. Quan điểm công bằng không có nghĩa là ngang bằng mà ở đây có nghĩa ai có nhu cầu nhiều hơn thì được chăm sóc nhiều hơn. Nhu cầu đối với DVYT ở đây muốn nói đến sự cần thiết được CSSK dựa trên các vấn đề sức khỏe của người dân.

Trước đây quan điểm công bằng trong y tế được xác định là mọi người đều hướng các DVYT miễn phí, nhà nước bao cấp toàn bộ cho các Bệnh viện công để các BV này cung cấp DVYT miễn phí cho người bệnh. Nhưng với sự phát triển nền kinh tế, thu nhập và phân hóa thu nhập tăng, chi phí y tế tăng nhưng cùng với hiệu quả hoạt động thấp của các Bệnh viện công được “bao cấp” bên cạnh đó là nguồn Ngân sách nhà nước hạn hẹp không thể đủ cho các hoạt động của các Bệnh viện công. Điều này cũng dẫn đến việc thực hiện cơ chế “bao cấp” như trước đây là không thể, bên cạnh đó nếu như tiếp tục phân bổ ngân sách trực tiếp về đến các BV theo các chỉ tiêu đầu vào như: giường bệnh, biên chế…  sẽ không kích thích hiệu quả hoạt động của các bệnh viện…. Vì vậy NN sẽ phải xây dựng cơ chế hoạt động, tài chính để đảm bảo quan điểm công bằng trong y tế. Theo đó cơ chế tài chính y tế công bằng sẽ là cơ chế mà giảm được tỷ trọng nguồn tài chính tư, nguồn mà người bệnh phải trực tiếp chi trả từ tiền túi của mình khi muốn sử dụng DVYT và tăng tối đa tỷ trọng nguồn tài chính công, nguồn mà chi trả qua Ngân sách nhà nước hoặc các quỹ bảo hiểm trong tổng chi tiêu y tế của toàn xã hội.

Xây dựng cơ chế phải đảm bảo cho các Bệnh viện công hoạt động vừa đạt hiệu quả kinh tế nhưng song hành với nó là những chính sách XH để hỗ trợ đảm bảo cho các đối tượng XH đều có thể tiếp cận được các DVYT khi có nhu cầu CSSK. Việc phân bổ Ngân sách nhà nước nên đến trực tiếp với đối tượng thụ hưởng là những người sử dụng DVYT chứ không cấp cho các Bệnh viện công.

Đối với các Bệnh viện công Nhà nước nên thực hiện đặt hàng và thanh toán tiền đối với các nhiệm vụ mà nhà nước đặt hàng. Để cấp trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng, các cơ chế chính sách về BHYT và chi trả giữa BHYT, BV và người sử dụng DVYT và những chính sách hỗ trợ của nhà nước cần phải đổi mới linh hoạt phù hợp với điều kiện KTXH theo từng giai đoạn. Đối với các Bệnh viện công cần phải quan tâm đến hiệu quả quản lý tài chính BV cũng như đảm bảo và nâng cao chất lượng các DVYT cung cấp cho người sử dụng và các hoạt động của BV mình. Chỉ như vậy thì các Bệnh viện công này mới được người sử dụng DVYT, cơ quan BHYT, nhà nước đặt hàng với các DV và hoạt động cung cấp.

Bên cạnh đó có cơ chế giám sát kiểm định chất lượng DVYT và đánh giá hoạt động bệnh viện độc lập để đảm bảo quyền lợi cho những người sử dụng DVYT. Với cơ chế nguồn lực Ngân sách nhà nước cấp trực tiếp đến đối tượng thụ hưởng sử dụng DVYT thông qua chính sách BHYT, chính sách hỗ trợ đặt hàng của nhà nước với nhóm đối tượng xã hội song hành cùng với cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của các bệnh luôn xác định mục tiêu công bằng trong cung cấp DVYT để CSSK nhân dân.

Hiện nay có khá nhiều quan điểm khác trong đối với việc quản lý tài chính các Bệnh viện công bởi không có một hình mẫu toàn diện và cụ thể nào cho để áp dụng. Thậm chí ngay cả các quốc gia có nền y tế phát triển trên thế giới cũng đã và đang trên con đường tìm kiếm và phát triển một hệ thống tài chính y tế công bằng và hiệu quả. Bên cạnh đó mỗi quốc gia khác nhau lại có những đặc điểm khác nhau sẽ phải tìm con đường phát triển hệ thống y tế và mô hình quản lý Bệnh viện công một cách phù hợp và hiệu quả nhất với những đặc điểm về chính trị, xã hội và kinh tế của quốc gia mình. Tuy nhiên hệ thống y tế dựa trên nguồn lực tài chính công (Ngân sách nhà nước và BHYT) vẫn luôn được cho rằng là nguồn lực đảm bảo tính công bằng nhất.

2. Đổi mới cơ chế tài chính bệnh viện công phải gắn với việc thực hiện lộ trình của BHYT

Nhà nước thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với các Bệnh viện công lập gắn với lộ trình thực hiện BHYT toàn dân. Vì nguồn tài chính công, gồm Ngân sách nhà nước và BHYT phải là nguồn chính, giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo hoạt động của các BV

công. Đây mới là nguồn lực thực sự quan trọng và cần thiết bởi nguồn lực này mang tính bền vững và đảm bảo an sinh và sự công bằng xã hội còn nguồn tài chính từ thu trực tiếp người sử dụng DVYT chỉ là giải pháp tạm thời. Nhà nước đảm bảo kinh phí khám, chữa bệnh cho người thuộc diện đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới sáu tuổi.., dành một phần ngân sách để hỗ trợ người cận nghèo, người có mức sống trung bình mua thẻ BHYT theo Luật BHYT. Người bệnh thuộc đối tượng chính sách xã hội do nhà nước đảm bảo, các đối tượng còn lại phải chi trả nhưng có sự chia sẻ hợp lý giữa nhà nước, xã hội và người bệnh, phù hợp với điều kiện của các vùng/miền, với khả năng cân đối quỹ BHYT và thực hiện tốt chính sách an sinh XH.

Cần tuyên truyền giáo dục để mọi người dân tự nguyện tham gia BHYT. Người dân phải hiểu được DVYT là dịch vụ đặc biệt quan trọng liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người cần thiết phải được đầu tư thỏa đáng thông qua việc tham gia BHYT, họ cần phải được tiếp cận với việc CSYT cơ bản và quyền này cần được đảm bảo bằng luật. Đặc biệt chú trọng phát triển nguồn lực tài chính công cho y tế: nguồn từ Ngân sách nhà nước, nguồn từ BHYT. Tập trung nguồn lực cho nhóm những đối tượng người nghèo, người sống ở những vùng khó khăn như: miền núi, vùng sâu, vùng xa… Phải đa dạng hóa các loại hình BHYT để đáp ứng các yêu cầu của cả bộ phận dân cư trong xã hội. Mở rộng BHYT là một trong những phương hướng cơ bản để xây dựng chính sách CSSK công bằng và hiệu quả “Mở rộng BHYT tự nguyện, củng cố Quỹ BHYT bắt buộc, tiến tới thực hiện BHYT bắt buộc toàn dân”[1]. Nhà nước quan tâm hoàn thiện cơ chế chính sách củng cố tổ chức và nâng cao năng lực quản lý điều hành và hoạt động của hệ thống BHYT. Xác định phương thức thanh toán phù hợp để người tham gia BHYT được chăm sóc với chất lượng tốt, không phân biệt đối xử trong KCB đồng thời đảm bảo nguồn tài chính cho các Bệnh viện công cũng những đảm bảo quỹ BHYT.

3. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính của các bệnh viện công nhằm phát huy tối đa tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện để Bệnh viện công hoạt động và phát triển phù hợp với nền KTTT định hướng XHCN, các đơn vị được mở rộng và phát triển các hoạt động dịch vụ nhưng phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, với yêu cầu chuyên môn kỹ thuật và quy hoạch của ngành. Tiếp tục thực hiện chính sách xã hội hóa nhưng song song đó là cơ chế giám sát chặt chẽ tránh tối đa việc lạm dụng những cơ chế này nhằm lợi ích cho một nhóm cá nhân.

Trong ngành y tế, dịch vụ KCB – đây là dịch vụ công không thuần túy đặc biệt do các Bệnh viện công cung cấp có sự khác biệt so với những dịch vụ công thuần túy khác và hoạt động quản lý nhà nước. Việc cải cách hành chính trong ngành y tế cũng đã và đang là vấn đề cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các CSYT đặc biệt là các Bệnh viện công theo hướng tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Nhà nước đã ban hành những chính sách và cơ chế để tạo điều kiện cho các Bệnh viện công thu hút thêm nhiều nguồn lực tài chính ngoài Ngân sách nhà nước và chủ động hơn trong việc quản lý và sử dụng nguồn lực này nhằm thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, tăng thu nhập cho người lao động và có cở sở để đẩy mạnh sự phát triển của Bệnh viện công.

Nhà nước cần thiết phải xây dựng được cơ chế phân bổ sử dụng nguồn lực hướng đến kết quả đầu ra, chất lượng DVYT được cung cấp nhằm mục tiêu công bằng hiệu quả đối với các DVYT được cung cấp. Việc phân bổ Ngân sách nhà nước cho các Bệnh viện công trên định mức gường bệnh hiện nay chưa thúc đẩy hoạt động hiệu quả của các BV làm tăng khoảng cách khác biệt về trang thiết bị… Phân bổ Ngân sách nhà nước tập trung ưu tiên cho y tế dự phòng, cho việc cung cấp các DVYT ở bản tại các trạm y tế xã, các bệnh viện huyện tỉnh tại vùng nghèo, vùng khó khăn, nơi có nguồn thu thấp.

Các BV quản lý nguồn lực tài chính luôn phải gắn kết giữa những yếu tố chi phí đầu vào với số lượng và chất lượng các dịch vụ KCB do BV mình cung cấp.

Trước hết là khâu lập kế hoạch tài chính, việc xây dựng công cụ và quy trình lập dự toán cần dựa trên kết quả đầu ra được xác định rõ ràng và được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, thay vì dựa trên các định mức đầu vào và đã sử dụng như trước đây, đảm bảo sự phối kết hợp hiệu quả giữa các yếu tố đầu vào với kết quả đầu ra đồng thời cân đối trong khuôn khổ tài chính trung hạn.

Hoạt động XHH được xác định là hoạt động do Nhà nước và nhân dân cùng làm cùng chia sẻ trách nhiệm. Hoạt động y tế không phải chỉ là trách nhiệm riêng của ngành y tế mà cũng là trách nhiệm chung của toàn xã hội, tạo cơ chế cho các đơn vị có điều kiện kiện tham gia cung ứng các dịch vụ với chất lượng ngày càng cao. Việc huy động nguồn lực từ khu vực ngoài công lập giải quyết được vấn đề khó khăn cho nguồn lực từ Ngân sách nhà nước bởi Nhà nước không thể bao cấp, trang trải hết cho một hệ thống Bệnh viện công lớn như hiện nay. Như vậy cũng tạo điều kiện để Nhà nước tập trung nguồn Ngân sách nhà nước cho CSSK cho người nghèo, những vùng khó khăn và những hoạt động y tế dự phòng và nghiên cứu trong y tế.

Để đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động, hạn chế những tiêu cực hay những bất cập khi thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm tại các Bệnh viện công mang lại cần thiết phải xây dựng được cơ chế giám sát, kiểm tra liên tục và thích hợp với mỗi loại hình BV. Cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời những sai phạm đảm bảo cho cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm phát huy được hết những mặt tích cực của nó và hạn chế tối đa những tiêu cực mang lại: lạm dụng quyền lực, thiếu minh bạch trong quản lý sử dụng nguồn lực công tư, phát sinh lợi ích nhóm… trong Bệnh viện công.

4. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính với bệnh viện công dần đáp ứng các quy luật của nền kinh tế thị trường

Nền KTTT được xác định ở đây là nền KTTT có định hướng của nhà nước, như vậy sẽ phát huy hết những thế mạnh của KTTT như kích thích tính cạnh tranh, phát huy hiệu quả sử dụng nguồn lực nhưng bên cạnh đó cũng sự can thiệp cần thiết và đúng mức của nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế nhằm hạn chế và khắc phục những khiếm khuyết của nền KTTT. Nền KTTT có những quy luật của nó như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị… Những quy luật này đều có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động của các cơ chế hoạt động của các thành phần phần kinh tế cụ thể ở đây nó sẽ tác động đến cơ chế quản lý tài chính đối với các Bệnh viện công buộc những cơ chế này sẽ phải dần dần chuyển đổi để hướng Bệnh viện công thích ứng và phát triển trong nền KTTT. Tuy nhiên đối với lĩnh vực y tế thì đây là một “thị trường không hoàn hảo”, những quy luật thị trường đối với thị trường DVYT này cũng có những đặc thù riêng do những đặc điểm riêng của DVYT khác với những hàng hóa và dịch vụ thông thường khác..

Quy luật cung cầu xác định cầu là nhu cầu thị trường về CSSK thực tế hiện nay nhu cầu này ngày càng tăng tăng cả về số lượng và chất lượng DVYT. Sự tăng lên về cầu DVYT do nhiều nguyên nhân, trước hết là do dân số tăng lên, cơ cấu dân số và cơ cấu bệnh tật đã thay đổi. Cùng với đó là kỹ thuật y tế ngày càng phát triển, có nhiều thiết bị hiện đại nhiều loại thuốc đặc trị dễ dàng xác định và điều trị được nhiều loại bệnh. Người dân có trình độ ngày càng cao cùng với các phương tiện thông tin truyền thông và sự thuận lợi của giao thông giúp người dân có điều kiện tiếp cận với các DVYT… Tất cả những lý do này đã khiến cho nhu cầu về DVYT hiện nay tăng rất cao. Theo quy luật cung cầu thì cung ở đây được xác định là khả năng cung cấp DVYT đáp ứng cho nhu cầu thị trường. Việc cung DVYT hiện còn rất thấp chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của thị trường, việc cung cấp dịch vụ CSSK chủ yếu vẫn do các Bệnh viện công cung cấp nhưng họ chưa thực sự biết khai thác thị trường về cả các nguồn vốn cũng như nhu cầu và đáp ứng nhu cầu người sử dụng dịch vụ. Về nguồn vốn chỉ mới trông chờ vào nguồn Ngân sách nhà nước hạn chế không đủ nguồn vốn phục vụ cho hoạt động BV, đây chính là việc thiếu thốn toàn bộ các yếu tố đầu vào cho hoạt động của một BV. Điều này dẫn đến không phát triển cơ sở, không có trang thiết bị y tế, thiếu nguồn nhân lực từ đó không tăng được số lượng và chất lượng DVYT mình cung cấp. Về khai thác nhu cầu thị trường về DVYT, các Bệnh viện công vẫn chưa lấy nhu cầu thị trường là mục tiêu cung cấp các DVYT. Việc tổ chức hoạt động và cung cấp DVYT ở Bệnh viện công vẫn mang tính được “bao cấp” và tư tưởng “độc quyền” nhà nước do mới có rất ít các BV ngoài công lập hoạt động và số lượng DVYT mà BV này cung cấp còn hạn chế. Vì chưa thực sự coi trong quy luật cung cầu của nền KTTT, các Bệnh viện công vẫn còn tư tưởng ỷ lại trông chờ vào nhà nước, vào những “đặc quyền” mà nhà nước ban cho dẫn đến sự trì trệ, chậm đổi mới, hoạt động rất kém hiệu quả, nguồn lực vừa thiếu thốn nhưng việc sử dụng nguồn lực lại lãng phí không hiệu quả, số lượng và chất lượng DVYT không đáp ứng được nhu cầu thị trường.

Quy luật cạnh tranh trong nền KTTT là môi trường động lực thúc đẩy cho các hoạt động kinh tế cung cấp các dịch vụ trong xã hội phát triển. Trong một nền kinh tế với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, các thành phần kinh tế cần thiết phải có sự bình đẳng với tất cả các hoạt động SXKD và cung cấp các dịch vụ cho xã hội. Ngoại trừ dịch vụ về y tế dự phòng thì DVYT thông thường, CSSK cho các cá nhân cũng có thể đưa vào trong môi trường cạnh tranh. Bệnh viện công là một thành phần chủ đạo trong các thành phần kinh tế cung cấp DVYT cho xã hội. Tuy nhiên với một nền KTTT cũng đòi hỏi những Bệnh viện công này phải bình đẳng với các BV thuộc những thành phần kinh tế khác trong quá trình hoạt động cung cấp DVYT và chịu sự tác động của các quy luật của nền KTTT. Nhưng DVYT là một dịch vụ khá đặc thù được coi là “một loại hàng hóa đặc biệt” nên cần thiết phải có sự can thiệp quản lý và điều tiết, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước đối với việc cạnh tranh cung cấp DVYT để cho DVYT đảm bảo chất lượng quy chuẩn, tránh chỉ chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm đến sức khỏe của người dân. Việc quản lý và kiểm soát này chính là vai trò không thể thiếu của nhà nước mà ở đây là của những cơ quan có chức năng quản lý trong lĩnh vực y tế. Đồng thời nhà nước có những chính sách cơ chế để đảm bảo cho việc CSSK những đối tượng khó khăn trong xã hội do việc phát triển và cung ứng DVYT trong nền KTTT sẽ không quan tâm đến nhóm đối tượng này và có thể đẩy họ đến việc khó khăn hơn.

Quy luật giá trị là một trong những quy luật quan trọng nhằm xác định giá cả phải phù hợp với giá trị của các dịch vụ và cũng là điều kiện để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các hoạt động sản xuất và cung cấp dịch vụ. Quy luật giá trị đòi hỏi giá cả ở đây chính là giá của DVYT phải bao gồm đầy đủ các chi phí: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp tạo ra dịch vụ. Chỉ khi giá cả phù hợp với giá trị và sự minh bạch rõ ràng về các chi phí cấu thành nên DVYT thì mới có thể là cơ sở thể thực hiện được quy luật cạnh tranh, cung cầu và những quy luật khác của nền KTTT và nâng cao được chất lượng DVYT cung cấp. Quy luật giá trị xác định thị trường chính là nơi quyết định giá cả, việc nhà nước định giá mà mức giá đó lại không bao gồm đầy đủ chi phí cấu thành nên DVYT khiến cho các Bệnh viện công dễ dàng có xu hướng tránh cung cấp DVYT có mức giá thấp và gia tăng cung cấp các DVYT có mức thu cao và cũng gây khó khăn đối với hoạt động của các Bệnh viện công. Tuy nhiên với đặc thù riêng có của DVYT thì quy luật giá trị và quy luật cung cầu chi có tác động vào phía cung DVYT mà ít tác động đến bên cầu DVYT. Bởi khi giá DVYT tăng lên thì cung DVYT cũng sẽ tăng lên và ngược lại nhưng bên cầu thì không bị tác động quá nhiều. Do dù giá cao thậm chí khó có tiền trang trải DVYT thì người bệnh cũng phải cố gắng để mua DVYT nhằm chữa bệnh khôi phục lại sức khỏe của mình. Yêu cầu và khả năng chi trả của dịch vụ CSSK có mối quan hệ không giống với nhiều nhóm dịch vụ khác. Thực tế là những nhóm dân cư dễ tổn thương nhất, có khả năng chi trả thấp nhất, lại có nhu cầu được CSSK lớn nhất. DVYT có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển và mức độ ổn định xã hội, đây là cơ sở mà nhiều nước coi trọng quyền được tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSK như một trong những quyền cơ bản của người dân.. Tuy nhiên bên cạnh những dịch vụ CSSK cơ bản và thiết yếu, đậm nét dịch vụ công thì còn có sự pha trộn của nhiều nhóm dịch vụ mà có thể được xếp vào nhóm dịch vụ thương mại (như dịch vụ thẩm mỹ, dịch vụ chăm sóc theo yêu cầu). Việc phân biệt giữa những DVYT cơ bản và dịch vụ thương mại là khó nhưng cần thiết trong việc xác định cơ chế với hai loại dịch vụ này. Chúng ta chỉ có thể thị trường hoá với những nhóm dịch vụ nào áp dụng ở phạm vi nào và trong những điều kiện cụ thể nào? Còn với các DVYT cơ bản thì chúng ta cần xây dựng cơ chế nào phù hợp để giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các BV cũng như hiệu quả, công bằng và ổn định xã hội. Quan trọng hơn, người gánh vác trách nhiệm đảm bảo quyền cơ bản của người công dân là tiếp cận với các DVYT thiết yếu và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Bệnh viện công không phải là ai khác mà chắc hẳn là nhà nước chứ không phải thị trường. Vì vậy cần thiết những cơ chế điều tiết thích hợp của nhà nước nhằm xác định được mức giá DVYT phù hợp vừa đảm bảo cho sự hoạt động ổn định và phát triển của Bệnh viện công đồng thời cũng đảm bảo được vấn đề an sinh xã hội.

Với quy luật giá trị này, giá DVYT cần được xây dựng trên cơ sở tính đúng, tính đủ và minh bạch các chi phí cấu thành. Cụ thể, khoản nào NN đã chi thì không thu như vậy xác định rõ ràng phần nào NN tài trợ và phần nào người dân phải chịu, để người dân hiểu rõ hơn cũng như không để dồn toàn bộ gánh nặng lên NN. Đây cũng đang là vấn đề xã hội rất nóng và nhạy cảm vì nó liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó hiện nay, giá DVYT lại có liên quan đến chính sách tự chủ và XHH ở các BV nên yêu cầu cấp thiết hiện nay là việc tính đúng, tính đủ các khoản chi phí trực tiếp đối với các DVYT. Nhà nước cần tăng cường vai trò QLNN về giá và chất lượng DVYT đối với hệ thống các Bệnh viện công. Nhà nước phải tăng cường vai trò quản lý nhà nước về giá và chất lượng DVYT. Người bệnh thuộc đối tượng chính sách xã hội do nhà nước đảm bảo, các đối tượng còn lại phải chi trả nhưng có sự chia sẻ hợp lý giữa nhà nước, xã hội và người bệnh, phù hợp với điều kiện của các vùng/miền, với khả năng cân đối quỹ BHYT và thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội.

Giá DVYT sẽ từng bước được xây dựng trên cơ sở tính đúng, tính đủ các chi phí phục vụ người bệnh và công khai minh bạch các chi phí y tế. Cần có sự khác nhau về giá DVYT giữa các tuyến BV đặc biệt đối với các DVYT cơ bản. Đây cũng là một yếu tố khuyến khích người mắc bệnh thông thường điều trị đúng tuyến giúp giảm tải cho BV tuyến trên, nâng cao hiệu quả hoạt động BV tuyến dưới và giảm bớt các chi phí không cần thiết đối với người bệnh. Việc minh bạch giá DVYT, khuyến khích cộng đồng tham gia định giá dịch vụ sẽ tạo ra sự cạnh tranh công bằng giữa hệ thống y tế công và y tế tư nhân. Đây cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng các DVYT được cung cấp ở cả các Bệnh viện công.

Sự phát triển của các Bệnh viện công trong cơ chế thị trường cùng với những quy luật của nó cũng đã và sẽ có những thúc đẩy cũng như nhiều sức ép hơn đối với các Bệnh viện công và cơ chế quản lý tài chính của các Bệnh viện công. Những quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh buộc các Bệnh viện công phải có những điều chỉnh, nâng cao chất lượng và số lượng DVYT của mình để đáp ứng với nhu cầu của thị trường. Quy luật giá trị yêu cầu các Bệnh viện công cần tôn trọng, đó là việc xác định mức giá DVYT do các Bệnh viện công xác định cần bù đắp đủ các chi phí và được thị trường chấp nhận… Tuy nhiên nền KTTT cũng mang nhiều khiếm khuyết đặc biệt những mặt trái của nó tạo ra những sức ép đối với Bệnh viện công là cân đối giữa mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu công bằng trong CSSK. Như vậy, trước những thử thách và thay đổi của các điều kiện kinh tế và xã hội và đáp ứng cho sự phát triển của BV, buộc phải có sự điều tiết và quản lý của nhà nước thông qua việc xây dựng những cơ chế quản lý trong đó có quản lý tài chính đối với BV để có những thích nghi và có phát triển mới phù hợp hơn nhằm huy động hợp lý các nguồn lực tài chính và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đó và hướng đến mục tiêu công bằng trong cung cấp DVYT.

Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính bệnh viện công

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.
Liên hệ: 092.4477.999 - Mail : luanvanaz@gmail.com

✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính bệnh viện công

Bình luận