092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Top 30 đề tài luận văn thạc sĩ, cao học ngành quản lý giáo dục

Top 30 đề tài luận văn thạc sĩ, cao học ngành quản lý giáo dục

Nếu bạn vẫn băn khoăn chưa biết chọn đề tài gì cho bài luận án của mình thì hãy tham khảo ngay 30 đề tài luận văn thạc sĩ, cao học ngành quản lý giáo dục dưới đây nhé

1. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS quận gò vấp thành phố hồ chí minh luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

3. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nghiên cứu đánh giá chất lượng giảng dạy đại học tại học viện báo chí và tuyên truyền

4. Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú trường Cao đẳng Hàng hải
Bảo vệ luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Các biện pháp tăng cường quản lý sinh viên nội trú trường Cao đẳng Vĩnh Phúc
5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT huyện hoằng hóa, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

6. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục: quản lý hoạt động dạy học thực hành giáo dục quốc phòng và an ninh ở trường đại học sư phạm Hà Nội

7. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT huyện yên phong, tỉnh bắc ninh luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

8. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông theo hướng chuẩn hóa

9. Một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở huyện lương sơn tỉnh hòa bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

10. Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục Nghiên cứu đánh giá chất lượng giảng dạy đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

11. Một số biện pháp quản lý cơ sở vật chất thiết bị dạy học của hiểu trưởng ở các trường trung học phổ thông công lập trên địa bàn huyện quỳnh lưu tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

12. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lâm sàng ở học viện quân y

13. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

14. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo dục dạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng

15. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học ở thành phố Bạc Lliêu, tỉnh Bạc Liêu

16. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý phát triển đội ngũ giảng viên học viện quân y hiện nay

17. Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục: Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy ở một số trường THPT tại thành phố Cần Thơ

18. Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục: Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đội ngũ giáo viên tiểu học của một số trường tiểu học ở quận 4 thành phố Hồ Chí Minh

19. Biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay.

20. Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở Trường trung học phổ thông Bất Bạt, tiếp cận đảm bảo chất lượng.

21.  Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát tại Trung tâm Huấn luyện và Bồi dưỡng nghiệp vụ, Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Bộ Công an.

22. Quản lý các hoạt động tư vấn, hỗ trợ sinh viên tại Trường Đại học Ngoại thương.

23. Quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm giáo dục thường xuyên Đông Anh – Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

24. Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở Trường Trung học cơ sở Nguyễn Huy Tưởng, Đông Anh, Hà Nội.

25. Quản lý lưu học sinh trong bối cảnh hội nhập Quốc tế hiện nay.

26. Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi tại Trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội – Amsterdam.

27. Quản lý hoạt động dạy học ở Trường Tiểu học huyện Đông Anh – thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

28. Quản lý giáo viên Trường Trung học cơ sở Uy Nỗ, Huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp.

29. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học huyện Đông Anh thành phố Hà Nội.

30. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở Nam Hồng (Đông Anh – Hà Nội) đáp ứng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học.

Hy vọng với 30 mẫu đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục sẽ phần nào gợi mở cho bạn về đề tài cho luận văn của mình. Chúc bạn đạt kết quả cao nhất!

Hiện tại, Luận văn A-Z đang cung cấp dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Mọi thông tin chi tiết về yêu cầu như đề tài, deadline, số trang, số điểm mong muốn,… vui lòng gửi vào hòm thư của chúng tôi hoặc liên hệ qua Hotline : 092.4477.999 để được tư vấn củ thể hơn.

Top 30 đề tài luận văn thạc sĩ, cao học ngành quản lý giáo dục

Vai trò của chi ngân sách nhà nước đối với hoạt động đào tạo

Vai trò của chi ngân sách nhà nước đối với hoạt động đào tạo

Chi ngân sách nhà nước cho công tác đào tạo là quá trình phân phối, sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quĩ ngân sách nhà nước để duy trì, phát triển hoạt động đào tạo theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.

Vai trò của chi ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì, củng cố các hoạt động đào tạo, mà còn có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động đào tạo phát triển theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trước đây, trong điều kiện phát triển kinh tế theo tư duy kế hoạch hóa tập trung, thì toàn bộ vốn đầu tư cho hoạt động đào tạo đều do ngân sách nhà nước đài thọ. Nhưng hiện nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa với quan điểm GDĐT là sự nghiệp của quần chúng, Đảng và Nhà nước có chủ trương xã hội hóa hoạt động đào tạo, theo đó, Nhà nước thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho hoạt động này, kể cả nguồn vốn trong nước và quốc tế. Trong điều kiện với nhiều nguồn vốn đầu tư cho hoạt động đào tạo như vậy nhưng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước vẫn có vai trò trọng yếu, thể hiện trên các giác độ chính sau đây:

Thứ nhất, ngân sách nhà nước luôn là nguồn chủ yếu cung cấp tài chính để duy trì, định hướng sự phát triển của hoạt động đào tạo theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Mặc dù những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách để huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động đào tạo (như chính sách đóng học phí, lệ phí tuyển sinh, đóng góp xây dựng trường sở, đóng góp phí đào tạo từ các cơ sở sử dụng lao động, các chính sách ưu đãi về thuế, huy động các nguồn tài trợ khác cho hoạt động đào tạo…), tuy nhiên, do việc xã hội hóa trong lĩnh vực đào tạo thực hiện chậm, các thành phần kinh tế phi Nhà nước phát triển chưa mạnh, nên sự đóng góp cho hoạt động đào tạo còn bị hạn chế. Chính vì vậy, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho đến nay vẫn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư cho hoạt động đào tạo.

Thứ hai, chi ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ Giảng viên trong các cơ sở đào tạo, điều này ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chất lượng đào tạo. Hiện nay, trừ một phần nhỏ các trường Dân lập, Bán công, lương và phụ cấp cho Giảng viên đều do ngân sách nhà nước bảo đảm. Chính vì vậy, với một chính sách lương và phụ cấp hợp lý, cho phép các Giảng viên không cần phải kiếm việc làm thêm mà vẫn bảo đảm đời sống, sẽ là nhân tố có tính quyết định đến chất lượng đào tạo.

Thứ ba, chi ngân sách nhà nước là nguồn vốn duy nhất bảo đảm kinh phí để thực hiện các chương trình – mục tiêu quốc gia về hoạt động đào tạo, như Dự án đổi mới chương trình đào tạo, Giáo trình, Dự án đào tạo, bồi dưỡng Giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, Dự án tăng cường cơ sở vật chất các nhà trường… Đây là những chương trình, mục tiêu lớn cần phải triển khai và đòi hỏi cấp kinh phí lớn. Vì vậy, Nhà nước phải tập trung ngân sách nhà nước đầu tư triển khai thực hiện các chương trình này.

Thứ tư, trong điều kiện đa dạng hóa các hoạt động đào tạo như hiện nay thì vai trò định hướng của Nhà nước thông qua chi ngân sách nhà nước để điều phối qui mô, cơ cấu giữa các cấp, ngành, vùng đào tạo là hết sức quan trọng, giúp hoạt động đào tạo phát triển cân đối, theo đúng định hướng của Nhà nước.

Thứ năm, đầu tư ngân sách nhà nước có tác dụng hướng dẫn, kích thích thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho đào tạo. Thông qua việc Nhà nước đầu tư hình thành nên các trung tâm giáo dục, có tác dụng thu hút sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân phát triển các loại hình dịch vụ phục vị cho trung tâm đào tạo đó. Hơn nữa, trong điều kiện nguồn vốn đầu tư của từng cá nhân chưa đáp ứng yêu cầu của các dự án đào tạo, thì nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là vốn đối ứng quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực khác cùng đầu tư cho đào tạo [53].

Vai trò của chi ngân sách nhà nước đối với hoạt động đào tạo

Hiệu quả về huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển Giáo dục đào tạo

Hiệu quả về huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển Giáo dục đào tạo

Hiệu quả huy động vốn đầu tư phát triển giáo dục đào tạo là mức độ động viên, khai thác các nguồn lực của xã hội (bao gồm trong nước và nước ngoài) để đầu tƣ phát triển nền giáo dục đào tạo của quốc gia trong mối quan hệ với hao phí bỏ ra để huy động khai thác các nguồn lực của xã hội. Hiệu quả huy động vốn có thể được đo lường bẳng số tuyệt đối qua từng năm với từng nguồn lực của xã hội và so sánh giữa các năm để xem xét đánh giá sự biến động của hiệu quả huy động giữa các năm.

Hiệu quả huy động vốn có thể được đo lường bẳng số tương đối là so sánh nguồn lực được huy động cho đầu tư phát triển giáo dục đào tạo với tổng nguồn lực đó, như so sánh với GDP, thu nhập bình quân đầu người, tỷ trọng các nguồn lực huy động, tốc độ tăng trưởng hàng năm của vốn đầu tư, cơ cấu các khoản chi tiêu của người dân trong đó có chi tiêu cho giáo dục… qua đó đánh giá hiệu quả huy động.

Đối với mỗi cơ sở giáo dục đào tạo hiệu quả huy động vốn đầu tư phát triển được đánh giá bằng các chỉ tiêu như: tỷ trọng vốn đầu tư so với tổng nguồn thu, quy mô của mỗi nguồn vốn đầu tư được huy động, tốc độ tăng trưởng hàng năm của vốn đầu tư.

Hiệu quả về sử dụng vốn đầu tư phát triển Giáo dục đào tạo là mối quan hệ tương quan giữa kết quả đầu ra khi sử dụng vốn đầu tư phát triển với số vốn đầu tư phát triển được sử dụng trong quá trình tiến hành các hoạt động giáo dục đào tạo. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển giáo dục đào tạo thường được xem xét trên các khía cạnh cơ bản sau:

– Hiệu quả kinh tế:

Thứ nhất, Giáo dục đào tạo là con đường cơ bản nhất để tích luỹ vốn nhân lực – nhân tố quyết định tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đào tạo nên một lớp người mới có năng lực cần thiết để đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất cụ thể. Đối với sự phát triển nền kinh tế thì đây là lực lượng quan trọng vào bậc nhất.

Thứ hai, Giáo dục đào tạo có vai trò quyết định đến phát triển và làm chủ KHCN hiện đại, nhân tố bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Giáo dục đào tạo có chức năng truyền bá kiến thức khoa học cho những người có năng lực học tập và vận dụng vào thực tế. Không những đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học mà còn sản sinh ra kiến thức khoa học thông qua hệ thống Nghiên cứu khoa học của các trường Đại học.

Thứ ba, Giáo dục đào tạo góp phần quan trọng thúc đẩy việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân phù hợp với xu hướng phát triển của mọi thời đại

– Hiệu quả về chính trị – xã hội:

Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, từ khi xã hội có giai cấp, có Nhà nước thì Giáo dục đào tạo luôn là công cụ quan trọng của Nhà nước. Xét về bản chất, Giáo dục đào tạo thực sự gắn bó với xu hướng chính trị tiến bộ. Nền giáo dục nước ta hiện nay là nền giáo dục được ra đời và phát triển nhờ một thể chế chính trị cách mạng tiến bộ. Mục tiêu xã hội chủ nghĩa và độc lập được quán triệt một cách sâu rộng trong toàn bộ hệ thống giáo dục giáo dục Việt Nam.

– Hiệu quả về tư tưởng văn hoá:

Giáo dục đào tạo không chỉ tạo ra con người phát triển về trí tuệ, kỹ năng lao động mà còn đảm bảo cho việc hình thành một hệ tư tưởng, hình thành một nếp sống mới trên nền tảng của một nền văn hóa mới, nhân sinh quan mới. Góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển Giáo dục đào tạo không giống như các ngành sản xuất khác. Việc bỏ vốn đầu tư vào Giáo dục đào tạo, không thể đo đếm hiệu quả bằng các chỉ tiêu kinh tế như doanh thu, lợi nhuận; hiệu quả của hoạt động đầu tư phải sau một thời gian dài mới thấy được hiệu quả.

Chính vì vậy, đầu tư phát triển Giáo dục đào tạo đó là thành quả của hoạt động đầu tư phát triển không thể lượng hóa bằng các con số về lợi nhuận một cách cụ thể, mà chỉ được nhận thấy qua các chỉ tiêu nếu xét trên góc độ tổng thể là số trường lớp được xây dựng mới, tỷ lệ sinh viên/dân số, số sinh viên tốt nghiệp hàng năm, tỷ lệ số sinh viên tốt nghiệp có việc làm/số sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ gia tăng về quy mô sinh viên hàng năm, tỷ lệ số sinh viên có việc làm đúng ngành nghề đào tạo/số sinh viên có việc làm, số lượng các công trình nghiên cứu khoa học hàng năm của các cơ sở Giáo dục đào tạo…

Nếu xét trên góc độ chi tiết của mỗi lĩnh vực đầu tư là hiệu quả khai thác sử dụng như: hiệu quả khai thác sử dụng cơ sở vật chất được đầu tư, trang thiết bị thực hành, thí nghiệm phục vụ đào tạo, hiệu quả khai thác sử dụng thư viện, quy mô và chất lượng đội ngũ, quy mô và chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình tài liệu được biên soạn, so với quy mô vốn đầu tư cho từng lĩnh vực, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển giáo dục đào tạo nói chung, mỗi cơ sở đào tạo nói riêng.

Hiệu quả về huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển Giáo dục đào tạo

Khái niệm và các loại hình Giáo dục đại học, cao đẳng

Khái niệm và các loại hình Giáo dục đại học, cao đẳng

Theo Luật giáo dục đại học (2012): Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học (GDĐH), gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.

Theo điều 7 Luật giáo dục đại học (2012), cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: a) Trường cao đẳng; b) Trường đại học, học viện; c) Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học); d) Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ.

Cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức theo các loại hình:

a) Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;

b) Cơ sở giáo dục đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;

c) Cơ sở giáo dục đại học có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;

d) Cơ sở giáo dục đại học liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước [51].

Giáo dục đại học theo nghĩa rộng là đào tạo sau phổ thông, bao gồm nhiều lộ trình dài, ngắn, với mục tiêu, phương thức đào tạo khác nhau. Hiểu theo nghĩa hẹp, với truyền thống hàn lâm thì đại học là những trường đại học nghiên cứu với bậc học chủ yếu là cao học và tiến sĩ hay ít nhất, bắt buộc bao gồm đào tạo sau đại học. Đặc tính chung nhất của giáo dục đại học là nơi những người trí thức góp phần phát triển những thế hệ trí thức mới.

Dù thiên về nghiên cứu hay nhấn mạnh đào tạo nghề nghiệp, dù trong lĩnh vực học thuật hay ngành nghề đào tạo nào, giáo dục đại học không thể không quan tâm tạo những điều kiện tốt nhất có thể, những phương thức sáng tạo và hiệu quả nhất có thể để phát huy năng lực tư duy và ý thức trách nhiệm của người dạy, người học và cả những người đang quản lý đại học hay đang xa gần có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đại học cũng không thể tách rời bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nơi mình hoạt động. Vì vậy, dù là bản địa hay “nhập khẩu”, đại học cũng vẫn phải tính đến bối cảnh đó để có phần thích ứng và có phần tác động ngược lại, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

Khái niệm và các loại hình Giáo dục đại học, cao đẳng

Dự báo nhu cầu đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập giai đoạn 2017 – 2025

Dự báo nhu cầu đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập giai đoạn 2017 – 2025

Căn cứ vào việc phân tích, đánh giá bối cảnh quốc tế và trong nước; thực trạng phát triển đội ngủ giảng viên của các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập; một số chỉ tiêu dự báo và các quy định pháp lý liên quan đến đội ngũ giảng viên ngoài công lập… có thể đưa ra các dự báo về nhu cầu đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập giai đoạn 2017-2025 như sau:

Về số lượng đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập

Số lượng đội ngũ giảng cao đẳng và đại học ngoài công lập phụ thuộc vào số lượng sinh viên, tỷ lệ quy định giữa giảng viên trên sinh viên, các mục tiêu chiến lược của nước ta đã đề ra như: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020; Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020; Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020; Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ…

Về quy mô đào tạo: năm 2016 cả nước có 3 triệu sinh viên ĐH và CĐ, trong đó quy mô đào tạo của khối ngoài công lập khoảng trên 600 ngàn người chiếm khoảng 20% (năm học 2010-2011 là 2,16 triệu sinh viên, trong đó khối NCL là 390 ngàn sinh viên, chiếm khoảng 18%). Dự báo, đến năm 2020, các chỉ số tương ứng trên 4,0 triệu sinh viên và khối NCL là khoảng 1,2 triệu sinh viên chiếm khoảng 30% (mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục nước ta đến năm 2020 tỷ lệ khối NCL là 40%, tuy nhiên theo một số nhận định tỷ lệ này đến năm 2020 chỉ có thể đạt khoảng 30% và đến năm 2025 là 40%) và năm 2025 khoảng 6 triệu sinh viên, trong đó khối NCL là 2,4 triệu sinh viên, chiếm khoảng 40%.

Tỷ lệ học viên ĐH và CĐ trên giảng viên của khối ngoài công nước ta hiện nay khoảng trên 28,5 cao hơn so với mức quy định. Trong thời gian tới phải đảm bảo ở mức quy định là 20 SV/GV, do đó năm 2015 số giảng viên khối NCL là 25 ngàn người, đến năm 2020 số giảng viên cần phải có là 55 ngàn người và đến năm 2025 là 120 ngàn người.

Để đảm bảo được số lượng giảng viên nói trên, tốc độ tăng trưởng của ĐNGV phải cao hơn tốc độ tăng trưởng của quy mô sinh viên. Theo tính toán tốc độ tăng trưởng quy mô của sinh viên hàng năm là 14,9%/năm, còn tốc độ tăng trưởng về số lượng giảng viên là 17,0%/năm trong giai đoạn 2017- 2025. Đây là một chỉ số quan trọng trong mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên của khối ĐH và CĐ NCL. Đối với những trường đã thành lập và đang hoạt động phải tìm biện pháp để tăng số lượng giảng viên để đảm bảo theo quy định. Đối với những trường đang trong quá trình chuẩn bị thành lập thì ngay từ đầu phải chú trọng đến việc tuyển dụng để đảm bảo số lượng đội giảng viên.

Bảng 4.1. Dự báo nhu cầu về số lượng giảng viên các trường ĐH và CĐ giai đoạn 2017 – 2025

Chỉ tiêu Giai đoạn 2001- 2016 Dự báo giai đoạn 2017-2025
Năm 2001 2010 2016 TĐTTBQ (%) 2017 2020 2025 TĐTTBQ (%)
SV(Người) 106.656 333.921 500.000 12,6 600.000 1.200.000 2.400.000 14,9
GV (Người) 4.519 11.300 17.540 11,0 25.000 55.000 120.000 17,0
Tỷ lệ (%) 23,6 29,6 28,5  – 24,0 22,0 20,0  –

Nguồn: [19]

– Về chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập

Theo Chiến lược Phát triển giáo dục 2011 – 2020, đến năm 2020 có trên 90% giảng viên ĐH và trên 70% giảng viên CĐ có trình độ thạc sĩ trở lên; có trên 75% giảng viên ĐH và ít nhất 20% giảng viên CĐ có trình độ tiến sĩ. Đồng thời căn cứ vào thực trạng về chất lượng của đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập nước ta giai đoạn 2001-2016, có thể dự báo chất lượng của đội ngũ giảng viên của khối cao đẳng và đại học ngoài công lập giai đoạn 2017-2025 như sau:

Bảng 4.2. Dự báo về chất lượng đội ngũ giảng viên khối cao đẳng và đại học ngoài công lập ở Việt Nam giai đoạn 2017-2025

Chỉ tiêu Giai đoạn 2001- 2016 Dự báo giai đoạn 2017-2025
Năm 2001 2010 2016 2017 2020 2025
Trên ĐH (%) 46,4 55,7 56,9 70,0 90,0 100,0
ĐH (%) 52,2 43,7 42,8 30,0 10,0 0,0
Dưới ĐH (%) 1,4 0,6 0,3 0,0 0,0 0,0

Nguồn: [19]

– Về cơ cấu

Trong cơ cấu của đội ngũ giảng viên ở các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập thì tỷ lệ giảng viên cơ hữu, giảng viên thỉnh giảng trên tổng số giảng viên là quan trọng nhất. Trong thời gian vừa qua, nhìn chung trong các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập, tỷ trọng giảng viên cơ hữu còn thấp và tỷ trọng giảng viên thỉnh giảng còn cao. Theo Thông tư số 29/2011/TT-BLĐTBXH ngày 24 tháng 10 năm 2011, thì tỷ lệ giảng viên, giảng viên cơ hữu ít nhất là 70% trong tổng số giảng viên, giảng viên đối với trường ĐH, CĐ.

Để ĐNGV các trường NCL đảm bảo cho mục tiêu phát triển chung của nhà trường cũng như quy định của nhà nước, ngoài các cơ cấu như độ tuổi, giới tính thì trong giai đoạn tới phải nâng cao tỷ lệ giảng viên cơ hữu đồng thời giảm tỷ lệ giảng viên thỉnh giảng.

Bảng 4.3. Dự báo cơ cấu đội ngũ giảng viên cơ hữu và thỉnh giảng trong các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập giai đoạn 2017-2025

Chỉ tiêu Giai đoạn 2001- 2016 Dự báo giai đoạn 2016-2025
Năm 2001 2010 2016 2017 2020 2025
Cơ hữu (%) 39,5 38,9 40,1 45,0 60,0 70,0
Thỉnh giảng (%) 60,5 60,1 59,9 55,0 40,0 30,0

Nguồn: [19]

Dự báo nhu cầu đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học ngoài công lập giai đoạn 2017 – 2025

Các tiêu chí đánh giá công tác phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Các tiêu chí đánh giá công tác phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập được đánh giá bằng tổng hợp các kết quả hoạt động nhằm làm gia tăng số lượng, phát triển chất lượng và biến đổi hợp lý về cơ cấu đội ngũ giảng viên. Vì vậy, luận án xây dựng tiêu chí đánh giá phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập chủ yếu dựa trên thước đo hiệu quả các hoạt động tạo nguồn, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng, đãi ngộ để lực lượng này phát triển toàn diện. Tuy nhiên, những tiêu chí hàm chứa tính chất mở cao để phù hợp với thực tiễn phát triển đội ngũ giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập ở nước ta cả hiện tại và những năm tiếp theo.

– Tiêu chí phản ánh kết quả phát triển đội ngũ giảng viên (tạo lập NNL trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập)

Tiêu chí này đánh giá những thành tựu chủ yếu trong công tác phát triển nguồn, chuẩn bị nguồn cho hiện tại và tương lai. ĐNGV các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập không phải tự nhiên hình thành và phát triển mà phải trải qua quá trình tạo nguồn rất công phu, sàng lọc kĩ càng. Vì vậy, những thành tựu đạt được trong công tác phát triển nguồn là một trong những yếu tố quan trọng để gia tăng mạnh cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng của ĐNGV các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập.

Các chỉ tiêu cụ thể đánh giá công tác phát triển nguồn bao gồm:

(1) Kết quả đạt được trong việc đổi mới và nâng cao số lượng, chất lượng tuyển dụng ĐNGV các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập.

(2) Kết quả đạt được trong việc đổi mới và nâng cao số lượng, chất lượng và cơ cấu tuyển dụng, tuyển chọn đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập.

Xem thêm: Khái niệm phát triển đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Nội dung chỉ tiêu (1) phản ánh tính chất cơ sở nền tảng theo chiều rộng để phát triển đội ngũ giảng viên. Vì vậy, kết quả đạt được trong việc tạo nguồn là một nội dung không thể thiếu trong đánh giá quá trình phát triển của đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập. Chỉ tiêu (2) đề cập tới công tác phát triển ĐNGV các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập là những người đã và đang giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập. Kết quả tạo nguồn để đào tạo và bồi dưỡng lực lượng này có ý nghĩa rất quan trọng để phát triển ĐNGV các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập có đạo đức, vừa giỏi chuyên môn, vừa thạo kỹ năng và vững vàng trong hoạt động NCKH phù hợp với quá trình hội nhập.

– Tiêu chí phản ánh kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Đây là tiêu chí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đánh giá sự phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập nhằm tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của các tố chất tiêu biểu phản ánh về chất lượng đội ngũ giảng viên. Nếu hệ thống đào tạo ĐH và SĐH được tổ chức, đổi mới sắp xếp hợp lý, theo hướng hiện đại hoá và không ngừng nâng cao chất lượng thì sẽ tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ.

– Tiêu chí đánh giá kết quả việc thu hút, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Đây là tiêu chí cụ thể phản ánh thực chất quá trình phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập. Lực lượng này chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ và vững chắc khi các các cơ chế, chính sách vừa mang tính đột phá, vừa mang tầm chiến lược và được thực thi hiệu quả. Vì vậy, tiêu chí này đề cập đến việc hoàn thiện, đổi mới cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập trong toàn ngành; phản ánh sự đãi ngộ đặc biệt để các tài năng (cả ở dạng tiềm năng và hiện thực) có cơ hội phát triển, tự phát triển và cống hiến. Tiêu chí này có một số chỉ tiêu cụ thể:

(1) Cơ chế, chính sách nhằm thu hút, tạo nguồn, tuyển chọn đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập.

Xem thêm: Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

(2) Cơ chế, chính sách ưu đãi đối với quá trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập.

(3) Những cơ chế, chính sách ưu đãi để thu hút, sử dụng, đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập.

Các chỉ tiêu trên quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống cơ chế, chính sách ổn định thể hiện sự ưu đãi đặc biệt đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập. Tuy nhiên, những chỉ tiêu này có tính động rất cao để phù hợp với sự phát triển của thực tiễn.

Các tiêu chí đánh giá công tác phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Một là, phát triển về mặt số lượng:

Số lượng giảng viên phản ánh quy mô của đội ngũ giảng viên của mỗi nhà trường. Số lượng đội ngũ giảng viên của mỗi trường phụ thuộc vào quy mô phát triển của nhà trường, nhu cầu đào tạo và các yếu tố tác động khách quan khác, như: chỉ tiêu biên chế của trường, các chính sách đối với đội ngũ giảng viên… Phát triển đội ngũ giảng viên về số lượng là để đảm bảo đủ giảng viên cần thiết đáp ứng được quy mô đào tạo, đảm bảo tính chủ động trong việc phân công giảng dạy của trường. Số giảng viên cần thiết được xác định bằng tổng số giờ trong 1 năm/ số giờ định mức của mỗi giảng viên. Việc phát triển đủ số lượng giảng viên cần thiết để đảm bảo số giờ giảng dạy của giảng viên không vượt quá số giờ theo quy định.

Hai là, phát triển về chất lượng

Phát triển đội ngũ giảng viên về chất lượng là quá trình nâng cao phẩm chất, trình độ và năng lực của giảng viên.

Phẩm chất đội ngũ giảng viên trước hết được biểu hiện ở phẩm chất chính trị, là yếu tố giúp cho người giảng viên có bản lĩnh vững vàng trước những biến động của xã hội. Trên cơ sở đó thực hiện hoạt động giáo dục toàn diện, định hướng xây dựng nhân cách cho học sinh – sinh viên có hiệu quả.

Trình độ của đội ngũ giảng viên là yếu tố phản ánh khả năng trí tuệ của đội ngũ này, là điều kiện cần thiết để cho họ thực hiện hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trình độ của đội ngũ giảng viên trước hết được thể hiện ở trình độ được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ của đội ngũ giảng viên còn được thể hiện ở khả năng tiếp cận và cập nhật của đội ngũ này với những thành tựu KHCN mới của thế giới, những tri thức khoa học hiện đại, những đổi mới trong GD&ĐT để vận dụng trực tiếp vào hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của mình. Mặt khác, trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, ngoại ngữ và tin học cũng là những công cụ rất quan trọng giúp người giảng viên tiếp cận với tri thức khoa học tiên tiến của thế giới, tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế để nâng cao trình độ, năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Hiện nay, trình độ về ngoại ngữ tin học của ĐNGV đã và đang được nâng cao, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập.

Năng lực đội ngũ giảng viên là khả năng giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nói đến năng lực của ĐNGV, cần phải xem xét trên hai góc độ chủ yếu là năng lực giảng dạy và năng lực nghiên cứu khoa học. Năng lực giảng dạy của người giảng viên là khả năng đáp ứng yêu cầu học tập, nâng cao trình độ học vấn của đối tượng; là khả năng đáp ứng sự tăng quy mô đào tạo; là khả năng truyền thụ tri thức mới cho sinh viên. Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên thể hiện khả phát hiện các vấn đề nghiên cứu, triển khai nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến kết quả nghiên cứu vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế – xã hội…

Ba là, chuyển biến, hoàn thiện về cơ cấu

Phát triển đội ngũ giảng viên hợp lý về cơ cấu là việc đảm bảo hài hòa các thành phần trong một thể thống nhất hoàn chỉnh. Trong đó:

Phát triển hài hòa về chuyên môn là việc đảm bảo tỷ lệ giảng viên hợp lý giữa các đơn vị trong nhà trường phù hợp với quy mô và nhiệm vụ đào tạo của từng chuyên ngành đào tạo.

Hài hòa về lứa tuổi là đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ trong nhà trường, tránh sự hụt hẫng về đội ngũ giảng viên trẻ kế cận, cần có thời gian nhất định để thực hiện chuyển giao giữa các thế hệ giảng viên.

Hài hòa về giới tính là việc đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa giảng viên nam và giảng viên nữ trong từng khoa, bộ môn và chuyên ngành được đào tạo của nhà trường.

Hài hòa về chính trị là việc duy trì sự cân đối về tỷ lệ giảng viên trong các tổ chức chính trị – xã hội như: Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn… giữa các phòng, khoa, bộ môn trong nhà trường.

Trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, tiêu chí quan trọng đối với phát triển đội ngũ giảng viên về cơ cấu là tỷ lệ giữa giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng. Theo Thông tư số 29/2011/TT-BLĐTBXH ngày 24 tháng 10 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, thì tỷ lệ giảng viên, giảng viên cơ hữu ít nhất là 70% trong tổng số giảng viên, giảng viên đối với trường ĐH, CĐ.

Việc phát triển ĐNGV các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập do nhiều cấp thực hiện. Trong xu thế đổi mới căn bản công tác quản lý GD&ĐT hiện nay, các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý nhân sự, tài chính, chất lượng đầu ra… Từ đó, tham gia vào phát triển ĐNGV ĐH, CĐ các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập có nhiều chủ thể quản lý, với vai trò và trách nhiệm khác nhau.

* Hiệu trưởng nhà trường

– Xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV của nhà trường

– Ban hành các quy định về nâng cao trình độ, thực hiện nghĩa vụ giảng dạy, NCKH và dịch vụ xã hội của GV nhà trường;

– Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo lại ĐNGV của nhà trường;

– Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của GV nhà trường;

– Tổ chức tuyển dụng, thi nâng ngạch và bổ nhiệm GV của nhà trường..

* Trưởng các khoa chuyên ngành

– Xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGV của khoa/ngành;

– Tổ chức hoạt động giảng dạy, NCKH của GV khoa/ngành;

– Quản lý GV của khoa/ngành;

– Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho GV của khoa/ngành;

– Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV của khoa/ngành;

– Tổ chức đánh giá GV của khoa/ngành

* Trưởng các phòng ban chức năng

– Tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việc xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV của nhà trường;

– Tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việc ban hành các quy định về nâng cao trình độ, thực hiện nghĩa vụ giảng dạy, NCKH và dịch vụ xã hội của GV nhà trường;

– Tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việc tổ chức bồi dưỡng, đào tạo lại ĐNGV của nhà trường;

– Tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho GV của nhà trường;

– Tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việc tổ chức tuyển dụng, thi nâng ngạch và bổ nhiệm GV của nhà trường…

Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập

Phân tích thực trạng chính sách phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập

Phân tích thực trạng chính sách phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập

1. Quy hoạch đội ngũ giảng viên đại học công lập

Nhà nước xây dựng Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 trong đó giao cho các bộ, ngành tự xây dựng chiến lược của đơn vị, nhưng đến thời điểm này Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa ban hành chiến lược hoặc quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập Việt Nam; Chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển giáo dục đại học với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội; Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam 2010-2020 không sát với thực tế về phát triển đội ngũ giảng viên đại học.

2. Chính sách thu hút, tuyển dụng giảng viên

Chính sách thu hút đội ngũ giảng viên đại học chưa hiệu quả bởi nhu cầu lợi ích vật chất, tinh thần và các điều kiện đảm bảo khác: Không chỉ mức trả công, cơ sở vật chất, trang thiết bị, mà còn là môi trường làm việc khoa học, dân chủ, thuận lợi cho đội ngũ giảng viên làm việc, cống hiến. Khi mà phần lớn đội ngũ giảng viên đại học công lập ở nước ta hiện nay còn nặng nề, chưa thoát ra được vòng luẩn quẩn về “cơm áo gạo tiền” thì việc toàn tâm toàn ý làm việc hết sức khó khăn.

Chính sách tuyển dụng đội ngũ giảng viên đại học công lập lấy bằng cấp là tiêu chí quan trọng, rất có thể chỉ tuyển được những người có chức danh, học vị cao nhưng thiếu năng lực, kiến thức và kỹ năng giải quyết công việc chuyên môn.

Để có thể ký hợp đồng lao động có thời hạn với đội ngũ giảng viên thỉnh giảng nước ngoài, Việt kiều, các nhà doanh nghiệp, quản lý… có đủ tiêu chuẩn, thì chính sách phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập cần phải linh hoạt, mềm dẻo hơn. Khi còn phân biệt đối tượng tuyển dụng trong và ngoài nước dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn nhân lực chất lượng cao.

3. Về chính sách sử dụng, đánh giá đội ngũ giảng viên

Chính sách về sử dụng, đánh giá chưa phù hợp với tính chất và đặc điểm của đội ngũ giảng viên sẽ dẫn đến tình trạng “hành chính hóa”. Chính sách thiếu định hướng, kiến tạo, thiếu tính thực tế, chưa tạo môi trường, điều kiện làm việc thuận lợi cho đội ngũ giảng viên, chưa kết nối được đội ngũ giảng viên cùng ngành nghề đào tạo trên toàn quốc, chưa có chính sách luân chuyển giảng viên hỗ trợ các trường đại học mới thành lập, chưa cân đối về tỷ lệ thời gian giảng dạy với thời gian NCKH, với thời gian đào tạo, bồi dưỡng, đi thực tế…Công tác sử dụng đội ngũ giảng viên chưa tạo thành một quy trình chuẩn hóa, thiếu tính chủ động của cấp khoa và tổ bộ môn, chưa tạo được động lực cho đội ngũ giảng viên phấn đấu và phát huy tiềm năng của mình. Chính sách biên chế suốt đời cũng tạo ra sức ỳ và tư tưởng: “trung bình chủ nghĩa”, cản trở ý thức tự phấn đấu vươn lên của đội ngũ giảng viên.

Xây dựng, hoàn thiện quy trình đánh giá đội ngũ giảng viên theo tiêu chuẩn GV (nghiệp vụ của chức danh giảng viên ở ngạch) thực hiện cơ chế SV đánh giá GV. Còn thiếu nhiều chính sách cần thiết đánh giá để sử dụng có hiệu quả ĐNGV đại học công lập.

4. Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng giảng viên

Chính sách về đào tạo tại nước ngoài theo các đề án, mục tiêu chính sách không đạt, đặc biệt chế độ đãi ngộ ĐNGV hiện nay còn nhiều kẽ hở, bị lợi dụng, gây kiện tụng nhiều.

Ở trong nước, khoảng trống của chính sách đào tạo trong định hướng phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập: “Tập trung đầu tư xây dựng các trường sư phạm và các khoa sư phạm tại các trường đại học để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên” theo tác giả là chưa đầy đủ, ĐNGV đại học các ngành kinh tế, kỹ thuật và quản lý… chiếm tỷ trọng lớn nhưng chưa có chính sách giao trường đại học nào đào tạo giảng viên chuyên ngành.

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng còn có khoảng trống về nội dung đào tạo và tự đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, chỉ căn cứ vào các chứng chỉ: sư phạm, ngoại ngữ, tin học… là đủ tiêu chuẩn giảng dạy Qua khảo sát thực tế và theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy tỷ lệ đội ngũ giảng viên được đi đào tạo, bồi dưỡng rất ít: tham gia đào tạo tiến sĩ chiếm 22,3%, thạc sĩ chiếm 52,3%, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 64,8%, chuyên môn nghiệp vụ 53,9%, ngoại ngữ 32,6%, tin học 37,8 %.

Phải xây dựng chính sách hợp lý giao cho những trường đại học tốp đầu trong đào tạo đội ngũ giảng viên chuyên nghiệp, cử giảng viên đi học tập ngắn hạn ở nước ngoài, thống nhất một cơ quan điều hành công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên trong cả nước; Thiếu cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia phối hợp đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên đi thực tế, thực tập. Chưa đặt ra vấn đề đào tạo theo nhu cầu công việc, đào tạo theo vị trí việc làm, đào tạo tại chỗ; Chưa có những chính sách khuyến khích, động viên đối với giảng viên tự phấn đấu nâng cao trình độ.

5. Về chính sách đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ giảng viên

Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) định hướng chỉ đạo: “Lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm chế độ phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng do Chính phủ quy định”… Tính đến 2016, mức lương tối thiểu của cán bộ, viên chức đã được điều chỉnh 11 lần, thực tế, mức tăng lương chỉ để bù đắp mức tăng giá tiêu dùng, chứ chưa thể nâng cao mức sống cho người hưởng lương.

Chính sách trả lương theo hệ số, cào bằng cả hệ thống cùng hưởng lương như nhau. Cứ vào biên chế là xếp lương, hưởng lương dù trình độ chuyên môn và hiệu quả công việc mỗi người khác nhau. Hệ thống lương của Việt Nam hiện nay được thiết kế cho thời kỳ bao cấp. Càng cải tiến để thích nghi bằng cách thay đổi chế độ phụ cấp, thang bảng lương càng làm cho hệ thống lương bất cập.

Việc thực hiện các chế độ phụ cấp của nhà giáo cũng còn bất cập, chưa tạo được động lực để phấn đấu. Chế độ phụ cấp thâm niên nhà giáo: phải sau 6 năm (kể cả năm tập sự) đứng lớp mới được hưởng. Hệ thống ngạch bậc lương của nhà giáo các cấp chưa có sự chênh lệch lớn giữa các ngạch bậc, mang tính “bình quân”. Ngoài ra, nếu xét tương quan ngạch, bậc lương của nhà giáo với ngạch, bậc lương của công chức, viên chức nghề khác thấy có sự bất hợp lý.

Ở nước ta, từ chính sách đến cách làm đều ngược với nguyên lý phổ quát của thế giới, như: Coi GS, PGS là chức danh thay cho chức vụ, có hiệu lực cả đời thay vì chức vụ có thời hạn đảm nhiệm tại trường đại học, viện nghiên cứu; bổ nhiệm GS, PGS không gắn với nhu cầu và vị trí cụ thể của trường đại học; tiêu chuẩn nhiều nhưng chưa thực tế, đặc biệt không chú trọng đến thành tích công bố quốc tế;

Phân tích thực trạng chính sách phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập

Thực trạng đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

1. Đánh giá chung

Đội ngũ giảng viên đại học ngày một nâng cao về số lượng và năng lực hoạt động thực tiễn, trình độ chuyên môn, đồng thời khắc phục một phần bất hợp lý về tỷ lệ, cơ cấu.

Đến năm học 2014-2015, cả nước có 159 trường đại học công lập, tính đến tháng 10/2015 tổng số sinh viên 1.824.328, giảng viên là 91.183 người trong đó tiến sĩ là 12,06%, thạc sĩ chiếm 46,41 %, giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư chỉ đạt 5,17 %. Mặc dù vậy, so với năm học 1990-1991, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ sở GDĐH (gấp 2,7 lần) cũng như sự gia tăng nhanh chóng quy mô đào tạo (gấp 23 lần) số lượng GVĐH của nước ta hiện chưa đáp ứng được yêu cầu. Tỉ lệ sinh viên/giảng viên (SV/GV) còn ở mức quá cao so với quy định.

2. Về số lượng ĐNGV đại học công lập

Số lượng trường đại học công lập tăng 2,7 lần, phủ khắp 62/63 tỉnh thành phố trên cả nước. Số lượng sinh viên tăng 23 lần trong khi số lượng giảng viên chỉ tăng 4,4 lần chứng tỏ số lượng đội ngũ giảng viên đại học công lập chưa đáp ứng với nhu cầu đào tạo của người học. Hơn nữa số lượng sinh viên tập trung vào khối ngành kinh tế đông dẫn đến mất cân đối với tỷ lệ ĐNGV.

Tuy nhiên hiện nay xu thế quy mô sinh viên giảm trong các năm gần đây, là thách thức, cơ hội cho các trường đại học tái cấu trúc, sắp xếp, phân loại sàng lọc đội ngũ giảng viên.

Kết quả khảo sát cho thấy 89.3% GV và 84.5% CBQL của trường đại học đồng ý và rất đồng ý với nhận định “đội ngũ giảng viên hiện nay còn thiếu về số lượng”. Năm 2010, số sinh viên cao đẳng và đại học trên một vạn dân đạt 227 so với tiêu chuẩn là 200.

3. Về chất lượng ĐNGV đại học công lập

Số lượng Giáo sư, Phó Giáo sư năm 2015 cả nước chỉ đạt 5,17%, về số lượng tiến sĩ chỉ mới đạt 12,06% (trường đại học trung bình ở phương Tây là khoảng 70% đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ) Thạc sĩ chiếm 46,41%. Chỉ với so sánh này (chưa tính đến năng lực của các giảng viên có trình độ tiến sĩ ở nước ta), chất lượng ĐNGV đại học Việt Nam rõ ràng còn rất thấp (với 12,43% tiến sĩ còn quá thấp so với mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục, đến năm 2020 Việt Nam phải đạt ít nhất 25% giảng viên là tiến sĩ). Trình độ ngoại ngữ, tin học của ĐNGV nhìn chung còn thấp. Theo điều tra, phỏng vấn chỉ 36,6% đội ngũ giảng viên đại học công lập được bồi dưỡng ngoại ngữ, 39,5% bồi dưỡng công nghệ thông tin. Khả năng NCKH của ĐNGV đại học công lập còn yếu kém và đặc biệt sinh viên ra trường thất nghiệp nhiều.

4. Về tỷ lệ, cơ cấu ĐNGV đại học công lập

Tỷ lệ về số lượng sinh viên/giảng viên năm 1986 là: 4,4/1, sau 30 năm phát triển tỷ lệ số lượng sinh viên/giảng viên năm 2016 là: 21,85/1, tăng gấp 4,97 lần.

Số lượng, tỷ lệ, cơ cấu đội ngũ giảng viên đại học chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài; tình trạng hẫng hụt, chắp vá, chồng chéo giữa các thế hệ GV còn phổ biến; Theo các số liệu thống kê giai đoạn năm 2011-2016 cho thấy cả nước ta chỉ có số trung bình 90.368 giảng viên/2.016.308 SV. Như vậy, số sinh viên trên một giảng viên trung bình là 22,3 theo chu kỳ 5 năm tỷ lệ này có giảm 1/2 so với giai đoạn 1985-1991, chưa đạt yêu cầu 20 SV/1 GV.

Thực trạng đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay