092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh của quốc gia được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Báo cáo về NLCT toàn cầu định nghĩa: Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian [55].

Ở cấp độ quốc gia, khái niệm NLCT có ý nghĩa là năng suất sản xuất quốc gia. NLCT phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên và vốn của một quốc gia, bởi chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỉ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỉ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên. NLCT không phải là việc một quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực gì để thịnh vượng mà là quốc gia đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực. Năng suất của nền kinh tế quốc dân có được nhờ sự kết hợp của các DN trong và ngoài nước [59].

Theo đánh giá NLCT của WEF, NLCT của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng các công nghệ cao hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Từ quan điểm này, WEF cũng đưa ra một khung khổ các yếu tố xác định NLCT tổng thể của một quốc gia và phân chia các yếu tố này thành 8 nhóm chính, với hơn 200 chỉ tiêu khác nhau. Từ năm 2000, WEF phân nhóm lại, từ 8 nhóm gộp lại và điều chỉnh thành 3 nhóm lớn, tuy vẫn dựa trên 200 chỉ số cơ bản nhưng trọng số của mỗi chỉ số và mỗi nhóm được điều chỉnh lại cho phù hợp hơn với vai trò, tầm quan trọng của mỗi yếu tố đối với việc nâng cao NLCT, chẳng hạn chỉ số công nghệ từ hệ số 1/9 lên 1/3. Nhóm 1- Môi trường kinh tế vĩ mô. Nhóm 2- Thể chế công. Nhóm 3- Công nghệ (còn gọi là nhóm sáng tạo kinh tế, khoa học, công nghệ) [55].

Về phương pháp luận, có hai phương pháp đánh giá khác nhau là phương pháp động và phương pháp tĩnh. Phương pháp động được thừa nhận là cần thiết và có ích hơn đối với DN và quốc gia, song đòi hỏi năng lực chuyên môn và lượng số liệu lớn. Chẳng hạn, trong khi phương pháp tĩnh chủ yếu so sánh giá các sản phẩm hiện có thì phương pháp động đòi hỏi đánh giá các đối thủ cạnh tranh trong nước và ngoài nước, dự báo sự xuất hiện các sản phẩm thay thế sản phẩm hiện có và dự báo biến động của giá cả trên thị trường thế giới. Kết quả đánh giá theo phương pháp tĩnh được phản ánh bằng Chỉ số NLCT ngắn hạn (còn gọi là NLCT hiện tại viết tắt là CCI – Curent Competitiveness Index). Kết quả đánh giá bằng phương pháp động được biểu thị bằng Chỉ số NLCT dài hạn (còn gọi là NLCT tăng trưởng, viết tắt là GCI – Growth Competitiveness Index). Ngoài ra còn có Chỉ số NLCT kinh doanh (BCI – Business Competitiveness Index), tức NLCT cấp độ DN [55].

Năng lực cạnh tranh quốc gia

 

Khái niệm năng lực cạnh tranh

Khái niệm năng lực cạnh tranh

Liên quan đến quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể có các thuật ngữ khác nhau, như “Năng lực cạnh tranh” (Competitiveness), “Sức cạnh tranh” (Competitive Edge), “Khả năng cạnh tranh” (Competitive Capacity), “Lợi thế cạnh tranh” (Competitive Advantage) và “Tính cạnh tranh” (Competitivity). Những thuật ngữ này được sử dụng khá phổ biến và đến nay vẫn chưa có sự thống nhất. Trong thực tế, các thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh”,   “Sức cạnh tranh” và “Khả năng cạnh tranh” đều được dùng là “Competitiveness”.

Năng lực cạnh tranh là khái niệm tổng hợp được xây dựng trên cơ sở kết nối và tổ hợp hệ thống nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài ở các cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp DN với tư cách là những thực thể độc lập. Theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng Việt thì “Năng lực” là (1) những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì; (2) khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc [57]. Do vậy có thể khẳng định, năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, DN hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó, mục tiêu ấy được khái quát nhất là, hiệu quả cao và phát triển bền vững.

Kế thừa những quan niệm đã trình bày, tác giả đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao và bền vững.

Vấn đề liên quan đến cạnh tranh đã thu hút sự quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân và các nhà nghiên cứu. Dẫu đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, DN và sản phẩm, song chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn được thừa nhận về vấn đề này, do đó chưa có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh [7].

Thậm chí năng lực cạnh tranh cùng cấp độ cũng có những phương pháp đánh giá khác nhau, chẳng hạn, đánh giá năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia thì trên thế giới cũng đã có hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia được các nước và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng phổ biến là: 1- Phương pháp do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu; 2- Phương pháp do Viện Quốc tế về Quản lý và Phát triển (IMD) đề xuất trong Niên giám Cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp trên đều do một số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Sachs và chuyên gia của WEF như Peter Cornelius, Macha Levinson tham gia xây dựng [55].

Sau đây sẽ làm rõ một số nội dung liên quan đến nội hàm và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh theo các cấp độ được phổ biến thừa nhận cùng với năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và mối quan hệ giữa chúng để trên cơ sở đó hoàn thiện nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Khái niệm năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh cấp tỉnh

Cạnh tranh cấp tỉnh

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và dựa vào căn cứ khác nhau, cạnh tranh được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Theo mục tiêu nghiên cứu, luận án chỉ xem xét theo cấp độ cạnh tranh để phân loại, nghĩa là bao gồm cạnh tranh cấp quốc gia, cạnh tranh cấp vùng hay cấp tỉnh, cạnh tranh cấp DN và cạnh tranh cấp sản phẩm.

Theo cách phân loại này, chủ thể cạnh tranh của cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh cấp tỉnh, cạnh tranh cấp DN và cạnh tranh sản phẩm là quốc gia, tỉnh, DN, sản phẩm. Mỗi cấp độ cạnh tranh này đều có đặc trưng, công cụ và mục đích khác nhau. Cạnh tranh quốc gia hay cạnh tranh cấp tỉnh rất khác với cạnh tranh DN, bởi cạnh tranh không thể đẩy một quốc gia hay một tỉnh phá sản, ra khỏi hoạt động kinh tế nếu không thành công giống như DN trên thị trường. Cạnh tranh DN chủ yếu tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia [6]. Như vậy, thực chất của cạnh tranh cấp quốc gia hay cấp vùng, cấp tỉnh là đứng trên giác độ quản lý nhà nước để nghiên cứu, cạnh tranh được thể hiện là sự ganh đua của các quốc gia, vùng, tỉnh trong việc tạo ra môi trường kinh doanh hiệu quả nhằm thu hút đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, vùng, tỉnh đó.

Trên cơ sở khái quát các quan điểm, lý thuyết liên quan đến cạnh tranh, có thể khẳng định sự tồn tại của cạnh tranh cấp tỉnh là một đặc thù của Việt Nam. Cạnh tranh cấp tỉnh có những điểm tương đồng với cạnh tranh quốc gia về mục tiêu và phương thức cạnh tranh. Cạnh tranh quốc gia thường được phân tích theo quan điểm tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và thể hiện vai trò của chính phủ. Cạnh tranh cấp tỉnh cũng được phân tích theo quan điểm tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế cấp tỉnh và thể hiện vai trò của chính quyền cấp tỉnh. Cạnh tranh cấp tỉnh gắn với phân cấp ngày càng rộng hơn cho chính quyền cấp tỉnh và xu hướng phi tập trung hoá (decentralization) trong quản lý kinh tế, trong đó có quản lý đầu tư.

Có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh ở cấp độ DN, sản phẩm nhưng đều có điểm chung là nghiên cứu cạnh tranh ở cấp độ vi mô, đứng trên  giác độ chủ DN, nhà quản trị kinh doanh để nâng cao NLCT của chính họ, để họ tham gia vào môi trường kinh doanh được tốt hơn.

Xét về nguồn gốc, cạnh tranh cấp tỉnh xuất hiện khi có sự phân cấp giữa TW (cấp quốc gia) và địa phương (cấp tỉnh), tạo ra quyền hành nhất định cho các tỉnh trong phát triển kinh tế, biểu hiện rõ nhất là trong lĩnh vực đầu tư và quản lý DN. Nâng cao NLCT cấp tỉnh dựa trên sự khác biệt của mỗi tỉnh trong điều kiện tuân thủ những nguyên tắc chung của chính quyền TW và thông lệ quốc tế.

Từ những nội hàm thống nhất trong quan niệm về cạnh tranh, tác giả đưa ra quan niệm về cạnh tranh cấp tỉnh như sau: Cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam là sự ganh đua giữa các chính quyền cấp tỉnh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục để tạo ra môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi thu hút đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh hiệu quả nhất nhằm mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở các chính sách pháp luật của TW và khai thác các yếu tố khác một cách hợp lý.

Cạnh tranh cấp tỉnh là đặc thù của Việt Nam bởi nó mang đầy đủ tính chất chung của cạnh tranh và có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, về nguồn gốc, cạnh tranh cấp tỉnh xuất hiện khi có sự phân cấp về kinh tế, nhất là trong lĩnh vực đầu tư và quản lý DN, giữa cấp TW và cấp tỉnh ở Việt Nam. Các chủ thể cạnh tranh là chính quyền cấp tỉnh trong mối quan hệ quản lý với các chủ thể sản xuất kinh doanh và những yếu tố liên quan đến môi trường đầu tư của tỉnh.

Hai là, về mục tiêu cạnh tranh, các chủ thể cạnh tranh có cùng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, tối đa hoá lợi ích cho các địa phương (việc làm nhiều hơn, thu nhập cao hơn,…) thông qua việc tạo các điều kiện, cơ hội (hay tạo tiềm năng tăng năng suất) để mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất cho các DN.

Ba là, về phương pháp và công cụ cạnh tranh, đó là tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, hiệu quả nhất thông qua việc tạo ra sự khác biệt trong điều hành kinh tế của mỗi địa phương.

Bốn là, các chủ thể cạnh tranh tuân thủ những ràng buộc chung, đó là các cơ chế, chính sách, thể chế của chính quyền TW, thông lệ quốc tế và sự hạn chế các nguồn lực ở mỗi địa phương (đất đai, tài nguyên khoáng sản,…) nên cần thiết phát triển quan hệ liên kết, hợp tác để đạt hiệu quả tối ưu.

Năm là, quá trình cạnh tranh được diễn ra liên tục theo thời gian và trong phạm vi không gian là các tỉnh của Việt Nam.

Như vậy, việc đưa ra một khái niệm phản ánh đầy đủ bản chất của phạm trù cạnh tranh, cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam tạo được khung khổ lý luận cho việc phân tích NLCT và đề xuất các giải pháp nâng cao NLCT cấp tỉnh trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Cạnh tranh cấp tỉnh

Khái niệm cạnh tranh

Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường. Đó là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế trên thế giới. Do cách tiếp cận hay mục đích nghiên cứu khác nhau nên đã có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh.

Lý thuyết cạnh tranh và Năng lực cạnh tranh đến nay có thể phân chia thành Trường phái cổ điển và Trường phái hiện đại.

Trường phái cổ điển với tư tưởng cạnh tranh và tự do kinh tế của A.Smith hướng vào mục tiêu phản đối sự can thiệp của Nhà nước. Bổ sung quan điểm đó, John Stuart Mill đề cao quyền tự do kinh doanh và phản đối sự can thiệp của chính phủ đối với cá nhân (tư nhân) trong ba trường hợp: 1-Chính phủ can thiệp vào những việc lẽ ra để cá nhân  thực hiện thì tốt hơn; 2-Chính phủ làm những việc mà lẽ ra để cá nhân thực hiện thì chưa chắc tốt, nhưng xét về mặt giáo dục tinh thần cho cá nhân, để cho cá nhân thực hiện những nhiệm vụ đó thì năng lực chủ động của họ sẽ được tăng thêm, đồng thời khả năng phán đoán của họ cũng có cơ hội thể nghiệm; 3- Chính phủ “ôm đồm” những công việc không cần thiết, đây là trường hợp dễ bị mọi người phản đối nhất [6].

Trường phái hiện đại tiêu biểu là lý luận sáng tạo và cạnh tranh ở trạng thái động của J.Schumpeter đã diễn giải về Khái niệm cạnh tranhđối với những nền kinh tế dựa vào thông tin và tri thức. Các hình thức kết hợp các yếu tố cạnh tranh trong quá trình cạnh tranh phải tận dụng được những tiến bộ và sáng tạo công nghệ, đồng thời nhấn mạnh vai trò của công ty, tài năng của nhà DN được thừa nhận và cần phải mở rộng môi trường hoạt động để họ phát huy tính sáng tạo, thi thố tài năng. Lý thuyết sáng tạo của J.Schumpeter chỉ ra sáng tạo trên ba bình diện: 1- Sáng tạo công nghệ và sử dụng kỹ thuật mới; 2- Sáng tạo thể chế khai thác thị trường và kiểm soát nguồn cung cấp nguyên liệu mới; 3- Sáng tạo quản lý, áp dụng hình thức tổ chức và quản lý DN mới [6].

Nghiên cứu về cạnh tranh của Michael Porter khá toàn diện từ cấp độ DN, ngành cho đến quốc gia, bao trùm cả lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Cạnh tranh được xác định là nguồn gốc của tiến bộ kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào và là nền tảng cho những công dân có năng suất cao và đời sống dư dả. Bởi chỉ có các DN mới có thể tạo ra của cải, không phải chính phủ nên hướng trọng tâm về phân tích cơ sở kinh tế vi mô của sự tăng trưởng kinh tế [6;59].

Khái quát lại hệ thống lý thuyết về cạnh tranh cho thấy, cạnh tranh là một phạm trù rất rộng và mang tính lịch sử. Cạnh tranh xuất hiện và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hoá. Cạnh tranh được nâng cấp ở mức độ khái quát hơn là quá trình đổi mới và sáng tạo vận động liên tục và không có điểm kết thúc. Cạnh tranh tồn tại từ cấp độ vi mô đến vĩ mô và bao trùm mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế – xã hội. Với nội hàm rộng lớn như vậy nên trên những giác độ nghiên cứu khác nhau đã có những khái niệm về cạnh tranh khác nhau. Xét về bản chất, cạnh tranh luôn được xem xét trong trạng thái động và ràng buộc trong mối quan hệ so sánh tương đối giữa các đối thủ cạnh tranh có chức năng giống nhau. Mục đích cuối cùng của các chủ thể trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với một địa phương hay quốc gia là tạo việc làm và thu nhập cao hơn. Trên giác độ quốc gia hay địa phương, sự thịnh vượng kinh tế không phải là một trò chơi có tổng bằng không, trong đó quốc gia, địa phương này được lợi trên sự thiệt hại của quốc gia, địa phương khác [59]. Để đạt được mục đích cơ bản cuối cùng ấy, cuộc ganh đua giữa các chủ thể phải tạo ra được những điều kiện, cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường, hợp lý hóa sản xuất (đối với các ngành, DN) hay tăng cường thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh (đối với các quốc gia, địa phương).

Như vậy, cạnh tranh bao hàm một số đặc trưng cơ bản: 1- Mang bản chất của mối quan hệ cùng mục đích giữa các chủ thể với nhau, đề cập đến cạnh tranh là một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể và các chủ thể phải có cùng mục tiêu; 2- Các chủ thể cạnh tranh đều phải tuân thủ những ràng buộc chung; 3- Phương pháp và công cụ cạnh tranh rất đa dạng; 4- Cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian và không gian không cố định.

Kế thừa những quan điểm và từ phân tích nội hàm của cạnh tranh ở trên, tác giả đưa ra khái niệm về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao và bền vững.

Khái niệm cạnh tranh

Khái niệm về chiến lược

Khái niệm về chiến lược

Thuật ngữ chiến lược xuất phát từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa để chỉ ra các kế hoạch lớn và dài hạn trên cơ sở chắc chắn rằng cái gì đối phương có thể làm được, cái gì đối phương không thể làm được. Từ đó thuật ngữ chiến lược kinh doanh ra đời, theo quan điểm truyền thống chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức để từ đó đưa ra các chương trình hành động cụ thể cùng với việc sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Theo Alfred Chandler (1962): “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Theo William J. Glueck: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện”.

Tác giả ủng hộ quan điểm của Michael E. Porter (1996) khi cho rằng “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm (what not to do), bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh (competitive advantages).

Như vậy có thể kết luận lại, chiến lược là những định hướng một cách bài bản cho những bước đi của công ty từ hiện tại hướng tới tương lai, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế cạnh tranh thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức. Các định hướng này giúp công ty định hình được con đường đi của mình, từng bước tích lũy các nguồn lực và sử dụng một cách tập trung các nguồn lực đó một cách tối ưu.

Khái niệm về chiến lược

Khái niệm đăng ký đất đai

Khái niệm đăng ký đất đai

1. Khái niệm đăng ký đất đai

Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ và cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất.

2. Vai trò của công tác đăng ký đất đai

– Đăng ký đất đai là công cụ của Nhà nước đảm bảo lợi ích Nhà nước, cộng đồng công dân như quản lý nguồn thuế, Nhà nước với vai trò trung gian tiến hành cân bằng lợi ích giữa các chủ thể, bố trí cho mục đích sử dụng tố nhất. Nhà nước biết được chác để quản lý chung qua việc dung công cụ đăng ký đất đai để quản lý. Lợi ích của công dân có thể thấy được như  Nhà nước bảo vệ quyền và bảo vệ người công dân khi có các tranh chấp, khuyến khích dầu tư cá nhân, hỗ trợ các giao dịch về đất đai, giảm khả năng tranh chấp đất đai.

– Là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, thực chất là sở hữu Nhà nước Nhà nước chia cho dân sử dụng trên bề mặt, không  được khai thác trong lòng đất và trên không, nếu được phải có sự cho phép của Nhà nước. Bảo vệ hợp pháp và giám sát nghĩa vụ theo quy định của pháp luật để đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội. Vì vậy đăng ký đất đai với vai trò thiết lập hệ thống thông tin về đất đai sẽ là công cụ giúp Nhà nước quản lý.

– Đăng ký đất đai để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất. Biết mục đích sử dụng, từ đó điều chỉnh hợp lý các thông tin hồ sơ địa chính, hồ sơ địa chính cung cấp tên chủ sử dụng, diện tích, vị trí, hình thể, góc cạnh, thời hạn sử dụng đất, mục đích sử dụng, những ràng buộc thay đổi trong quá trình sử dụng và quản lý của những thay đổi này.

3. Hình thức đăng ký đất đai

Có hai hình thức đăng ký là đăng ký tự nguyện và đăng ký bắt buộc. Theo quy mô và mức độ phức tạp của công việc về đăng ký trong từng thời kỳ đăng ký đất được chia thành 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1 : đăng ký đất ban đầu được tổ chức thực hiện lần đầu trên phạm vi cả nước để thiết lập hồ sơ địa chính ban đầu cho toàn bộ đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các chủ sử dụng đủ điều kiện.

– Giai đoạn 2 : đăng ký biến động đất đai thực hiện ở những địa phương đã hoàn thành đăng ký ban đầu cho mọi trường hợp có nhu cầu thay đổi nội dung của hồ sơ địa chính đã thiết lập

Khái niệm đăng ký đất đai

Khái niệm biện pháp tự vệ thương mại

Khái niệm biện pháp tự vệ thương mại

Tự vệ thương mại là biện pháp mà WTO cho phép một quốc gia thành viên có thể hạn chế nhập khẩu một hoặc một số loại hàng hoá trong những trường hợp khẩn cấp, khi lượng hàng nhập khẩu tăng đột biến đe doạ hoặc gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Thực hiện biện pháp tự vệ thương mại này, thực tế, quốc gia tạm thời vi phạm nghĩa vụ thương mại của mình cũng như các nguyên tắc cơ bản trong hệ thống thương mại quốc tế. “Điều 19, GATT 1994  Tự vệ thương liên quan đến vấn đề bảo hộ tạm thời nền sản xuất trong nước, khắc phục khủng hoảng đối với ngành sản xuất đặc thù do ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách cắt giảm thuế quan và, vì thế, có thể được áp dụng tất cả đối với các hàng hóa được nhập khẩu lành mạnh (nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước). Các biện pháp tự vệ phải được thực hiện trên cơ sở không phân biệt đối xử (có hiệu lực đối với hàng hóa nhập khẩu của tất cả các đối tác thương mại) và chỉ được áp dụng cho một sản phẩm nhập khẩu cụ thể (gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước).

Ví dụ : Vụ kiện kính nổi

Dựa trên những căn cứ cho rằng có sự gia tăng đột biến về nhập khẩu đối với mặt hàng kính nổi, dẫn đến sụt giảm về sản lượng, công suất, thị phận, lợi nhuận và nguy cơ cắt giảm lao động trong khu vực ngành sản xuất trong nước, ngày 5/5/52009 Công ty kính nổi Viglacera (VIFG) và Công ty Kính nổi Việt Nam (VFG) là 2 doanh nghiệp đại diện cho hơn 90% tổng sản lượng nội địa của loại mặt hàng này (sau đây gọi là “Nguyên đơn”) đã nộp Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu vào Việt Nam với mã HS 7005 29 90 00 và 7005 21 90 00. Trong đơn yêu cầu, Nguyên đơn đề nghị áp dụng mức thuế tự vệ tương đương 0,6USD/m2QTC đối với hàng hóa thuộc đối tượng điều tra. Trước khi có quyết định chính thức áp dụng biện pháp tự vệ, Nguyên đơn yêu cầu Bộ Công Thương áp dụng mức thuế tự vệ tạm thời 40% đối với hàng hóa thuộc đối tượng điều tra[1].

[1] https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dan-su/vu-kien-tu-ve-dau-tien-cua-viet-nam-thuc-tien-va-kinh-nghiem.aspx

Khái niệm biện pháp tự vệ thương mại

Khái niệm bán phá giá

Khái niệm bán phá giá

Trong Thương mại quốc tế, một sản phẩm được coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá của sản phẩm tương tựở nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường, hoặc nếu nó được bán với giá thấp hơn chi phí để sản xuất ra nó. Một sản phẩm hàng hóa được coi là nhập khẩu với mức thấp hơn mức trị giá thông thường nếu giá bán của sản phẩm đó thấp hơn:

(1) Giá có thể so sánh trong tiến trình thương mại thông thường với một sản phẩm tương tự nhằm mục đích tiêu dùng tại thị trường một quốc gia khác (thông thường là giá tại nơi xuất khẩu;

(2) Giá bán của sản phẩm trên thị trường nước thứ ba;

(3) Giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nơi xuất xứ có cộng thêm một chi phí hợp lý bao gồm các khoản chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho, tiền công bán hàng và lợi nhuận. Như vậy, bán phá giá hàng nhập khẩu có thể được thực hiện dưới hình thức : Bán dưới giá thành và Phân biệt giá quốc tế;

Việc bán một sản phẩm ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài với giá khác nhau.  Tác động bán phá giá đối với thương mại quốc tế. Hành vi bán phá giá đã phá vỡ sự cân bằng của thị trường hàng liên quan tại nước nhập khẩu Tuy nhiên, bán phá giá sẽ có ảnh hưởng tích cực nhất đến người tiêu dùng của quốc gia nhập khẩu. Đánh giá hành vi bán phá giá trong sự cân bằng giữa những lợi ích và thiệt hại mà nó mang lại cho nền kinh tế để tránh việc ngăn cản một cách tràn lan đối với hàng hóa nhập khẩu được bán với giá rẻ.  Bán phá giá trong pháp luật thương mại quốc tế. Trong hệ thống thương mại WTO và trong luật thương mại của hầu hết các quốc gia trên thế giới, bán phá giá về cơ bản không phải là hành vi bất hợp pháp hoàn toàn. GATT chỉ yêu cầu ngăn cản những hành vi bán phá giá gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về vật chất cho một ngành công nghiệp hay làm chậm trễ sự thành lập của một ngành công nghiệp nội địa. Như vậy, quốc gia nhập khẩu sẽ chỉ áp dụng các biện pháp thương mại chống ảnh hưởng bán phá giá khi hành vi này gây thiệt hại ở một mức độ nhất định đối với các doanh nghiệp nội địa.

Ví dụ : Vụ kiện bán phá giá tôm

Tháng 11/2004, Bộ Thương mại Mỹ phán quyết Việt Nam và Trung Quốc bán phá giá tôm đông lạnh và đóng hộp trên thị trường Mỹ. Mức thuế chống bán phá giá đối với các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam được quy định từ 4,13% đến 25,76%[1].

[1]http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/nr091019080134/nr091019085342/nr091102100337/ns100208082006?b_start:int=565

Khái niệm bán phá giá

Khái niệm trợ cấp trong thương mại quốc tế

Khái niệm trợ cấp trong thương mại quốc tế

Theo Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng (SCM) của WTO thì khái niệm trợ cấp được hiểu là các khoản đóng góp tài chính hoặc lợi ích kinh tế đặc biệt của chính phủ hay cơ quan công quyền dành cho các doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất trong nước  nằm trên lãnh thổ của mình nhằm đạt được một số mục tiêu kinh tế. Trợ cấp chính phủ có thể tồn tại dưới hình thức trực tiếp như chuyển trực tiếp các khoản vốn  (Ví dụ như cấp phát, cho vay, hay góp cổ phần), chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (như bảo lãnh tiền vay, bảo đảm tín dụng). Hoặc trợ cấp chính phủ tồn tại ở mức độ gián tiếp hơn như bỏ qua hoặc không thu các khoản thu phải nộp cho chính phủ (VD: ưu đãi tài chính như miễn thuế); cung cấp hàng hóa hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở hoặc mua hàng trực tiếp của doanh nghiệp.

Trợ cấp chính phủ được coi là tồn tại hội đủ hai yếu tố: (1) Các khoản đóng góp tài chính là của chính phủ  hoặc các cơ quan công quyền và (2) đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp được trợ cấp.  Lợi ích ở đây là lợi ích riêng biệt, Điều 2 SCM (gồm 4 loại: trợ cấp riêng theo doanh nghiệp, theo ngành kinh tế, theo vùng địa lý và các trợ cấp đỏ bị cấm).

Ảnh hưởng của trợ cấp chính phủ đối với thương mại tự do do trợ cấp gồm : (1) tại thị trường trong nước, các sản phẩm nội địa rẻ hơn, sức cạnh tranh mạnh hơn hàng hóa nước ngoại nhập, và (2) khi được xuất khẩu, ưu thế về giá giúp các sản phẩm được trợ cấp có thể dễ dàng được nhập khẩu, tăng thị phần, cạnh tranh không lành mạnh với sản phẩm được bán tại quốc gia nhập khẩu.  Trợ cấp chính phủ đối với ngành sản xuất, bất kể là trong nước hay xuất khẩu đềusẽ tạo cho các doanh nghiệp được trợ cấp lợi thế cạnh tranh không lành mạnh, tạo ra lợi ích không hợp lý giữa các chủ thể cùng tham gia hoạt động kinh doanh. Và khi bị lạm dụng, doanh nghiệp tư nhân sẽ dựa dẫm vào các khoản trợ cấp, ít năng động, khi các trợ cấp bị cắt giảm, các Doanh nghiệp trên khó có thể tồn tại, gây ảnh hưởng xấu đến cả xã hội. Tuy nhiên, trợ cấp chính phủ không bị cấm hoàn toàn. Mỗi quốc gia đều muốn duy trì, ổn định nền kinh tế, xã hội của mình theo định hướng, mục tiêu, đặc thù  tiếp tục trợ cấp để duy trì các ngành kinh tế thiết yếu cần thiết cho nướcriêng mình.

Ví dụ : Về vụ kiện chống trợ cấp tôm nước ấm của Việt Nam

Theo thông tin từ Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương), tại cuộc họp biểu quyết ngày 7/2, Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (USITC) khẳng định có dấu hiệu về việc ngành sản xuất tôm Mỹ chịu thiệt hại đáng kể, do tôm nhập khẩu bị cáo buộc có trợ cấp trong vụ kiện chống trợ cấp. Cụ thể là sản phẩm “tôm nước ấm đông lạnh” nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc, Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Kết quả này đồng nghĩa với việc Bộ Thương mại Mỹ DOC tiếp tục tiến hành điều tra, xác định sự tồn tại và mức độ của các trợ cấp bị cáo buộc. Dự kiến DOC sẽ đưa ra kết luận sơ bộ vào ngày 25/3.

Trước đó, ngày 28/12/2012, Liên minh Các nhà chế biến tôm của Mỹ (nguyên đơn) đã đệ đơn kiện lên DOC yêu cầu điều tra áp thuế chống trợ cấp, đệ đơn lên USITC yêu cầu điều tra thiệt hại liên quan đến mặt hàng “tôm nước ấm đông lạnh” nhập khẩu từ các nước trên. Ngày 18/1/2013, sau khi xem xét đơn kiện và lập luận của các bên liên quan, DOC đã chính thức thông báo khởi xướng điều tra vụ việc. Ngày 2/1/2013, USITC ban hành bảng câu hỏi dành cho các nhà xuất khẩu của các nước bị đơn, trong đó có Việt Nam[1].

[1] http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/my-cung-ran-trong-vu-kien-tom-viet-nam-2726339.html

Khái niệm trợ cấp trong thương mại quốc tế