092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Khái niệm về sinh kế

Khái niệm về sinh kế

Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện.

Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Chambers, R. And G. Conway, 1992).

Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ (Seppala, 1996).

Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó.

Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau. Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ. Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ. Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:

– Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người. Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn.

– Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ.

– Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v.v.

Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên. Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ.

– Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin v.v.

– Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng.

Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng.

Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; Các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin, v.v.

Khái niệm về sinh kế

Văn hóa là gì? Khái niệm về văn hóa

Văn hóa là gì? Khái niệm về văn hóa

Văn hóa là gi? Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…

Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh 1995: 431].

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [UNESCO 1989: 5].

Theo Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa – không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa, nơi nào có con người nơi đó có văn hóa.

Khi nghiên cứu về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Cũng chính vì thế văn hóa biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ. Một đất nước giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần.

Xem thêm: Khái niệm về văn hóa

Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữ con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam. Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin – 1999 [tr. 1796] thì văn hóa là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai.

Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tao ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”.

Các bạn đã vừa tham khảo khái niệm văn hóa là gì . Các bạn có thể tham khảo thêm Khái niệm về văn hoá và phản văn hoá tại đây

Văn hóa là gì? Khái niệm về văn hóa

Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty Chứng khoán

Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty Chứng khoán

Khái niệm về rủi ro cho đến nay vẫn còn là vấn đề mang nhiều tranh cãi. Ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, rủi ro được định nghĩa khác nhau gắn với những nguyên tắc của lĩnh vực đó như: toán học, kinh tế, tài chính, kinh doanh.

Rủi ro gắn với xác suất: Theo quan điểm này, rủi ro là một tổ hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất. Điều này cũng được đề cập đến trong khái niệm của ISO (Tổ chức tiêu chuẩn hóa thế giới) về rủi ro, đó sự kết hợp giữa xác suất xảy ra một sự kiện và những hậu quả tiêu cực hoặc tích cực của sự kiện đó. Nếu xác suất mất mát là 0 thì không có rủi ro [56].

Rủi ro với đe dọa: Trong một số trường phái, rủi ro và đe dọa là hai phạm trù riêng biệt. Đe dọa là một sự kiện có xác suất xảy ra thấp nhưng với hậu quả lớn, các nhà phân tích khó có thể đánh giá được xác suất. Rủi ro, mặt khác, được định nghĩa là sự kiện có xác suất xảy ra cao hơn, nhưng không có đủ thông tin để đánh giá cả xác suất và hậu quả xảy ra [22].

Rủi ro gắn với kết quả xảy ra:  Một số định nghĩa về rủi ro có xu hướng tập trung vào các viễn cảnh suy thoái (kết quả xấu), trong khi một số khác lại mở rộng hơn và xem xét tất cả các khả năng có thể của rủi ro (Kết quả xấu hoặc tốt). Cụ thể, dưới góc độ kinh tế học, những nhà nghiên cứu theo quan điểm truyền thống cho rằng rủi ro là khả năng điều gì đó xấu xảy ra: sự nguy hiểm xảy ra thiệt hại hoặc thua lỗ. Tuy nhiên, theo trường phái hiện đại, rủi ro có thể mang lại may mắn, hiệu quả, thuận lợi (kết quả tốt, còn gọi là rủi ro ngược); nhưng cũng có thể mang lại tai họa, thiệt hại, khó khăn (kết quả xấu, còn gọi là rủi ro xuôi) [22].

Các nhà tài chính lại cho rằng rủi ro là những gì xảy ra trong tương lai không được như mong muốn hay kỳ vọng, kết quả có thể gây tổn thất về giá trị tài sản, sự giảm sút tỷ suất sinh lời thực tế so với lợi suất dự kiến.

Trong kinh doanh, rủi ro được quan niệm là nhân tố ảnh hưởng ngược chiều đối với lợi nhuận kỳ vọng. Rủi ro làm giảm lợi nhuận kỳ vọng, đôi khi triệt tiêu lợi nhuận và dẫn đến vỡ nợ, phá sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều có ý nghĩa thiết thực nhất là rủi ro trong kinh doanh cần được hiểu dưới góc độ rủi ro tài chính. Đó là một quan niệm không chia cắt giữa rủi ro và lợi nhuận. Quan niệm về rủi ro cũng chính là quan niệm về hai mặt của một vấn đề, đằng sau lợi nhuận hứa hẹn mà một hành vi kinh doanh mang lại là những rủi ro tiềm tàng. Các nhà quản lý kinh doanh không thể quan niệm tách rời giữa hai mặt – rủi ro và lợi nhuận được.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm rủi ro được nhắc đến với hàm ý là độ lệch khỏi lợi nhuận kỳ vọng, nếu lệch về phía trên, đó là sự gia tăng lợi nhuận, nếu lệch về phía dưới, đó là sự gia tăng “rủi ro”. Bản thân thuật ngữ rủi ro như vậy đã bao hàm cả lợi nhuận và rủi ro theo nghĩa thông thường.

Từ quan điểm trên, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán được hiểu là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của CTCK, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ kinh doanh nhất định. Khái niệm này bao hàm hai nội dung cơ bản: (1) Sự thay đổi; (2) Kết quả của sự thay đổi là không lường trước được. Sự thay đổi hay chính là sự không chắc chắn về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, hoặc không thể chỉ định rõ chuyện gì sẽ xảy ra, khả năng chắc chắn là bao nhiêu phần trăm. Đối với từng quy mô, kết quả của sự thay đổi sẽ khác nhau. Về cơ bản, đối với CTCK, ngoài lợi nhuận, rủi ro có thể ảnh hưởng đến tài sản, uy tín, đạo đức, thiệt hại nhân sự, rủi ro nghiệp vụ và cuối cùng là giá trị và hình ảnh của công ty.

Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty Chứng khoán

Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán

Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán

1. Khái niệm Chuẩn mực kế toán

“Chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính” [15, trang 1]

Chuẩn mực kế toán gồm có 2 loại: Chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực tư và Chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực công.
Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về kế toán uỷ quyền ban hành.

2. Cách thức ban hành Chuẩn mực kế toán trên thế giới

Chuẩn mực kế toán được xây dựng và ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Tại một số quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, Đức…chuẩn mực kế toán quy định chi tiết cách xử lý nghiệp vụ, sổ sách, báo cáo… Tại một số quốc gia khác, đa số là quốc gia khối Anglo-Saxon như Anh, Hoa Kỳ, Úc…thì chuẩn mực kế toán chỉ đưa ra nguyên tắc, các đơn vị sẽ linh hoạt trong việc áp dụng nhưng phải tuân thủ nguyên tắc của chuẩn mực.

Tổ chức ban hành cũng khác nhau: Canada, Hong Kong,…do Hội nghề nghiệp; Pháp, Trung Quốc… do Chính phủ; Hoa Kỳ, Anh…do Ủy ban độc lập. Ở Việt Nam, chuẩn mực kế toán do Chính phủ, cụ thể là Bộ tài chính ban hành và hướng dẫn chi tiết bởi các thông tư, chế độ.

Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán

Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bản thân doanh nghiệp mà còn cả trong nền kinh tế, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển mỗi quốc gia mà tại đây diễn ra quá trình sản xuất kinh doanh: đầu tư, tiêu thụ và phân phối, trong sự chu chuyển của vốn luôn gắn liền với sự vận động của vật tư hàng hóa.

Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối và sử dụng, quản lý vốn một cách có hiệu quả.

Để nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp mình cũng như tình hình tài chính của các đối tượng quan tâm thì việc phân tích tài chính thông qua các báo cáo tài chính là rất quan trọng. Thông qua việc phân tích hệ thống báo cáo tài chính, người ta có thể sử dụng thông tin đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh, triển vọng cũng như rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp. Bởi vậy, việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhóm đối tượng khác nhau như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay tín dụng, nhân viên ngân hàng, các nhà bảo hiểm và kể cả cơ quan Nhà nước cũng như nhóm có xu hướng tập trung vào các khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của mỗi doanh nghiệp.

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:

Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.

Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Thị trường tài chính là thị trường giao dịch các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu… Thành phần tham gia giao dịch trên thị trường tài chính bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và chính phủ là những người tham gia mua và bán các loài tài sản tài chính – hàng hóa của thị trường tài chính. Như vậy, doanh nghiệp có thể mua và bán các loại hàng hóa của thị trường tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,… để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn, dài hạn hoặc đầu tư số tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến.

Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường đầu vào và đầu ra về hàng hóa, dịch vụ: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quna hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm vật tư, máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động…. Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường.

Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn. Các quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí,…

Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ

Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ

Các cấp độ cạnh tranh và năng lực cạnh tranh có khác nhau về quan điểm tiếp cận. Trong khi cạnh tranh, năng lực cạnh tranh quốc gia, vùng, tỉnh và ngành được đứng trên góc độ quản lý nhà nước để nghiên cứu để tạo môi trường kinh doanh, để hấp dẫn thu hút đầu tư nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng, phát triển quốc gia, vùng, tỉnh, ngành thì cạnh tranh, năng lực cạnh tranh DN, sản phẩm được đứng trên giác độ chủ DN, nhà quản trị kinh doanh, nhà đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh của chính họ, để họ tham gia vào môi trường đó được tốt hơn.

Mục tiêu cuối cùng của nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, vùng, tỉnh là tăng trưởng, phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân của quốc gia, vùng, tỉnh đó. Tuy nhiên, chỉ có các DN mới có thể tạo ra của cải, tạo ra tăng trưởng, phát triển nền kinh tế thông qua hoạt động đầu tư phát triển.

Các DN này có thể tồn tại và phát triển được chỉ trong điều kiện môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi ngoài nỗ lực của chính DN. Mà việc tạo lập môi trường kinh doanh và đầu tư là chức năng chủ yếu của chính phủ, chính quyền cấp tỉnh. Vì thế, để nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cải thiện môi trường kinh doanh, hấp dẫn thu hút đầu tư là nhiệm vụ trọng tâm.

Giữa năng lực cạnh tranh các cấp độ có mối quan hệ ảnh hưởng qua lại với nhau rất chặt chẽ. năng lực cạnh tranh quốc gia là điều kiện cần thiết để các tỉnh, các DN, các ngành và sản phẩm phát triển bền vững và cải thiện năng lực cạnh tranhcủa mình.

Môi trường kinh tế càng tự do thể hiện cơ chế chính sách càng thông thoáng thì năng lực cạnh tranh của DN, sản phẩm càng cao. Bởi mỗi nền kinh tế được cấu thành từ tập hợp hệ thống các ngành hàng cụ thể, xác định nên năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm, DN càng cao thì năng lực cạnh tranh của ngành càng mạnh, là điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh và cả nền kinh tế quốc gia.

Lý luận cạnh tranh quốc gia hay cạnh tranh cấp tỉnh đều nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước, mà trong đó năng lực điều hành của chính quyền ở cả cấp TW và cấp địa phương đối với phát triển kinh tế là vấn đề cốt lõi. Như thế, để nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền KTTT định hướng XHCN.

Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Phi tập trung hoá là xu hướng đang phát triển phổ biến trong quản lý kinh tế ở nhiều nước. Phi tập trung hoá là chế độ phân chia quyền hạn và trách nhiệm, thẩm quyền về quản lý kinh tế của TW cho chính quyền địa phương. Do đó, trong phạm vi một quốc gia cũng xuất hiện sự ganh đua giữa các vùng hay cấp địa phương, được gọi là cạnh tranh vùng hay địa phương mà ở Việt Nam đang tồn tại một cấp độ cạnh tranh đặc thù là cạnh tranh cấp tỉnh.

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, mọi địa phương. Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia, địa phương sẽ có những chính sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Tuy nhiên, bất kỳ quốc gia, địa phương nào cũng phải tìm lời giải đáp cho vấn đề nguồn lực cho đầu tư phát triển ở đâu và cách thức huy động các nguồn lực ấy như thế nào. Tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư và phát triển DN là lời giải đáp của mỗi chính phủ, chính quyền địa phương. Khả năng của một địa phương cấp tỉnh trong thu hút các DN, các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển kinh tế – xã hội theo những mục tiêu đã định chính là năng lực cạnh tranh của tỉnh đó. Do vậy, một tỉnh có Năng lực cạnh tranh cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các DN, nhà đầu tư hay đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tỉnh đó.

Trong khi cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, có tính chất và phương thức cạnh tranh gay gắt hơn, đa dạng hơn thì trong phạm vi một quốc gia, cạnh tranh giữa các tỉnh (hay vùng) có mức độ được hiểu mềm dẻo và linh hoạt hơn. Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương (vùng) đó. Đồng thời trong sự ganh đua có tính chất hợp tác, liên kết cùng phát triển. Vấn đề liên kết ở đây thực chất là sự hợp tác, liên kết các ngành, liên kết các địa phương không chỉ nhằm mục tiêu tạo lực như xoá bỏ mức độ giới hạn địa giới hành chính tạo ra các nguồn lực đầu vào (đất đai, nguyên liệu, lao động) có quy mô lớn hơn cho các nhà đầu tư, mà còn làm sao phân chia nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Liên kết các địa phương trong vùng và liên kết các ngành mang tính bổ sung lẫn nhau, duy trì và tăng cường Năng lực cạnh tranh cho các tỉnh.

Như vậy, thực chất Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia.

Trong mô hình Kim cương vận dụng nghiên cứu xác định Năng lực cạnh tranh các tỉnh (xem Sơ đồ 1.2) cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của chính quyền cấp tỉnh. Trong điều kiện phân cấp mạnh mẽ, chính quyền cấp tỉnh có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp, tích cực hoặc tiêu cực đến sức hấp dẫn của các yếu tố đầu vào (nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tri thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng), các yếu tố liên quan đầu ra (quy mô thị trường, tập quán tiêu dùng,…); hệ thống các DN và nhà đầu tư tại địa phương; các ngành dịch vụ hỗ trợ và liên quan. Những tác động ấy được biểu hiện thông qua sự ảnh hưởng của chính quyền cấp tỉnh đối với các yếu tố trên như sau:

Một là, đối với các yếu tố sản xuất, thể hiện chủ yếu ở lĩnh vực đào tạo lao động (số lượng và chất lượng hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thông tin thị trường lao động,…) và chất lượng cơ sở hạ tầng (đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh,…). Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý [29] nên chính quyền cấp tỉnh có vai trò rất lớn đối với yếu tố sản xuất này tại địa phương, như quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; định giá đất,…

Hai là, đối với các ngành hỗ trợ và liên quan. Mỗi ngành sản xuất kinh doanh đều có các ngành hỗ trợ và liên quan như ở các lĩnh vực công nghệ, thông tin (kinh doanh, thị trường, đầu tư). Trong phạm vi địa phương, chính quyền cấp tỉnh có thể trực tiếp thực hiện các dịch vụ hỗ trợ DN (như trợ giúp pháp lý, xúc tiến thương mại – đầu tư,…) hoặc khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển các dịch vụ hỗ trợ này.

Ba là, đối với các yếu tố đầu ra. Ở cấp địa phương, sự ảnh hưởng này không rõ nét như ở cấp quốc gia. Chính quyền địa phương có thể tác động lên thị trường tiêu thụ sản phẩm của DN thông qua những dự báo, định hướng sản xuất – tiêu dùng, đồng thời chính quyền tỉnh cũng có thể đóng vai trò là khách hàng trong một số trường hợp cần thiết. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin của DN rất quan trọng, một mặt có thể giúp DN định hướng thị trường đáp ứng tốt hơn nhu cầu cầu thị trường, mặt khác, định hướng cho người tiêu dùng về những hàng hóa có chất lượng. Bên cạnh đó, chính quyền có thể nỗ lực cải cách hành chính để cắt giảm chi phí không chính thức cho DN, từ đó có khả năng giảm giá bán, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời, giảm chi phí thời gian thực hiện các quy định của Nhà nước nhằm giúp DN tận dụng tối đa cơ hội trong sản xuất kinh doanh.

Bốn là, đối với cơ cấu, hệ thống DN, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh. Sự ảnh hưởng của chính quyền cấp tỉnh lên yếu tố này khá rõ nét. Xuất phát từ định hướng chiến lược phát triển các ngành kinh tế của địa phương, chính quyền cấp tỉnh sẽ có những cơ chế, chính sách cụ thể (như chính sách thuế, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư, liên kết,…) để khuyến khích mở rộng hay hạn chế đầu tư (trong và ngoài nước) vào lĩnh vực nào đó. Đồng thời, thực hiện giảm chi phí gia nhập thị trường sẽ tạo lập nhiều DN mới. Do đó, có thể thay đổi cơ cấu, hệ thống DN, nhà đầu tư tại tỉnh.

Ngoài ra, các cơ hội cũng có vai trò ảnh hưởng nhất định lên các nhân tố trong mô hình, chẳng hạn như là sự phát triển khoa học công nghệ thế giới, cơ chế chính sách riêng của TW, quan hệ đối ngoại (thông qua hoạt động liên kết, hợp tác,…) của các địa phương khác đối với tỉnh.

Như vậy, vai trò của chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh. Vai trò ấy được xác định trên các mặt sau: (1) Định hướng phát triển thông qua các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, chính sách phát triển kinh tế; (2) Tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các DN hoạt động và cạnh tranh lành mạnh; (3) Điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính công; (4) Kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế theo pháp luật, chính sách đã đề ra.

Để nâng cao Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất (hay nguồn lực mềm) đều rất quan trọng. Trong khi các nguồn lực vật chất dễ nhận biết, lượng hoá thì nguồn lực phi vật chất không phải lúc nào và ai cũng nhìn nhận ra được và nhìn nhận như nhau. Vì thế, khi nói đến Năng lực cạnh tranh và tạo dựng Năng lực cạnh tranh cho địa phương mình, mỗi tỉnh nhìn nhận và cách làm khác nhau. Trong tư duy cạnh tranh cũ, có tỉnh đã “xé rào” để thu hút các nhà đầu tư, DN [46]. Trong tư duy “cạnh tranh phát triển bền vững”, Năng lực cạnh tranh của tỉnh được đánh giá chủ yếu trong “con mắt” của nhà đầu tư và DN mà không chỉ dưới góc nhìn chính quyền tỉnh. Đồng thời, các tỉnh cạnh tranh đặt trong mối quan hệ hợp tác, liên kết để phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi tỉnh trong khung khổ luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế.

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Năng lực cạnh tranh ngành

Năng lực cạnh tranh ngành

Trong cạnh tranh ngành có chủ thể cạnh tranh là ngành. Nhưng do khái niệm ngành khá trừu tượng và khó tách bạch rõ ràng phạm vi ngành nên cạnh tranh ngành có ý nghĩa gần với cạnh tranh nhóm sản phẩm (như cạnh tranh ngành dệt may thực ra là cạnh tranh nhóm sản phẩm dệt may).

Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng đạt năng suất cao, sử dụng đầu vào thấp nhất để tạo được nhiều đầu ra nhất trong một ngành. Cũng có cách tiếp cận khác, Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng của ngành đó trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Cách tiếp cận này sát với thực tiễn khi người ta đánh giá so sánh Năng lực cạnh tranh của một ngành giữa các quốc gia khác nhau.

Một số tiêu chí đánh giá Năng lực cạnh tranh ngành là mức lợi nhuận bình quân ngành, tỷ trọng của ngành trong cơ cấu kinh tế, các sản phẩm mũi nhọn của ngành, hệ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA – Revealed Comparative Advantage: xác định trên cơ sở tỷ lệ giữa tỷ trọng xuất khẩu một mặt hàng của một quốc gia trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đó của quốc gia với tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó của thế giới so với tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong một năm), tỷ lệ nội địa hóa, số lượng các bằng phát minh và sáng chế trong ngành, mức vốn đầu tư, tốc độ phát triển của ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp hỗ trợ (bổ trợ).

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến Năng lực cạnh tranh ngành, có thể chia theo các nhóm nhân tố sau: điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển khoa học – công nghệ; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế – xã hội [13].

Năng lực cạnh tranh ngành

Năng lực cạnh tranh sản phẩm

Năng lực cạnh tranh sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm cụ thể trên thị trường. Cạnh tranh sản phẩm thể hiện những lợi thế của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh [13].

Các chỉ tiêu đánh giá Năng lực cạnh tranh của sản phẩm bao gồm các chỉ tiêu cơ bản và các chỉ tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu cơ bản bao gồm giá thành và giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối và uy tín DN. Chỉ tiêu uy tín DN có ảnh hưởng đến Năng lực cạnh tranh sản phẩm, cho thấy mối quan hệ giữa Năng lực cạnh tranh DN ảnh hưởng cơ bản và lâu dài đến Năng lực cạnh tranh sản phẩm.

Các chỉ tiêu đánh giá cụ thể Năng lực cạnh tranh của sản phẩm bao gồm các chỉ tiêu định lượng và các chỉ tiêu định tính.

– Các chỉ tiêu định lượng bao gồm những chỉ tiêu cơ bản: 1- Thị phần của sản phẩm trên thị trường trong từng năm so với đối thủ cạnh tranh, có thể tính thị phần khi so với toàn bộ thị trường, so với phân đoạn (phân khúc) thị trường mà DN lựa chọn, so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất; 2- Mức sản lượng, doanh thu tiêu thụ của mặt hàng đó trong từng năm so với đối thủ cạnh tranh; 3- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng so với đối thủ cạnh tranh.

– Các chỉ tiêu định tính bao gồm những chỉ tiêu cơ bản: 1- Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh; 2- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm về mẫu mã, kiểu cách so với các đối thủ cạnh tranh; 3- Ấn tượng về hình ảnh nhãn hiệu hàng hóa của nhà sản xuất ra mặt hàng đó so với hàng hóa cùng loại của các đối thủ cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh sản phẩm