092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Vai trò của hoạt động đào tạo

Vai trò của hoạt động đào tạo

Đào tạo bao gồm các lĩnh vực từ trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng, đại học và sau đại học, đây là quá trình truyền thụ kiến thức khoa học kỹ thuật cho người học, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cho người lao động, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của bất cứ quốc gia nào, đào tạo luôn luôn có vai trò và vị trí cực kỳ quan trọng. Điều này được thể hiện trên các góc độ sau đây:

Thứ nhất, đào tạo là hoạt động không thể thiếu đối với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Muốn có một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn minh đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ. Sản phẩm của đào tạo là con người, là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Trình độ thành thạo, kỹ năng của con người có tác động trực tiếp đến năng suất lao động, việc hình thành kỹ năng nhất thiết phải thông qua giáo dục và phải được đào tạo.

Thứ hai, CNH-HĐH đất nước về thực chất là nâng cao năng suất lao động xã hội bằng cách thúc đẩy phát triển công nghiệp, sử dụng khoa học công nghệ tiên tiến, đưa đất nước lên một trình độ phát triển mới. Một trong những nhân tố quyết định thành công của CNH-HĐH là nhân tố con người. Điều này đã được UNESCO khẳng định trong tài liệu “Hiểu để hành động”, xuất bản năm 1997 tại Paris khi cho rằng “con người đứng ở trung tâm của sự phát triển”, với ý nghĩa “con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự phát triển”. Quan điểm này ngày nay được nhiều nước thừa nhận và phát triển hết sức phong phú cả về lý luận và thực tiễn như một qui luật phát triển của thời đại. Các nước đang phát triển có thể rút ngắn thời kỳ công nghiệp hóa trên cơ sở đầu tư phát triển mạnh nguồn lực con người. Sự đầu tư được hiểu trên cả ba mặt: chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức sống và phát triển sự nghiệp đào tạo. Trong đó đầu tư cho hoạt động đào tạo là đầu tư có hiệu quả nhất.

Thứ ba, sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta đặt ra mục tiêu là đến năm 2020 về cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Vì vậy, muốn đảm bảo tăng trưởng về kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị trước hết phải chăm lo phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có những phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Để làm được điều này, hoạt động đào tạo phải nhanh chóng đổi mới, phấn đấu đưa nền giáo dục nước nhà đạt trình độ tiên tiến so với các nước trong khu vực trong vòng một, hai thập kỷ tới.

Vai trò của hoạt động đào tạo

Đặc điểm giáo dục đào tạo trong các trường Quân đội

Đặc điểm giáo dục đào tạo trong các trường Quân đội

Các trường sỹ quan quân đội là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân nên cũng có những đặc điểm chung như các trường ngoài quân đội. Nhưng GDĐT trong các trường sỹ quan quân đội là một hoạt động của lực lượng vũ trang nên nó có những đặc điểm riêng.

1. Đặc điểm về đào tạo

– Đào tạo theo kế hoạch và có địa chỉ: Căn cứ vào tổ chức, biên chế của các đơn vị, Cục Cán bộ lập kế hoạch đào tạo và giao nhiệm vụ đào tạo cho các trường. Học viên tốt nghiệp được phân công về các đơn vị theo kế hoạch, quy hoạch được xác định trước. Không có tình trạng học viên ra trường không có việc làm, không tự chọn đơn vị công tác.

– Kinh phí đào tạo: Do NSNNNN bảo đảm toàn bộ thông qua NSNN quốc phòng. Người học không phải đóng học phí, được bảo đảm toàn bộ chi phí về học liệu, được hưởng phụ cấp theo cấp bậc quân hàm và các chế độ khác của người quân nhân. Vì vậy, các trường sỹ quan quân đội thường rất thích hợp với học sinh là con các gia đình có thu nhập thấp, ở các vùng nông thôn.

– Nghề nghiệp chỉ gắn với quân đội là chính, ngoài một số chuyên ngành có khả năng thích ứng với nền kinh tế quốc dân như quân y, thông tin, kỹ thuật…, hầu hết các ngành chỉ ứng dụng trong lực lượng vũ trang. Học viên học tại các trường sỹ quan là xác định con đường binh nghiệp của mình. Về cơ bản họ phục vụ quân đội suốt cuộc đời. Vì vậy quá trình đào tạo trong các trường sỹ quan quân đội luôn gắn chặt với tính kỷ luật cao. Việc học tập, rèn luyện phải tuân theo điều lệnh kỷ luật bộ đội. Các hoạt động từ học tập đến các chế độ sinh hoạt hàng ngày nhất nhất được theo dõi chặt chẽ.

➯ Xem thêm: Khái niệm về giáo dục đào tạo và giáo dục đào tạo trong quân đội

Như vậy, đào tạo ở các trường sỹ quan quân đội có nhiều điểm khác so với các trường ngoài quân đội. Những đặc điểm về đào tạo đòi hỏi hệ thống chương trình thiết kế phải tỷ mỷ và rộng, không chỉ phản ánh kết quả học tập mà còn phản ánh kết quả rèn luyện.

2. Đặc điểm tổ chức quá trình đào tạo

Xuất phát từ nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, về mọi mặt với Quân đội, và xuất phát từ yêu cầu về phẩm chất và năng lực người sỹ quan. Việc tổ chức quá trình đào tạo ở các trường quân đội có những đặc điểm sau:

– Cơ cấu ngành đào tạo: đào tạo theo danh mục, Bộ Quốc phòng quản lý.

– Quy mô đào tạo: theo chỉ thị của Bộ Quốc phòng.

– Mục tiêu đào tạo: nhà trường đề xuất,  Bộ Quốc phòng phê duyệt và quản lý.

– Chương trình nội dung: chương trình do nhà trường xác định, Bộ Quốc phòng phê duyệt và quản lý. Nội dung và hình thức huấn luyện do bộ môn, khoa xác định, nhà trường quản lý.

– Tuyển sinh: thi tuyển quốc gia theo tiêu chuẩn của Bộ, Cục Nhà trường tổ chức.

– Giảng viên: theo biên chế quy định, làm việc theo kế hoạch và chế độ quản lý bộ đội. Bộ môn quản lý về chuyên môn, khoa vừa quản lý chuyên môn đồng thời thực hiện chức năng quản lý bộ đội.

– Phương pháp giảng dạy: Giảng viên chủ động áp dụng các phương pháp giảng dạy khác nhau nhưng phải thực hiện đúng chỉ lệnh huấn luyện về các hình thức huấn luyện.

– Học viên tốt nghiệp: Bộ Quốc phòng phân công công tác.

Cách quản lý theo mô hình có ưu điểm là: bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Bộ Quốc phòng với công tác huấn luyện lực lượng vũ trang, nhất là các vấn đề liên quan đến đường lối quốc phòng, cách đánh và các phương án bảo đảm cho các hình thức tác chiến. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và rèn luyện của học viên, công tác và rèn luyện của Giảng viên, góp phần tăng cường kỷ luật quân đội.

Đặc điểm giáo dục đào tạo trong các trường Quân đội

Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân

Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân

Luật Giáo dục của Việt Nam bản sửa đổi năm 2009 tại Điều 48 “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân” qui định:

Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:

a) Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;

b) Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động;

c) Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.

Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân.

➯ Xem thêm: Khái niệm về giáo dục đào tạo và giáo dục đào tạo trong quân đội

Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường được quy định tại các điều 50, 50a, 50b và Điều 51 của Luật này”.

Bên cạnh đó, Điều 49 “Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân” cũng đưa ra qui định:

Trường của cơ quan nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Trường của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh.

Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định tại Điều 36 và Điều 42 của Luật này nếu đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật giáo dục và Điều lệ nhà trường ở mỗi cấp học và trình độ đào tạo, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục và thực hiện chương trình giáo dục để cấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.

Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân

Sự ra đời và phát triển của lý luận dạy học đại học

Sự ra đời và phát triển của lý luận dạy học đại học

Sự ra đời và phát triển của lý luận dạy học đại học phụ thuộc vào những điều kiện khách quan của môi trường xã hội – kinh tế – văn hoá, đặc biệt là sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và những yêu cầu của chính bản thân nền giáo dục – đào tạo đại học của mỗi quốc gia.

Ngày nay, nhân loại đang bước vào “nền văn minh của làn sóng thứ ba” với những “cơ may và hy vọng” song cũng “đầy những thử thách và lo âu”. Một trong những đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bão với những nét đặc trưng cơ bản sau:

– Lượng thông tin về khoa học – kỹ thuật tăng nhanh, tăng nhiều gấp bội. Nếu như năm 1750, khi bắt đầu cuộc cách mạng khoa học lần thứ hai, trên toàn thế giới mới có 10 tạp chí khoa học và sau 100 năm (1850), đã có 100 tạp chí 1980 có 100.000 tạp chí; năm 2000 đã có tới trên 1.000.000 tạp chí khoa học. Hàng năm có tới 4 – 5 triệu bài báo khoa học được công bố, 300.000 báo cáo khoa học; 110.000 tên sách và có tới 400.000 phát minh, sáng chế về các lĩnh vực khoa học được công bố. Theo sự tính toán và nhận xét của các nhà khoa học thì cứ khoảng 7 – 10 năm, thậm chí 5 – 7 năm khối lượng thông tin có thể tăng gấp 2 lần, 2/3 số lượng tri thức và hơn 90% lượng thông tin khoa học do loài người thu lượm được chỉ trong thế kỷ XX, đặc biệt trong vài thập niên gần đây cùng với sự “bùng nổ thông tin” là sự “lão hoá” về tri thức, những cái cũ, lạc hậu, lỗi thời dần dần mất tác dụng trong thực tiễn. Chỉ trong khoảng 5 – 10 năm, tốc độ lão hoá về tri thức và kỹ năng trung bình là 15 – 20%; những tri thức, kỹ năng về nghề nghiệp có thể lão hoá tới 20 – 30%; thậm chí đối với các lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn có thể lão hoá tới 30 – 50 %.

– Thời gian từ khi phát minh ra những nguyên lý khoa học đến khi ứng dụng những tri thức đó vào thực tiễn sản xuất ngày càng rút ngắn lại. Ví dụ: máy ảnh là 112 năm (1727 – 1839), điện thoại là 56 năm (1820 – 1876), tranxito là 5 năm (1948 – 1953), mạch vi điện tử là 3 năm (1958 – 1961), tia laze chỉ có 2 năm (1960 – 1962)… Quy trình hoàn thành công nghiệp hoá ở một số nước cũng dần dần rút ngắn lại: nước Anh là 120 năm; một số nước Tây âu và Mỹ là 80 năm; Nhật Bản là 60 năm; 4 con rồng châu á (Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore) chỉ có 20 năm.

– Số lượng các nhà bác học tăng rất nhanh trong cách mạng khoa học – kỹ thuật. Người ta nhận thấy 9/10 các nhà khoa học sống cùng thời đại chúng ta, bình quân cứ 10 năm số các nhà khoa học có thể tăng gấp 2 lần. Với nền kinh tế tri thức hiện nay, rất cần các nhà lãnh đạo sáng suốt, các nhà doanh nghiệp tài ba, đặc biệt cần có các nhà khoa học – công nghệ giỏi. Do đó, nền sản xuất đại công nghiệp đòi hỏi đội ngũ những người lao động phải có trình độ cao: 60% có trình độ trung học và công nhân lành nghề; 34% có trình độ đại học và cao đẳng; 6% có trình độ trên đại học để không ngừng nghiên cứu và sáng tạo trong mọi lĩnh vực khoa học, sản xuất và cuộc sống.

– Trong cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ tư (từ những năm 50 của thế kỷ XX), với “nền văn minh của làn sóng thứ ba” – nền văn minh hậu công nghiệp, văn minh tin học, con người đã đạt được những thành tựu vô cùng lớn lao trong các lĩnh vực khoa học điện tử, lượng tử, kỹ thuật hạt nhân, đại dương học, sinh thái học, công nghiệp đen,… và những phạm trù mới: “cách mạng liên tuyến , “môi trường tin tức”, “môi trường thông minh”, “bộ nhớ xã hội”,… không còn xa lạ với mỗi chúng ta. Thời đại ngày nay, cùng với sự xuất hiện nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới, nảy sinh nhiều ngành nghề mới, khoa học – công nghệ đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống chính trị, văn hoá, xã hội. Và từ đó, nhiều ngành khoa học giáp ranh xuất hiện, mối quan hệ tương tác giữa các ngành khoa học ngày càng đậm nét. Mặc dù đã xuất hiện các xu hướng hoặc phóng đại vai trò sự phân ngành các lĩnh vực khoa học hoặc tuyệt đối hoá sự hợp nhất các ngành khoa học, nhưng xu hướng chung vẫn là sự kết hợp hai xu hướng trên và khẳng định tính độc lập của các lĩnh vực khoa học và vai trò của nó trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật, tính chất phức tạp của môi trường kinh tế – chính trị – văn hoá – xã hội nói riêng, xu thế phát triển của thời đại nói chung đã ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện tới ngành giáo dục – đào tạo nói chung, giáo dục đại học nói riêng. Thực tiễn đó đã đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với nền giáo dục đại học. Theo tài liệu của UNESCO về sự định hướng cho sự phát triển của giáo dục đại học thì nền giáo dục đại học hiện đại cần đáp ứng 10 yêu cầu cơ bản sau:

  1. Các trường đại học phải là một trung tâm đào tào có chất lượng cao, phải đa dạng hoá, chuyên môn hóa trong giáo dục đào tạo nhằm đạt hiệu quả cao trên nhiều lĩnh vực khoa học.
  2. Các trường đại học phải là một trung tâm tập hợp những sinh viên có năng lực trí tuệ phát triển ở mức độ cao. Đó là những thanh niên có năng lực tham gia tích cực vào các chương trình đào tạo của nhà trường và luôn quan tâm đến vấn đề công bằng xã hội và giáo dục – đào tạo.
  3. Các trường đại học phải là một cộng đồng toàn tâm toàn ý, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, trong phổ biến, vận dụng và đưa những phát minh công nghệ vào thực tiễn cuộc sống.
  4. Các trường đại học phải là một trung tâm học tập tích cực, có ý chí học tập thường xuyên, học suốt đời để không ngừng phục vụ sự phát triển của xã hội.
  5. Các trường đại học luôn luôn là một trung tâm bồi dưỡng, cập nhật chuẩn hoá và hoàn thiện tri thức.
  6. Các trường đại học là một trung tâm trong đó có sự liên thông hợp tác đào tạo, hợp tác nghiên cứu và dịch vụ khoa học có chất lượng và hiệu quả cao.
  7. Các trường đại học phải là một trung tâm tham gia giải quyết những vấn đề khoa học của địa phương, dân tộc, khu vực và thế giới.
  8. Các trường đại học phải có những trung tâm tư vấn về khoa học – công nghệ cho các cấp quản lý để từ đó có những quyết định đúng đắn dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn.
  9. Các trường đại học phải là một cộng đồng gồm những thành viên tích cực tham gia xây dựng nền văn hoá hoà bình.
  10. Các trường đại học phải luôn môn thích ứng được với nhịp sống hiện đại, luôn phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của mỗi quốc gia và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng xã hội, cách mạng khoa học – công nghệ đang ảnh hưởng một cách toàn diện, sâu sắc tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội nói chung, giáo dục – đào tạo ở đại học nói riêng, đặc biệt tác động đối với mục tiêu giáo dục đào tạo những cử nhân khoa học – những người có trình độ học vấn cao, có kiến thức rộng về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, khoa học công nghệ… những thanh niên năng động sáng tạo đáp ứng yêu cầu nhiều mặt của nền kinh tế tri thức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Trong đó cần đặc biệt chú ý tới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật – công nghệ đối với sự phát triển của con người với tư cách vừa là đối tượng, vừa là chủ thể tích cực của cuộc cách mạng ngày nay.

Sự tiến bộ khoa học – kỹ thuật không những ảnh hưởng đến cơ cấu nhân lực lao động mà còn đề ra những yêu cầu mới đối với trình độ và năng ]ực của họ. Như chúng ta đã biết, trong điều kiện cách mạng khoa học – kỹ thuật tiến nhanh như vũ bão, một số tri thức trở nên lạc hậu và thậm chí hết tác dụng, bên cạnh đó, có những tri thức mới xuất hiện, được ứng dụng vào các quá trình sản xuất khác nhau. Người lao động, người cán bộ khoa học – kỹ thuật cần nâng cao trình độ và năng lực của mình.

Vì vậy, nhà trường đại học cần có chất lượng đào tạo ở mức độ cao cả về tri thức khoa học cơ bản, tri thức khoa học cơ sở, tri thức khoa học chuyên ngành và những kỹ năng nghề nghiệp tương ứng. Bởi lẽ, trong tương lai, xã hội phải được xác định trên nền tảng của tri thức, đó là yêu cầu khách quan tất yếu. Mặt khác, trong quy trình đào tạo, nhà trường đại học cần phản ánh đậm nét xu thế phát triển tương lai của các lĩnh vực khoa học và công nghệ; cần hướng tới nền văn minh của “làn sóng thứ ba”, nền văn minh hậu công nghiệp. Với sự ra đời và phổ cập của nhiều thế hệ máy tính điện tử, tính chất của lao động cũng dần thay đổi: lao động nặng (kể cả lao động trí óc, lao động độc hại trong vũ trụ hay dưới đáy đại dương) đã và sẽ chuyển giao cho máy đảm nhiệm… Trong tương lai, lợi thế sẽ thuộc về các quốc gia có lực lượng lao động được đào tạo ngang tầm với những đòi hỏi của nền công nghệ hiện đại, trong đó, khoa học – kỹ thuật phải là lực lượng sản xuất trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội.

Thực tiễn cuộc cách mạng xã hội và cách mạng khoa học công nghệ ngày nay đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo nói chung, các trường đại học nói riêng phải đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý, những “mẫu người” tương lai cần có những năng lực cơ bản sau:

– Năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống, khoa học công nghệ, trong tổ chức quản lý quy trình sản xuất hiện đại, trong cơ chế thị trường v.v…

– Năng lực tham gia tích cực các hoạt động xã hội, chính trị;

– Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học.

Muốn đào tạo có chất lượng và hiệu quả đội ngũ cán bộ như vậy cần phải hoàn thiện quy trình hoạt động của các trường đại học, trong đó giáo dục, dạy học là hoạt động đặc trưng cơ bản nhất. Vì vậy, một vấn đề được đặt ra là cần hình thành, phát triển và hoàn thiện bộ môn giáo dục đại học với tư cách một ngành khoa học thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Nó nghiên cứu bản chất quá trình giáo dục và đào tạo ở đại học, nghiên cứu những quy luật, nguyên tắc và quy trình công nghệ điều khiển hệ thống sư phạm nhằm thực hiện tối ưu mục đích và nhiệm vụ giáo dục và đào tạo ở các trường đại học.

Lí luận dạy học đại học là một bộ phận cấu thành của giáo dục học đại học, nó nghiên cứu những khái niệm, những phạm trù, những quy luật và nguyên tắc… thuộc lĩnh vực dạy học ở đại học.

Nếu như lý luận dạy học truyền thống được biểu diễn dưới dạng một hình tam giác thì trong đó đáy là lý luận giáo dục mầm non, phần thân là lý luận dạy học phổ thông và đỉnh của nó là lý luận dạy học đại học. Điều đó có nghĩa là lý luận dạy học đại học mới đang ở giai đoạn hình thành và bước đầu phát triển. Thật vậy, trước đây và thậm chí hiện nay còn có ý kiến cho rằng lý luận dạy học nói chung, quá trình, nguyên tắc và phương pháp dạy học ở đại học nói riêng chỉ là những khái niệm trừu tượng không có ý nghĩa thực tiễn. Hoạt động dạy học ở đại học được tiến hành không cần có cái gọi là “Lí luận dạy học hay phương pháp dạy học ở đại học”, tất cả chỉ là do quá trình tích luỹ kinh nghiệm, do nghệ thuật giảng dạy tự do, giảng dạy sáng tạo của các giáo viên đại học… Điều đó hoàn toàn không có cơ sở khoa học.

Vậy lý luận dạy học đã ra đời như thế nào? Từ, những năm 1920 – 1930, ở Liên Xô (cũ) và các nước phát triển khác như Mỹ, Anh và các nước Tây âu đã bắt đầu xuất hiện một số bài viết về vấn đề giáo dục, giảng dạy ở đại học. Tuy vậy, cho đến những năm 1940 – 1950 người ta cũng chưa đạt được những kết quả đáng kể về nghiên cứu lý luận dạy học đại học dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn dạy học ở đại học. Phần lớn những công trình chỉ mới dừng ở chỗ tổng kết kinh nghiệm cá nhân. Và trên cơ sở đó, nêu ra những kết luận những kiến nghị.

Song đến những năm 60, ở Liên Xô đã có một bước ngoặt đáng kể trong việc nghiên cứu giáo dục học đại học nói chung và lý luận dạy học đại học nói riêng. Ngoài những sách, báo, chuyên khảo, người ta còn tổ chức nhiều hội nghị khoa học, nhiều xêmina để bàn luận về những vấn đề trong lĩnh vực dạy học ở đại học. Ở một số trung tâm đại học, người ta xây dựng các bộ phận nghiên cứu giáo dục học đại học. Năm 1966, Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp Liên Xô tổ chức Hội đồng nghiên cứu khoa học giáo dục đại học và theo đề nghị của hội đồng này, người ta đã thành lập Viện nghiên cứu các vấn đề đại học.

Từ đó, nhiều công trình mới ra đời, phản ánh những thành tựu mới trong việc xây dựng lý luận dạy học đại học.

Một trong những công trình lớn là cuốn sách “Những bài giảng về lý luận dạy học ở đại học” của X. L.Arkhanghelxki.(l)

Có thể nói rằng, cuốn sách này là sự tổng kết có giá trị những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực lý luận dạy học đại học.

Thật vậy, xuất phát từ năm nhiệm vụ của lý thuyết khoa học do I. Linga(2) đề xuất (vạch ra các con đường tổ chức và điều chỉnh hệ thống, giải thích các con đường tổ chức đó và điều chỉnh các khái niệm, các phạm trù khoa học, dự đoán sự phát triển khoa học, vạch ra các con đường lựa chọn, các phương pháp và các phương tiện nghiên cứu khoa học, xác định những cách thức. Phổ biến những luận điểm khoa học của lý thuyết nhất định và chỉnh lý chúng tuỳ thuộc vào các điều kiện và các nhiệm vụ nghiên cứu). Arkhanghelxki có ý định xây dựng một tài liệu với tư cách là “Nhập môn lý luận dạy học với mục đích lưu ý người đọc tới những vấn đề là cơ sở cho sự phát triển quá trình dạy học ở đại học. Do đó, tác giả đã đề cập một loạt vấn đề như sau:

– Tình trạng và một số luận điểm xuất phát của lý luận dạy học trong trường đại học.

– Một số dấu hiệu và các đặc điểm phát triển của khoa học và ảnh hưởng của chúng tới quá trình dạy học đại học.

– Một số luận điểm duy vật – biện chứng quan trọng nhất làm cơ sở cho sự phát triển của trường đại học.

Tổng quan về các phương hướng phát triển cơ bản của hệ thống quá trình dạy học đại học.

– Về các điều kiện cần thiết của việc xây dựng nội dung mới của lý luận dạy học đại học.

– Một số luận điểm tâm – sinh lý làm cơ sở cho lý luận dạy học đại học.

– Những vấn đề tâm lý của giáo dục đại học.

– Các con đường xác định nội dung và các phương pháp dạy học.

– Một số phương pháp chung của khoa học hiện đại.

– Những yếu tố phương pháp thông báo cơ bản của hệ thống quá trình dạy học.

– Diễn giảng ở đại học, các nhiệm vụ, việc chuẩn bị và tiến hành.

– Một số vấn đề về tình trạng sử đụng các phương tiện kỹ thuật dạy học.

Bên cạnh sự xuất hiện những cuốn sách tương tự, trên tạp chí “Tin tức đại học” thường xuyên có những bài báo bàn về những vấn đề cụ thể trong giảng dạy và học tập hoặc những vấn đề chung về lý luận dạy học đại học (“Tâm – sinh lý lứa tuổi sinh viên và việc nắm vững tri thức”, “Nâng cao tính độc lập của sinh viên trong việc nắm vững tri thức “, “Thế nào là một bài diễn giảng hiện đại”…)

Ở Việt Nam, trên tập san (nay là tạp chí) “Đại học và giáo dục chuyên nghiệp”, đã xuất hiện hàng loạt bài bàn về hoạt động dạy học ở đại học. Điều này nói lên sự quan tâm ngày càng nhiều của các thầy giáo, cô giáo ở đại học đối với việc nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời nói lên sự cấp thiết phải tổng kết các kinh nghiệm dạy học và xây dựng cơ sở khoa học cho lý luận dạy học đại học ở Việt Nam.

Một số bài báo đã đề cập những vấn đề chung trong quá trình dạy học như “Xung quanh vấn đề biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, “Thử bàn về dạy tốt”, “Kiên trì, sáng tạo thực hiện phương pháp đào tạo mới” v.v… Một số bài đề cập đến những vấn đề cụ thể trong hoạt động dạy học, như “Một số ý kiến về giảng bài và phụ đạo”. “Soạn bài và giảng trên lớp”, “Hướng dẫn làm đồ án môn học”, “Hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp” v.v… Một số bài đề cập những điều kiện đảm bảo hoạt động dạy học đạt kết quả cao, như “Phát huy vai trò của thầy giáo trong công tác tổ chức và chỉ đạo học tập”, “Động cơ học tập là điều quyết định”, “Xác định rõ trách nhiệm, tập trung tư tưởng, chọn cách học thích hợp” v.v… Bên cạnh đó, còn có những bài nói lên sự cấp bách phải nghiên cứu những vấn đề phục vụ cho việc xây dựng lý luận dạy học đại học ở Việt Nam, như: “Đã đến lúc phải bàn về phương pháp dạy học ở các trường đại học”, “Một đòi hỏi cấp bách”… Đặc biệt, năm 1979, lần đầu tiên trên Tạp chí xuất hiện một hệ thống bài đề cập những vấn đề rất cơ bản của lý luận dạy học đại học. Sự ra đời hệ thống những bài báo này gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Viện Đại học và Trung học chuyên nghiệp, của Ban Thư Kí khoa học giáo dục đại học (1979) sau chuyển thành Ban Thư Kí khoa học giáo dục đại học (1982), đồng thời với việc gắn liền với việc đưa chuyên đề lý luận dạy học đại học vào kế hoạch bồi dưỡng sau đại học, và từ năm học 1990 – 1991, lý luận dạy học đã chính thức trở thành một chuyên đề, một môn chung trong chương trình đào tạo Thạc sĩ trong cả nước.

Như vậy, với tư cách là môn học chung trong chương trình đào tạo Thạc sĩ, lý luận dạy học đại học đã kế thừa và phát huy những giá trị lý luận và thực tiễn trong các công trình nghiên cứu về giáo dục học đại học nói chung, lý luận dạy học đại học ở các nước tiên tiến cũng như ở Việt Nam trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX. Với “nền văn minh của làn sóng thứ ba”, do ảnh hưởng của những “cú sốc tương lai” giáo dục đại học có vị trí và vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp đào tạo đội ngữ cán bộ khoa học cho đất nước. Bởi lẽ “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài” là “Kế lớn trăm năm để chấn hứng đất nước” (Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu – Trung Quốc).

Sự ra đời và phát triển của lý luận dạy học đại học

Định hướng giáo dục đào tạo trong các trường quân đội giai đoạn đến năm 2020

Định hướng giáo dục đào tạo trong các trường quân đội giai đoạn đến năm 2020

Nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo các cán bộ, sỹ quan trong tình hình mới, thì hoạt động đào tạo trong các nhà trường quân đội cũng phải có những điều chỉnh cho phù hợp. Một số định hướng chính trong công tác đào tạo tại các nhà trường quân đội giai đoạn đến năm 2020 như sau:

Thứ nhất, xây dựng Chương trình và Quy hoạch đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới.

Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện Chương trình khoa học giáo dục “Đổi mới công tác GDĐT cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật các cấp đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới”. Đẩy nhanh tiến độ đổi mới quy trình, chương trình, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, từng bước hiện đại hóa trang thiết bị dạy học; đổi mới chính sách: công tác quản lý GDĐT và xây dựng nhà trường chính quy.

Đảng ủy và chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu, các Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Bộ đội Biên phòng, Quân đoàn, Binh đoàn, Binh chủng, ngành và các cơ quan phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ theo hướng nhân viên chuyên môn kỹ thuật gắn với nhu cầu sử dụng và phát triển của cấp và ngành mình, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch tổng thể đào tạo hàng năm.

Thứ hai, hoàn thiện quy hoạch hệ thống nhà trường Quân đội,nâng cao hiệu lực chỉ đạo, quản lý đào tạo và xâydựng nhà trường

Trên cơ sở tổ chức, biên chế quân đội, tập trung chấn chỉnh tổ chức hệ thống nhà trường Quân đội ổn định về nhiệm vụ, ngành nghề: l­ưu lượng đào tạo, bậc học, trình độ đào tạo; bảo đảm vững chắc khả năng đào tạo; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật; lấy nhà trường làm nơi dự trữ cán bộ. Sẵn sàng mở rộng lực lượng khi cần thiết.

Hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp chỉ đạo, điều hành của cơ quan chức năng đối với công tác GDĐT, xây dựng nhà trường quân đội theo đúng các qui định của Luật Giáo dục và những quy định của Bộ Quốc phòng.

Xây dựng chế độ khuyến khích cán bộ tự học, tự nghiên cứu, nâng cao trình độ, năng lực toàn diện.

Hoàn thiện hệ thống văn bằng của các bậc học, trình độ đào tạo và công tác quản lý cấp phát văn bằng trong toàn quân.

Nghiên cứu bổ sung, sửa đổi các quy chế, quy định GDĐT. Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nhà trường.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giáo GDĐT, quản lý cơ sở vật chất, tài chính, tài sản công.

Các trường phải tích cực tham các hoạt động diễn tập, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của toàn quân và các hoạt động của ngành GDĐT toàn quốc; thực hiện nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu.

Thứ ba, đổi mới quy trình, chương trình, nội dung GDĐT và phương pháp dạy học

Hoàn thiện quy trình đào tạo – sử dụng cán bộ chỉ huy tham mưu, chính trị binh chủng hợp thành, Quân chủng, Binh chủng, ngành theo hướng tinh giản nội dung, rút ngắn thời gian đào tạo.

Tập trung chỉ đạo, đầu tư­ cho bậc đào tạo cơ bản, trang bị kiến thức tiềm năng theo mặt bằng chung của Nhà nước đi đôi với rèn luyện năng lực thực hành theo chức vụ, trọng tâm là chức vụ ban đầu.

Kết hợp đào tạo tại trường với bồi dưỡng cán bộ trong thực tiễn.

Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, gắn với thực tiễn quân đội, phù hợp với sự phát triển của nghệ thuật quân sự, với vũ khí trang bị, khoa học – công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Chương trình đào tạo phải vừa đáp ứng mục tiêu chung, vừa cụ thể hóa cho từng đối tượng, ngành nghề; chú trọng cả dài hạn và ngắn hạn; bảo đảm tính liên thông, không để trùng lặp nội dung; kết hợp tốt đào tạo chính khóa với ngoại khóa.

Đổi mới, hoàn thiện nội dung đào tạo sát với đối tượng tác chiến, với địa bàn, chiến trường, với khả năng và cách đánh của ta; với sự phát triển của nghệ thuật quân sự và vũ khí, trang bị; đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội về chính trị. Chú trọng các vấn đề chiến lược về nội dung bảo vệ Tổ quốc trong thời bình và thời chiến.

Thống nhất tài liệu công tác chỉ huy tham mưu, nghệ thuật tác chiến binh chủng hợp thành, Quân chủng, Binh chủng, ngành và tài liệu khoa học xã hội – nhân văn theo hướng chuẩn hóa, làm cơ sở hoàn thiện giáo trình, tài liệu dạy học.

Nâng cao chất lượng dạy ngoại ngữ đáp ứng với mục tiêu, yêu cầu đào tạo ở từng bậc học và trình độ đào tạo; tổ chức dạy tiếng Hoa, Lào, Khme cho cán bộ công tác trên tuyến biên giới; sớm đào tạo đội ngũ cán bộ phiên dịch đáp ứng yêu cầu.

Đẩy mạnh việc vận dụng phương pháp dạy học hiện đại, sát thực tế, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và bồi dưỡng năng lực tư duy, rèn luyện năng lực hoạt động thực tiễn cho người học. Chú trọng đổi mới phương pháp giáo dục các môn khoa học – xã hội và nhân văn. Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập, rèn luyện. bảo đảm tính khách quan, phản ảnh đúng thực chất trình độ của người học.

Gắn đào tạo tại trường với các hoạt động diễn tập, huấn luyện: sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin: kỹ thuật mô phỏng trong dạy và học; tăng cường tổ chức tham quan. nghiên cứu thực tế trong quá trình đào tạo.

Thứ tư, kiện toàn và phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.

Xây dựng và triển khai thực hiện tốt Đề án kiện toàn và phát triển đội ngũ Nhà giáo quân đội, đảm bảo cả về số lượng và cơ cấu; trong đó, chú trọng về nâng cao trình độ học vấn, năng lực và tay nghề sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn; phấn đấu đến năm 2020 đủ số lượng nhà giáo theo biên chế mới và có dự trữ khoảng l0%; có trên 90% đạt tiêu chuẩn quốc gia về trình độ học vấn và trên 90% đạt quy định của Bộ Quốc phòng về giữ chức vụ. Đổi mới chế độ luân phiên đi thực tế theo yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy và phát triển của Nhà giáo.

Tăng cường các biện pháp quản lý đội ngũ Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức, tác phong của nhà giáo. Phân công, phân cấp hợp lý giữa các cấp, các ngành về trách nhiệm, quyền hạn quản lý nhà giáo. Bố trí cán bộ đủ phẩm chất, năng lực làm công tác giảng dạy và quản lý GDĐT. Thực hiện tốt quy trình, kế hoạch tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục theo tiêu chuẩn chức danh. Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, các Tổng cục, các đồng chí Tư lệnh, Chính ủy các Quân khu, Quân chủng, Bộ đội Biên phòng, Quân đoàn, Binh chủng, Giám đốc, Chính ủy các nhà trường trực tiếp tham gia giảng dạy một số nội dung về khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, công tác Đảng, công tác chính trị, khoa học xã hội -nhân văn và khoa học kỹ thuật – công nghệ quân sự

Bổ sung, hoàn thiện các chế độ, chính sách về đãi ngộ, khen thư­ởng, bảo đảm điều kiện làm việc và sinh hoạt đối với Nhà giáo Quân đội; tôn vinh các Nhà giáo đã qua chiến đấu, Nhà giáo có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm và cống hiến cho sự nghiệp GDĐT trong quân đội.

Thứ năm, tăng cường đầu tư­ về cơ sở vật chất cho các trường Quân đội

Tập trung đầu tư­ có trọng tâm, trọng điểm cho các trường Quân đội về cơ sở vật chất, đáp ứng l­ưu lượng và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Trong đó, xác định rõ thứ tự ưu tiên, trước mắt bảo đảm nhu cầu về chỗ ở, khu học tập làm việc; xây dựng xong các trường trọng điểm, đẩy nhanh tiến độ xây dựng gọn một số hạng mục thiết yếu trong các Học viện, nhà trường khác. Nâng dần tỷ lệ đầu tư­ xây dựng cơ bản, phấn đấu đến năm 2020 đảm bảo đủ chỗ ở học tập, làm việc của các trường theo chuẩn qui định tại Quyết định số 121/2007/QĐ- TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ.

Đầu tư xây dựng sở chỉ huy diễn tập của một số trường: tập trung đầu tư­ nâng cấp thao trường, bãi tập, trung tâm huấn luyện dã ngoại, thư­ viện, phòng học chuyên ngành, cơ sở thực hành, ưu tiên đầu tư­ phòng thí nghiệm công nghệ cao cho một số ngành mũi nhọn phục vụ nghiên cứu: giảng dạy, thực hành và sản xuất, sử dụng tốt các trang bị hiện có, mua sắm, điều động vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới cho các trường.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong các trường.

Tập trung đầu tư­ cho nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.

Phát triển đội ngũ cán bộ đầu ngành, bồi dưỡng cán bộ trẻ kế cận, nâng cấp trang thiết bị và đổi mới chính sách khoa học, công nghệ trong nhà trường.

Xây dựng cơ chế liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ.

Nâng cao chất lượng hiệu quả các đề tài và việc ứng dụng kết quả nghiên cứu của các trường vào hoạt động thực tiễn.

Khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên trong các trường.

Bảo đảm đủ giáo trình, tài liệu cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học.

Thứ bảy, công tác chuẩn bị nguồn đào tạo.

Nâng cao chất lượng nguồn đào tạo trung đội trưởng, nguồn đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội, tuyển chọn đúng đối tượng, đủ tiêu chuẩn theo quy định. Có chế độ, chính sách ưu tiên tuyển chọn đối với con cán bộ, đảng viên; con công nhân, nông dân, gia đình có công với cách mạng. Tuyển chọn thiếu sinh quân, quân nhân, học sinh dân tộc thiểu số làm nguồn đào tạo cán bộ tại chỗ. Tuyển chọn vào đào tạo cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp từ nguồn quân nhân thi ch­ưa đủ điểm vào đại học cấp phân đội.

Xây dựng kế hoạch tạo nguồn đào tạo cán bộ trong nước và nước ngoài. Bảo đảm số lượng, tiêu chuẩn chất lượng nguồn đào tạo cán bộ cấp trung đoàn, sư đoàn; nguồn đào tạo Tiến sĩ, Thạc sĩ; nguồn bồi dưỡng công nhận các chức danh Giáo sư­, Phó giáo sư­. Tuyển chọn sinh viên các ngành quân đội có nhu cầu, đủ điều kiện theo quy định đề bồi dưỡng thành cán bộ quân đội. Tăng cường phát hiện, tuyển chọn tài năng quân sự đi đôi với việc đào tạo bồi dưỡng và có chính sách ưu đãi cần thiết.

Tổ chức thi tuyển vào đào tạo cơ bản từ cấp phân đội đến cấp chiến dịch – chiến lược, theo đúng quy chế Nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng. Thực hiện tốt chính sách cử tuyển đào tạo cán bộ, nhân viên đối với một số ngành đặc thù quân sự người dân tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn, địa bàn trọng điểm. Tổ chức chặt chẽ việc tạo nguồn, bồi dưỡng văn hóa, ngoại ngữ cho nguồn đào tạo cán bộ các cấp, cho nguồn đào tạo sau đại học và đi học nước ngoài.

Thứ tám, tăng cường liên kết trong nước và hợp tác quốc tế về đào tạo.

Các cấp các ngành trong quân đội phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Đảng và Nhà nước trong việc đầu tư­ các nguồn lực cho công tác GDĐT, xây dựng nhà trường quân đội. Các đơn vị, bệnh viện, nhà máy quốc phòng có trách nhiệm làm cơ sở thực hành, thực tập cho các trường Quân đội. Thực hiện tốt liên kết đào tạo giữa các trường trong và ngoài quân đội để nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, nghiên cứu khoa học; đồng thời, tham gia đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước: Bảo đảm chất lượng, từng bước nâng số lượng, mở rộng đào tạo nghề dài hạn cho bộ đội xuất ngũ và các đối tượng chính sách xã hội.

Tiếp tục triển khai Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo trong quân đội giai đoạn 2007 – 2015 và những năm tiếp theo”. Nâng cao hiệu quả hợp tác, mở rộng liên kết đào tạo với nước ngoài; đầu tư­ cho việc mời chuyên gia nước ngoài giảng dạy một số ngành trong các trường quân đội theo đúng quy định; tích cực nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo của các nước. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp lý và các mặt công tác đảm bảo khác cho việc mở rộng đào tạo Học viên quân sự nước ngoài trong các trường Quân đội.

Củng cố cơ quan quản lý Học viện quân sự nước ngoài các cấp theo yêu cầu mới. Tích cực tạo nguồn, tuyển chọn cán bộ, học viên cử ra nước ngoài đào tạo, nghiên cứu các ngành khoa học và nghệ thuật quân sự, tập trung vào những chuyên ngành kỹ thuật quân sự mũi nhọn, đào tạo kỹ sư đầu ngành. Đầu tư cho việc bồi dưỡng văn hóa, tiếng Việt; chuẩn hóa chương trình, văn bằng, nâng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng học viên quân sự Lào, Cămpuchia. Thực hiện tốt công tác cử chuyên gia giúp các trường quân sự Lào và bồi dưỡng cán bộ quân sự giúp các tỉnh biên giới Lào, Cămpuchia.

Thứ chín, xây dựng các tổ chức đảng trong nhà trường trong sạch vững mạnh

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tư tư­ởng, giữ vững định hướng chính trị trong quá trình GDĐT. Nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, xây dựng niềm tin vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng và sự lãnh đạo của Đảng; tăng cường bồi dưỡng đạo đức cách mạng, phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Xây dựng cho học viên có động cơ, thái độ học tập đúng đắn; nhà giáo có đạo đức, tác phong sư phạm mẫu mực. Tích cực đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình”, các luận điệu phản động, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng. Khắc phục mọi biểu hiện giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tư­ởng, tha hóa về đạo đức, lối sống.

Trong xây dựng tổ chức đảng, phải gắn chặt giữa xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh với xây dựng cơ quan, khoa, đơn vị quản lý học viên vững mạnh toàn diện; gắn xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy và cán bộ quản lý. Tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục”và cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Các trường trong quân đội phải thực sự mẫu mực trong thi cử và khắc phục dứt điểm bệnh thành tích trong GDĐT. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt”.

Định hướng giáo dục đào tạo trong các trường quân đội giai đoạn đến năm 2020

Định hướng giáo dục đào tạo của Việt Nam

Định hướng giáo dục đào tạo của Việt Nam

Như đã đề cập và phân tích thì giáo dục đào tạo là một hoạt động đóng vai trò quan trọng là góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Trong thời đại kinh tế tri thức thì GDĐT lại càng có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó giúp nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Nhận thức được vai trò và vị trí quan trọng đặc biệt của hoạt động đào tạo, nên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến hoạt động này và đề ra các giải pháp tích cực nhằm phát triển hoạt động đào tạo.

Một số định hướng lớn trong hoạt động đào tạo của Việt Nam như sau: Trong giai đoạn 2011-2020[1]:

(i) Tập trung phát triển mạnh đội ngũ giảng viên, nâng chất lượng các cơ sở đào tạo lên một bước[2];

(ii) Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, áp dụng các chương trình đào tạo tiên tiến, tạo bước chuyển biến cơ bản trong việc đổi mới phương pháp đào tạo ở các trường;

(iii) Tiếp tục phát triển, mở rộng mạng lưới trường đại học, cao đẳng một cách phù hợp, theo đúng qui hoạch[3].

Một số chỉ tiêu cụ thể như sau:

Về tỷ lệ lao động qua đào tạo

Đến năm 2015: Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 40% (tương đương 23,5 triệu người).

Đến năm 2020: Đặt mục tiêu thực hiện đào tạo nghề để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55% (tương đương 34,4 triệu người).

Về qui mô đào tạo Đại học, cao đẳng chuyên nghiệp

Năm 2015: Đạt khoảng 600.000 sinh viên

Năm 2020: phấn đấu đạt 1.200.000 sinh viên

Về chất lượng của đội ngũ giảng viên Đại học, Cao đẳng chuyên nghiệp:

Năm 2015: 70% giảng viên trong các cơ sở đào tạo Đại học, trên 50% trong các trường Cao đẳng có trình độ Thạc sỹ. Trong đó, ít nhất 10% giảng viên cao đẳng có trình độ Tiến sỹ.

Năm 2020: trên 90% giảng viên trong các cơ sở đào tạo Đại học, trên 70% trong các trường Cao đẳng có trình độ Thạc sỹ. Trong đó ít nhất 20% giảng viên Cao đẳng có trình độ Tiến sỹ.

Về xếp hạng uy tín các trường đại học:

Đến năm 2015 có khoảng 20 trường đại học đạt tiêu chí chất lượng tương đương so với các trường có uy tín trên thế giới và năm 2020 có 1 trường Đại học được xếp hạng trong số 200 trường đại học hàng đầu thế giới.

Về thu hút sinh viên quốc tế

Đến năm 2015 phấn đấu thu hút đạt tỷ lệ 1,5% sinh viên là người nước ngoài so với tổng số sinh viên cả nước và năm 2020 tỷ lệ này phấn đấu đạt 5%.

[1] Ngày 29/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 630/QĐ-TTg về việc Phê duyệt chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020

[2] Riêng khối cao đẳng và trung cấp nghề: Năm 2015: Có khoảng 51.000 Giáo viên dạy nghề (trong đó có khoảng 17.000 người dạy trong các cơ sở dạy nghề ngoài công lập). Trong đó, dạy cao đẳng nghề là 13.000 người, trung cấp nghề là 24.000 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng là 14.000 người. Năm 2020: Sẽ có khoảng 77.000 Giáo viên dạy nghề (trong đó khoảng 25.000 người dạy trong các cơ sở dạy nghề ngoài công lập). Trong đó, dạy cao đẳng nghề là 28.000 người, trung cấp nghề là 31.000 người, sơ cấp nghề dưới 3 tháng 18.000 người

[3] Riêng khối cao đẳng và trung cấp nghề: Năm 2015: có 190 trường cao đẳng nghề (100 trường ngoài công lập), trong đó có 26 trường chất lượng cao; 300 trường trung cấp nghề (100 trường ngoài công lập), 920 trung tâm dạy nghề (320 trung tâm ngoài công lập). Mỗi tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đều có ít nhất 1 trường cao đẳng nghề và 1 trung tâm dạy nghề kiểu mẫu, mỗi quận/huyện/thị xã có 1 trung tâm dạy nghề hoặc trường trung cấp nghề. Năm 2020: sẽ có khoảng 230 trường cao đẳng nghề (80 trường ngoài công lập), trong đó có 40 trường chất lượng cao, 310 trường trung cấp nghề (120 trường ngoài công lập), 1.050 trung tâm dạy nghề (350 trung tâm ngoài công lập), trong đó có 15 trung tâm nghề kiểu mẫu.

Định hướng giáo dục đào tạo của Việt Nam

Đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách bảo đảm trong các trường quân đội ở Việt Nam

Đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách bảo đảm trong các trường quân đội ở Việt Nam

1. Kết quả đạt được

Trong những năm qua, công tác quản lý và điều hành ngân sách nhà nước của Cục Nhà trường đã đi vào nền nếp với một cơ chế: cấp ủy đảng lãnh đạo công tác tài chính theo quy chế và nghị quyết lãnh đạo; người chỉ huy điều hành theo Điều lệ công tác tài chính; cơ quan tài chính làm tham mưu, tổ chức thực hiện với sự giám sát của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng thông qua thực hiện quy chế dân chủ công khai và phong trào thi đua xây dựng “Đơn vị quản lý tài chính tốt”;

Chất lượng lập dự toán ngân sách nhà nước của Cục Nhà trường ngày càng tốt hơn, dự toán đã phản ánh nhu cầu trong cân đối chung của toàn quân. Cục đã quán triệt tốt tinh thần của Bộ Quốc phòng về tăng cường phân cấp, mở rộng tự chủ NSNN cho đơn vị cấp dưới, hạn chế cấp hiện vật, tăng tỷ trọng phân cấp bằng tiền cho các đơn vị chi tiêu. Những kết quả chủ yếu trong quản lý NSBĐ ngành nhà trường được thể hiện cụ thể trên các mặt sau:

1.1. Công tác kế hoạch ngân sách nhà nước

– Công tác kế hoạch ngân sách nhà nước đã quán triệt được định hướng của Bộ Quốc phòng, nhiệm vụ đào tạo của các Học viện, Nhà trường trong lập dự toán NSBĐ, bảo vệ dự toán với các cơ quan chức năng cấp trên, trong phân bổ và thông báo dự toán NSBĐ hàng năm.

 – Chất lượng công tác lập dự toán NSBĐ hàng năm tương đối tốt, đã căn cứ vào sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu trong xây dựng nội dung chi tiết và khả năng đảm bảo ngân sách nhà nước.

– Công tác lập và phân bổ dự toán NSBĐ đã căn cứ vào các chế độ chính sách hiện thời, căn cứ vào nhiệm vụ, quân số của các đơn vị, căn cứ vào kinh nghiệm lập dự toán hàng năm, đã xây dựng được một số định mức làm cơ sở để tính toán và phân bổ NSBĐ.

– Dự toán NSBĐ năm đã lập theo đúng hệ thống mục lục ngân sách nhà nước áp dụng trong quân đội và chi tiết đến từng nội dung cụ thể cả phần tự chi tại Cục và phần phân cấp cho các đơn vị trong toàn quân. Thông báo ngân sách nhà nước ở những mục chi đã được xác định trọng tâm.

– Trên cơ sở chế độ tiêu chuẩn hiện hành và kinh nghiệm thực tế chi NSNN hàng năm, Cục Nhà trường đã xây dựng được một số định mức chi cụ thể thuộc các nội dung như bảo quản trường, nghiệp vụ trường làm cơ sở pháp lý cho việc lập dự toán và thực hiện kiểm soát chi tiêu kinh phí.

– Đã quán triệt chủ trương của Bộ Quốc phòng trong phân bổ ngân sách nhà nước năm là phải đổi mới phương thức bảo đảm ngân sách nhà nước, triệt để phân cấp ngân sách nhà nước cho cơ sở ngay từ đầu năm. Tỷ lệ phân cấp ngân sách nhà nước cho cơ sở hàng năm từng bước được nâng lên.

– Cơ quan tài chính đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Đảng ủy, Thủ trưởng Cục trong phân bổ và sử dụng ngân sách bảo đảm, kết hợp chặt chẽ cùng cơ quan nghiệp vụ cấp trên trong phân bổ ngân sách nhà nước. Phân bổ ngân sách bảo đảm ngành đúng qui trình, thời gian quy định.

– Thực hiện công khai tài chính phần ngân sách bảo đảm cho các đơn vị theo đúng qui định của Bộ Quốc phòng tại hội nghị giao chỉ tiêu ngân sách nhà nước hàng năm.

– Công tác kế hoạch đã luôn bám sát nhiệm vụ của đơn vị. Những nhu cầu tài chính mới phát sinh kịp thời báo cáo cơ quan nghiệp vụ cấp trên.

1.2. Công tác bảo đảm và quản lý

– Căn cứ vào khả năng đảm bảo ngân sách nhà nước của Bộ Quốc phòng và chủ trương tập trung cho công tác GDĐT, tổng ngân sách bảo đảm của ngành nhà trường năm sau cao hơn năm trước, góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ công tác nhà trường quân đội.

– Quá trình chấp hành và quyết toán ngân sách bảo đảm ngành nhà trường ở Cục Nhà trường cũng như ở các đơn vị toàn quân đã bám sát vào dự toán NSNN và nội dung chi được thông báo nên hạn chế hiện tượng chi vượt dự toán, chi sai nội dung, chi cho ngành khác.

– Công tác kiểm soát chi đã được duy trì thường xuyên cả trước, trong và sau khi chi tiêu, đặc biệt là kiểm soát trước khi cấp phát, thanh toán nên đã góp phần tích cực vào việc ngăn ngừa những sai phạm trong quản lý tài chính, nâng cao hiệu quả chi tiêu, tiết kiệm trong chi NSNN.

– Bước đầu đã xây dựng được định mức chi một số nội dung chi tiêu của ngân sách bảo đảm. Đây là căn cứ quan trọng để phân bổ dự toán NSNN và quyết toán NSNN.

– Việc mua sắm vật tư, trang bị đã chấp hành theo đúng qui định 2665/2000/QĐ-BQP (ngày 15 tháng 11 năm 2000) của Bộ Quốc phòng về mua sắm hàng hóa, như: đã thành lập hội đồng giá các cấp, giá cả mua sắm đã được cấp có thẩm quyền duyệt, tổ chức tốt việc đấu thầu, đấu giá. Chấp hành đúng qui định của Bộ Quốc phòng về mua sắm trang bị, thực hiện mua đúng chủng loại, số lượng, mọi sự thay đổi đều có quyết định của Bộ Tổng Tham mưu.

– Công tác quản lý giá sản phẩm quốc phòng ngày càng chặt chẽ theo đúng qui định của pháp luật về quản lý giá.

– Đã tổ chức quản lý chặt chẽ các chương trình, dự án. Những dự án đầu tư hoàn thành đã khẩn trương hoàn chỉnh thủ tục lập báo cáo quyết toán trình Bộ phê duyệt.

1.3. Chấp hành các chế độ 

– Chấp hành chế độ hóa đơn chứng từ: chứng từ chi tiêu về cơ bản đã đầy đủ yếu tố pháp lý, hợp pháp, hợp lệ. Các khoản chi lớn có báo giá, hợp đồng, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng, hóa đơn tài chính và thủ tục nhập kho. Hiện tượng chi sai nội dung, sai chế độ đã giảm.

– Chấp hành các chế độ nộp báo cáo tài chính: nộp báo cáo sơ kết 6 tháng, 9 tháng phần thực hiện NSBĐ, đúng thời gian, chất lượng sơ kết tốt. Các báo cáo phân cấp NSBĐ cả phần tự chi và hiện vật theo từng đợt có giải thích chi tiết rõ ràng.

–  Chấp hành chế độ quyết toán quí, năm: hồ sơ mẫu biểu đúng qui định, nộp đúng thời gian; số liệu là số đã được kiểm tra, kiểm soát trước khi trình phê duyệt, số tổng hợp phù hợp với chi tiết, Ban Tài chính Cục Nhà trường đã tổ chức kiểm tra chứng từ, thẩm định trước khi báo cáo phê duyệt quyết toán.

– Luôn chú trọng tới công tác kiểm tra việc chấp hành ngân sách bảo đảm ngành nhà trường cả trong nội bộ Cục cũng như các Học viện, Nhà trường toàn quân. Qua kiểm tra đã kịp thời chấn chỉnh những sai phạm.

2. Những mặt còn tồn tại

Bên cạnh những mặt đã làm được nêu trên, trong công tác đảm bảo và quản lý NSBĐ ngành nhà trường vẫn còn những mặt tồn tại sau:

Thứ nhất, công tác phân cấp quản lý, trong đó có phân cấp quản lý chi ngân sách bảo đảm trong các trường quân đội, mặc dù có sự phối hợp giữa nhiều bên, song vẫn còn một số bất cập trên các mặt quản lý trang thiết bị đào tạo và quản lý nguồn lực tài chính cho GDĐT

Những năm trước đây, phân cấp NSNN theo kế hoạch chung xuống các Tổng Cục, Quân khu, Quân đoàn, Quân Binh chủng, bộ đội biên phòng. Tiếp đó các đơn vị quản lý Học viện, Nhà trường phân phối tiếp NSNN xuống các trường để trường tự cân đối mua sắm trang bị nên có tình trạng: cấp quản lý trung gian giữ lại một tỷ lệ chưa hợp lý. Một số Học viện, Nhà trường chi NSNN chưa tập trung đúng trọng tâm, trọng điểm, còn phân tán, đầu tư chắp vá, hiệu quả chưa cao. Một số nội dung đầu tư chưa phù hợp với quy hoạch lâu dài của các Học viện, Nhà trường, việc chấp hành một số chế độ chưa tốt, kinh phí bố trí cho việc này lại chi cho việc khác, còn chi vượt chỉ tiêu NSNN.

Cụ thể:

Về quản lý trang thiết bị đào tạo.

Quản lý trang bị đào tạo có liên quan đến việc tính toán kinh phí mua sắm trang bị, bảo quản, huấn luyện sử dụng. Phân cấp quản lý trang thiết bị phục vụ cho nhiệm vụ đào tạo hiện còn manh mún, hệ thống quản lý bị chia cắt giữa các ngành huấn luyện đào tạo với các ngành quản lý trang bị kỹ thuật, như: quân khí, xe máy.., các Quân Binh chủng và khép kín trong từng ngành nghiệp vụ. Vai trò tổ chức phối hợp chỉ đạo của Cục Nhà trường, Phòng Đào tạo các trường… với các ngành, các cơ quan hữu quan trong trong việc cung cấp trang, thiết bị phục vụ công tác GDĐT chưa được thiết lập bằng tổ chức, bằng cơ chế về quản lý trang thiết bị đào tạo.

Trong việc xây dựng kế hoạch lâu dài, do chưa có sự phối hợp đầy đủ, nên chưa toàn diện, cơ quan Quân lực chỉ lập kế hoạch với các trang thiết bị chiến đấu, chưa có kế hoạch chính thức về trang vị chiến đấu cho trường, trang bị chuyên dùng cho GDĐT.

Công tác lập kế hoạch bảo đảm của các ngành khác cho công tác GDĐT tại các trường quân đội còn phân tán, chưa bảo đảm tính quy hoạch, thiếu định hướng phát triển. Mối quan hệ giữa các cấp còn nặng về giải quyết các nhu cầu, nhiệm vụ trước mắt, ảnh hưởng của cơ chế xin – cho.

Việc phân cấp quản lý giữa các cấp còn chưa thực sự hợp lý, nội dung quản lý còn chồng chéo, chưa sát với yêu cầu của chương trình đào tạo. Chẳng hạn, trong việc phân cấp cung cấp trang bị thiết bị học tập: Cục Quản lý Nhà đất bảo đảm bàn ghế, phòng học; Cục Xăng dầu tính kế hoạch phân cấp xăng dầu huấn luyện; Cục Tác chiến xây dựng kế hoạch cấp bản đồ, xây dựng sở chỉ huy diễn tập….

Về phân cấp và quản lý NSBĐ cho công tác GDĐT

Bảng 2.7 và 2.8 cho thấy vấn đề phân cấp quản lý NSBĐ cho các trường quân đội những năm qua được thực hiện khá triệt để theo hướng chủ yếu dành phần NSBĐ cho các trường đáp ứng cho các hoạt động chi tiêu hàng năm và được thực hiện ngay từ lần đầu, tỷ trọng phân cấp lại NSBĐ nhìn chung là khá thấp. Tuy vậy, xung quanh vấn đề phân cấp NSBĐ vẫn còn những tồn tại nhất định. Cụ thể: Phân cấp NSNN theo kế hoạch chung xuống các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, tiếp đó, các đơn vị quản lý các trường sẽ tiến hành phân phối tiếp NSBĐ xuống các trường để các trường tự cân đối mua sắm trang bị, nên có tình trạng cấp quản lý trung gian giữ lại một tỷ lệ % NSNN – điều này thực sự là bất hợp lý.

Tại một số trường, chi NSBĐ chưa tập trung đúng trọng tâm, trọng điểm, còn phân tán, đầu tư chắp vá, hiệu quả thấp. Một số nội dung đầu tư chưa phù hợp với quy hoạch lâu dài của các trường, việc chấp hành một số chế độ chưa tốt, kinh phí bố trí cho việc này lại chi cho việc khác, chi vượt chỉ tiêu NSNN còn phổ biến.

Việc phối hợp giữa cơ quan tài chính và cơ quan huấn luyện đào tạo trong lập, phân bổ kế hoạch NSNN và quyết toán NSBĐ chưa thực sự nhịp nhàng đồng bộ.

Người quản lý, ngành tài chính, cán bộ làm công tác tài chính trong quá trình phân bổ NSNN còn thiếu thông tin về GDĐT của cơ sở, sự phát triển của quân đội và những định hướng phát triển chung, sự phối hợp để trao đổi thông tin cho công tác kế hoạch tài chính còn ít phát huy tác dụng. Ngược lại, người lập kế hoạch bảo đảm cho công tác Nhà trường lại không được cung cấp thông tin về tình hình quyết toán NSBĐ nhà trường hàng năm của các đơn vị được phân cấp. Cơ chế cung cấp thông tin thực hiện NSNN chưa được xác lập.

Việc quản lý sử dụng NSNN mới dừng lại trên kế hoạch, mới làm được chức năng tham mưu cho cơ quan tài chính Bộ Quốc Phòng về qui mô NSNN trong lập kế hoạch và phân bổ. Việc quản lý chưa toàn diện, khả năng hướng dẫn chi tiêu hợp lý, hiệu quả còn nhiều hạn chế. Việc giải quyết số tiền quyết toán quá chỉ tiêu NSBĐ nhà trường cũng là một vấn đề cần nghiên cứu và có hướng xử lý, bởi hiện tại NSBĐ hàng năm phân bổ cho nội dung chi nhà trường cho các đầu mối NSNN không đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết của các trường, nên hiện tượng quyết toán vượt chỉ tiêu NSBĐ nhà trường diễn ra khá phổ biến. Xét theo chức năng được giao, thì Cục Nhà trường – Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan đầu ngành phải có ý kiến tham gia trong việc phê chuẩn các khoản chi vượt mức, nếu đơn vị chi quá về số lượng Cục Nhà trường phải nắm được để cân đối NSNN năm sau cho hợp lý, nếu đơn vị nào mua sắm nhiều hơn số lượng ghi trong NSNN năm và đã được phê duyệt tổng quyết toán, thì năm sau phải trừ bớt NSNN phân cấp để bảo đảm sự công bằng giữa các đơn vị, tuy nhiên, trong thực tế thì Cục Nhà trường chưa tham gia vào quá trình này, việc phê chuẩn các khoản chi quá thường do các đơn vị tự giải quyết hoặc Cục Tài chính tổng hợp báo cáo gửi Bộ Quốc phòng giải quyết.

Thứ hai, việc xây dựng định mức NSBĐ cho các trường quân đội vẫn còn bất cập

Hiện nay một số ngành bảo đảm đã xây dựng được định mức chi về tiêu hao vật chất, tài chính cho nội dung bảo đảm, ví dụ như ngành văn phòng đã có định mức được Bộ Quốc phòng ký quyết định ban hành về trang bị tiêu hao văn phòng, tuy nhiên, định mức đối với công tác GDĐT tại các trường quân đội chưa được xác định đầy đủ và chưa bảo đảm tính thực tiễn. Các đối tượng đào tạo, loại hình đào tạo, những thay đổi biến động theo yêu cầu nhiệm vụ, thậm chí yếu tố giá cả tăng cũng chưa được đề cập đầy đủ. Như đã đề cập trong phần thực trạng, thì các định mức dự toán kinh phí NSBĐ hàng năm cho công tác GDĐT trong các trường Quân đội mặc dù có cơ sở khoa học, song lại chưa thực sự bám sát thực tiễn hoạt động đào tạo trong các trường. Các định mức được duyệt về Bảo đảm trường cũng như Nghiệp vụ nhà trường phản ánh rất rõ sự bất cập này. Việc xây dựng các định mức tiêu chuẩn về tài chính cho các hoạt động GDĐT trong các trường Quân đội chưa bám sát thực tiễn, dẫn đến tình trạng kế hoạch NSNN, phân bổ NSNN chưa đáp ứng được yêu cầu về NSBĐ cho các trường.

Thứ ba, việc phối hợp giữa cơ quan tài chính và cơ quan huấn luyện đào tạo trong lập, phân bổ kế hoạch NSNN ngành và quyết toán NSBĐ chưa thực sự nhịp nhàng đồng bộ.

– Trong lập dự toán, từng nội dung chi NSBĐ đã xây dựng theo hệ thống mục lục NSQP và ở một số số mục chi đã có chi tiết nhưng mới dừng ở mức hướng dẫn chi cấp ngành.

– Quá trình thực hiện NSBĐ ở một số trường vẫn còn hiện tượng lấy chỉ tiêu NSNN của mục chi này chi cho nội dung thuộc mục chi khác trong ngành.

– Việc xây dựng định mức chi tiêu và thực hiện định mức còn nhiều bất cập. Định mức chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dạy và người học, việc đảm bảo đôi khi còn chưa đáp ứng đúng định mức nên đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý NSBĐ và công tác GDĐT.

– Thủ tục quyết toán ở một số nội dung chi một số đơn vị chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ. Việc thực hiện chế độ hóa đơn chứng từ ở một số đơn vị chưa tốt, chưa phù hợp với nội dung NSNN, chưa đầy đủ thủ tục pháp lý.

– Công tác bảo đảm luôn kịp thời theo tiến độ chi NSNN nhưng việc tập hợp hồ sơ chứng từ quyết toán trong nhiều năm qua thường chậm, tập trung chủ yếu chi tiêu và thanh quyết toán dồn cuối năm.

– Công tác quản lý hiện vật sau quyết toán ở một số đơn vị thực hiện chưa chặt chẽ, chưa đúng qui định của Bộ Quốc phòng.

Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra tình hình chấp hành chi tiêu NSNN cho GDĐT của các cấp đối với các trường chưa được tiến hành thường xuyên, đều đặn.

Công tác quản lý giá trị các trang, thiết bị đã mua sắm chưa được thực hiện trong hệ thống các trường Quân đội. Việc thông qua sổ sách kế toán để theo dõi thời hạn sử dụng của các trang bị, xác định đúng thời hạn thay thế, chưa được thực hiện, dẫn đến số liệu trang bị mua sắm thay thế trong kế hoạch NSNN thiếu chính xác, đúng đắn.

3. Nguyên nhân

3.1. Nguyên nhân đạt được những kết quả

– Quá trình lập, chấp hành và quyết toán NSBĐ ngành nhà trường đã luôn bám sát định hướng chủ trương của Bộ Quốc phòng, nhiệm vụ quân sự hàng năm của Cục Nhà trường đã được Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng xác định. Đồng thời luôn chú ý thực hiện theo đúng các huớng dẫn của các cơ quan nghiệp vụ cấp trên.

– Trong những năm gần đây chủ trương của Nhà nước và Bộ Quốc phòng tập trung tăng NSNN cho công tác GDĐT.

– Cục Nhà trường cũng như các Học viện, Nhà trường toàn quân đã thực hiện tốt Quy chế lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác tài chính, đồng thời thực hiện công khai tài chính đúng qui định của Bộ Quốc phòng.

– Ban Tài chính Cục đã làm tốt chức năng tham mưu cho Đảng ủy chỉ huy trong điều hành, phân bổ và quản lý NSBĐ ngành nhà trường. Luôn có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa ngành tài chính với cơ quan nghiệp vụ cấp trên.

– Công tác đảm bảo đã luôn theo sát tình hình thực hiện nhiện vụ của đơn vị, mọi khó khăn đã kịp thời báo cáo các cơ quan chức năng cấp trên giải quyết.

– Công tác quản lý đã đi vào nền nếp, duy trì nghiêm các chế độ kỷ luật tài chính, luôn quan tâm đến công tác thanh tra, kiểm tra.

3.2. Nguyên nhân những tồn tại

Nhóm nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, công tác lập kế hoạch NSBĐ của các trường quân đội còn nhiều hạn chế, chủ yếu lập theo kế hoạch từng năm, chưa bám sát định hướng chiến lược trong hoạt động đào tạo, dẫn đến bố trí NSNN cho một số hoạt động GDĐT còn bị động, xuất hiện tình trạng cơ cấu chi NSNN bất hợp lý.

Thứ hai, chất lượng cán bộ làm công tác tài chính trong một số trường quân đội còn hạn chế, chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ kinh tế tài chính, một bộ phận không nhỏ chưa có nhiều kinh nghiệm về quản lý tài chính, điều này dẫn đến tình trạng chưa tuân thủ đúng các mẫu biểu qui định về báo cáo tài chính, thời hạn hoàn thành báo cáo nộp cơ quan cấp trên để tổng hợp cho toàn hệ thống các trường quân đội. Trình độ tin học ở một số trường quân đội, nhất là ở các trường cấp Quân khu, Quân Binh chủng mới được thành lập một số năm gần đây còn có nhiều hạn chế, gây khó khăn trong việc ứng dụng các phần mềm quản lý NSNN và điều này lại càng gây khó khăn cho cấp trên trong việc tổng hợp thông tin quản lý NSBĐ tại các trường.

Nhóm nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, chưa ban hành quy định nội dung chi nên các đơn vị còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình chi tiêu, thanh quyết toán NSBĐ, cũng như trong quá trình kiểm tra, kiểm toán có những việc chưa có đủ cơ sở pháp lý để kết luận.

Thứ hai, tuy nguồn NSBĐ của Cục Nhà trường hàng năm đều tăng theo chủ trương của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, nhưng thực tế so với nhu cầu phát triển của sự nghiệp GDĐT thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá còn có mặt chưa đáp ứng được. So với nhu cầu cấp kinh phí NSNN cho hoạt động GDĐT tại các trường quân đội, thì con số NSBĐ được duyệt thường ở mức thấp (Bảng 2.6). Vì vậy trong quá trình triển khai NSNN thực hiện nhiệm vụ vẫn còn nhiều bất cập. Hàng năm lập nhu cầu về dự toán NSBĐ nhà trường trên cơ sở tổ chức biên chế, quy trình đào tạo, định mức bảo đảm nhưng thực tế số kiểm tra của Bộ Quốc phòng không thể đáp ứng được yêu cầu của đơn vị.

Thứ ba, có nhiều cơ quan cùng quản lý chi NSBĐ cho các trường quân đội trong khi cơ chế, qui trình quản lý chưa được phân định rõ, dẫn tới gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát chi NSNN trong các trường quân đội. Giữa các tổ chức có liên quan đến kiểm soát chi NSNN cho các trường quân đội nhìn chung còn chưa chặt chẽ, sự phối kết hợp giữa các cơ quan trong kiểm soát chi NSBĐ cho GDĐT tại các trường quân đội lại không được tiến hành một cách thường xuyên, đều đặn, điều này dẫn đến tình trạng nhiều khoản chi NSNN cho GDĐT trong các trường quân đội đầu tư thiếu trọng tâm trọng điểm, tình trạng chắp vá đầu tư, chi vượt dự toán song chưa được phát hiện kịp thời để điều chỉnh, xử lý.

Đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách bảo đảm trong các trường quân đội ở Việt Nam

Xây dựng định mức chi ngân sách bảo đảm

Xây dựng định mức chi ngân sách bảo đảm

Để tổ chức quản lý tốt ngân sách nhà nước trước hết cần xây dựng và ban hành định mức cho từng mục chi hay mỗi đối tượng cụ thể. Trên cơ sở định mức chi, cơ quan tài chính lập các phương án phân bổ ngân sách nhà nước, kiểm tra giám sát quá trình chấp hành, thẩm tra phê duyệt quyết toán kinh phí của các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước. Đồng thời, dựa vào định mức chi các ngành, các cấp các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc cụ thể của quá trình quản lý, sử dụng kinh phí tại ngành, đơn vị mình theo đúng chế độ.

Định mức chi được sử dụng trong quản lý ngân sách bảo đảm ngành nhà trường thông thường được thể hiện ở các dạng sau:

Định mức sử dụng

Định mức sử dụng là loại định mức chi tiết theo từng mục chi của mục lục ngân sách nhà nước trong quân đội.

Trong quản lý ngân sách bảo đảm ngành, dựa trên cơ cấu chi của ngân sách nhà nước cho mỗi đơn vị được hình thành từ các mục chi nào người ta sẽ tiến hành xây dựng định mức chi cho từng mục đó. Tính chất hoạt động, qui mô, phạm vi hoạt động của các đơn vị ở các cấp khác nhau sẽ có số lượng các định mức chi khác nhau.

Việc xây dựng loại định mức chi này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà trường với cơ quan tài chính.

Định mức sử dụng sẽ là một trong những căn cứ rất quan trọng để các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước quản lý điều hành kinh phí trong phạm vi của đơn vị mình, đồng thời, nó cũng là một trong những căn cứ quan trọng để cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính, cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán nhà nước thực hiện các phần việc liên quan đến xét duyệt, thẩm định hay kiểm tra chấp thuận tính hợp pháp, hợp lệ của số kinh phí mà đơn vị dự toán đã sử dụng. Bởi vậy các định mức sử dụng này phải được thể chế hoá một cách rõ ràng, cụ thể và xác lập thời gian có hiệu lực chung; phải đạt được tính ổn định tương đối theo thời gian.

Phương pháp xây dựng định mức sử dụng trong quản lý ngân sách bảo đảm ngành là áp dụng cách phân tích kỹ thuật, tức là xác định hạn ngạch chi trên cơ sở tiến hành phân tích kỹ thuật cặn kẽ, tỉ mỉ đối với nội dung và cơ cấu của định mức; cách phân tích  thống kê, tức là căn cứ vào tài liệu thống kê của định mức trước đó, tìm ra xu hướng biến đổi của định mức, xem xét phương hướng tác động và trình độ của các nhân tố kinh tế, kỹ thuật ảnh hưởng đến định mức của thời kỳ nhất định trong tương lai qua đó nghiên cứu, phân tích và xác định định mức… Trong quá trình xây dựng định mức, cần tham khảo định mức chi của các trường cùng ngành nghề đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân.

Định mức phân bổ 

Định mức phân bổ là loại định mức chi tổng hợp theo từng đối tượng được tính định mức chi ngân sách nhà nước.

Trong quản lý ngân sách nhà nước, ngân sách quốc phòng nói chung, ngân sách bảo đảm ngành nhà trường nói riêng, định mức phân bổ thường được dùng nhiều nhất trong quá trình lập dự toán NSNN, nhằm xây dựng được dự toán NSNN sơ bộ để giao số kiểm tra (số thông báo) và hướng dẫn các đơn vị sử dụng NSNN lập dự toán kinh phí. Định mức phân bổ còn được dùng để ấn định chính thức mức chi mà mỗi đối tượng được phép áp dụng khi xây dựng dự toán NSNN kỳ kế hoạch, kiểm tra giám sát quá trình chấp hành và quyết toán kinh phí ở mỗi đơn vị thụ hưởng.

Phương pháp xây dựng định mức phân bổ cho các loại hình đơn vị được tiến hành như sau:

+ Đối tượng để tính định mức cụ thể là các chi NSBĐ cho các hoạt động dạy và học của các nhà trường. Vì vậy, cần phải xác định rõ loại hình đào tạo, ngành nghề đào tạo, cấp đào tạo…Mỗi loại hình đào tạo khác nhau thì đối tượng tính định mức sẽ khác nhau. Ngay trong một loại hình đào tạo cũng sẽ có các loại định mức chi cho các đối tượng đào tạo khác nhau tuỳ theo những yêu cầu cụ thể.

+ Đánh giá, phân tích tình hình thực tế chi theo định mức chi nhằm xem xét tính phù hợp của định mức hiện hành.

Yêu cầu rất quan trọng đối với loại định mức phân bổ là phải đảm bảo được sự công bằng giữa các loại hình hoạt động, giữa các nhà trường. Trong khi đó, các loại  hình hoạt động ở các đơn vị thuộc phạm vi ngân sách bảo đảm ngành ngày càng phát triển, nên làm nảy sinh các nhu cầu mới. Đặc biệt, trong điều kiện còn xẩy ra hiện tượng mất giá của tiền tệ, thì xu hướng làm cho định mức chi càng dễ bị lạc hậu so với thực tiễn.

+ Xác định khả năng nguồn tài chính có thể huy động để  đáp ứng nhu cầu chi.

Sự mâu thuẫn giữa khả năng và nhu cầu về nguồn tài chính luôn là hiện tượng phổ biến, do vậy, mặc dù tính thực tiễn của các định mức phân bổ chưa cao, nhưng trong quá trình kiểm tra đánh giá hay xây dựng lại định mức phân bổ vẫn luôn phải dựa vào khả năng nguồn tài chính dự kiến có thể huy động giành cho nhu cầu chi thực hiện nhiệm vụ ngành. Trên cơ sở đó mà có thể điều chỉnh định mức phân bổ tương ứng với nguồn đảm bảo .

+ Thiết lập cân đối tổng quát và quyết định định mức phân bổ theo mỗi đối tượng tính định mức .

Trong hoạt động thực tiễn quản lý ngân sách nhà nước, cả hai loại định mức chi; định mức sử dụng và định mức phân bổ đều được sử dụng cho công tác quản lý NSNN. Tuy nhiên, muốn cho định mức trở thành chuẩn mực để phân bổ kinh phí hay kiểm tra giám sát tình hình sử dụng kinh phí và quyết toán kinh phí, thì các định mức chi được xây dựng phải thoả mãn các yêu cầu sau:

 (i) Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học, từ việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học xác đáng. Nhờ đó mà các định mức chi đảm bảo được tính phù hợp với mỗi loại hình hoạt động, phù hợp với từng đơn vị.

(ii) Các định mức chi phải có tính thực tiễn cao. Tức là nó phản ánh mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động. Chỉ có như vậy thì định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho cả quá trình quản lý ngân sách nhà nước.

Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản chi và đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước cùng loại hình hoặc cùng loại hoạt động.

Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao, tức là định mức phải trở thành cơ sở pháp lý trong phân bổ và quyết toán ngân sách nhà nước.

Xây dựng định mức chi ngân sách bảo đảm

Nội dung chi ngân sách nhà nước cho hoạt động đào tạo

Nội dung chi ngân sách nhà nước cho hoạt động đào tạo

Nội dung chi ngân sách nhà nước cho đào tạo gắn liền với cơ cấu, nhiệm vụ của hoạt động đào tạo trong từng giai đoạn lịch sử nhất định và được xem xét theo từng góc độ khác nhau:

Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của hoạt động đào tạo

Chi ngân sách nhà nước cho hoạt động đào tạo bao gồm chi ngân sách nhà nước cho các trường Đại học/ Học viện, các trường Cao đẳng, các trường Trung học Chuyên nghiệp, dạy nghề.

Căn cứ theo yếu tố và phương thức quản lý các khoản chi cho đào tạo. Bao gồm: Chi thường xuyên; Chi xây dựng cơ bản

Chi thường xuyên: Gồm những khoản chi bảo đảm hoạt động bình thường của các Trường/Học viện. Hầu hết các khoản chi này phát sinh đều đặn, lặp đi lặp lại giữa các khoảng thời gian trong năm và giữa các năm, mức chi cho các đối tượng này chủ yếu dựa trên chế độ, định mức chi do cấp có thẩm quyền ban hành, mang tính chất thanh toán trực tiếp và không để lại hình thái vật chất – đồng nghĩa với tiêu dùng trực tiếp.

Chi xây dựng cơ bản: Đây là các khoản chi dùng cho việc xây dựng cơ bản, nhằm bảo đảm cơ sở vật chất cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các Trường/Học viện.

Xem thêm: Vai trò của hoạt động đào tạo

Nội dung chi ngân sách nhà nước cho hoạt động đào tạo