092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Cơ sở lý thuyết về hành vi công dân tổ chức

Cơ sở lý thuyết về hành vi công dân tổ chức

1. Hành vi công dân tổ chức – OCB là gì?

Năm 1983, thuật ngữ hành vi công dân tổ chức – OCB lần đầu tiên xuất hiện trong nghiên cứu của Smith, Organ và Near “Organizational citizenship behaviour: Its nature and antecedents” trên tạp chí Journal of Applied Psychology nhưng phải 10 năm sau, OCB mới được các nhà chuyên môn trên thế giới tập trung nghiên cứu phát triển lĩnh vực này.

Trong số các khái niệm, các cách hiểu về hành vi công dân tổ chức – OCB được đưa ra thì cách hiểu về OCB của Organ (1988) được đánh giá là khá đầy đủ và chi tiết. Theo Organ, hành vi công dân tổ chức – OCB được xác định là“hành vi mang tính cá nhân, tự nguyện, không được thừa nhận một cách trực tiếp và rõ ràng trong các hoạt động khen thưởng thông thường nhưng lại có tác dụng thúc đẩy hiệu quả hoạt động của tổ chức.” (Organ, 1988). Theo thống kê của LePine, Erez và Jonson (2002), khoảng 40 kiểu hành vi OCB đã được đề cập đến. Còn Organ và các cộng sự (2006) từ các nghiên cứu phân tích thực chứng đã xác định OCB có 7 loại: Hành vi Tận tình (altruism), Hành vi tuân thủ quy định (generalized complicance), Hành vi cao thượng (sportsmanship), Phẩm hạnh nhân viên (civic virtue), Lịch thiệp (courtesy), Trung thành (loyalty), Phát triển bản thân (self-development).

Như vậy, trên thế giới gần đây đã có khá nhiều nghiên cứu đề cập đến OCB nhưng thực ra, khởi nguồn của OCB lại xuất phát từ một nghiên cứu năm 1977 của Organ. Khi đó, ông chỉ đề cập đến những hoạt động rất đỗi bình thường nhưng lại có tính đóng góp đối với tổ chức. Sau nghiên cứu của Organ (1977), nhiều nhà nghiên cứu đã làm sáng rõ định nghĩa, đặc điểm cũng như các loại hành vi thuộc OCB. Tác giả cho rằng đặc trưng cơ bản của OCB chính là yếu tố tự nguyện từ chính người lao động. Vậy nên, để thể hiện rõ ý nghĩa của thuật ngữ, tác giả khá đồng tình với cách gọi OCB trong tiếng Việt là Hành vi công dân trong tổ chức.

2. Mô hình đo lường hành vi công dân tổ chức – OCB

Khá nhiều mô hình đo lường hành vi công dân tổ chức – OCB đã được các nhà nghiên cứu xây dựng và kiểm chứng. Tiêu biểu trong số đó làmô hình của Smith, Organ và Near (1983). Mô hình này bao gồm 2 nhân tố: Tận tình (altruism) và Tuân thủ quy định (generalized compliance). Trong đó, nhân tố Tận tình được xem là những hành vi giúp đỡ hướng đến một cá nhân cụ thể như cấp trên, đồng nghiệp hoặc khách hàng còn nhân tố Tuân thủ quy định trực tiếp hướng đến lợi ích của tổ chức thể hiện ở hành động chấp nhận và tuân theo các quy tắc, chuẩn mực trong tổ chức, có ý nghĩa hỗ trợ gián tiếp công việc của nhiều người. Nghiên cứu của Smith (1983) đã tiến hành cuộc khảo sát đối với cấp quản lý trong việc đánh giá yếu tố tính cách thể hiện ở mỗi hành vi của người lao động. Vì vậy, mô hình này chưa thể hiện sự rõ ràng và tính logic để đo lường hành vi OCB.

⛔ Xem thêm: Các nghiên cứu trước đây về động viên nhân viên

Năm 1988, Organ đã tổng hợp lại các nghiên cứu hành vi công dân tổ chức – OCB trước ông và đưa ra thang đo với 5 thành phần: (1) Tận tình (altruism): giúp đỡ đồng nghiệp; (2) Lịch thiệp (courtesy): thảo luận với đồng nghiệp trước khi hành động; (3) Cao thượng (sportmanship): sẵn sàng bỏ qua những vấn đề phiền toái không cần thiết mà người lao động khó tránh khỏi trong quá trình làm việc; (4) Lương tâm (conscientiousness): thể hiện sự cần cù, tuân thủ quy định và tích cực tham gia làm việc tốt hơn so với yêu cầu; (5) Phẩm hạnh nhân viên (civic virture): có trách nhiệm tham gia và dấn thân vào tổ chức.

Mô hình của Van Dyne, Graham và Dienesch (1994): Phát triển từ khái niệm hành vi công dân tổ chức – OCB của Organ (1988), Graham (1991) đã nhấn mạnh đến trách nhiệm xã hội, đến tư cách công dân của người lao động trong hành vi OCB. Theo đó, hình ảnh “người công dân trong tổ chức” không chỉ làm việc mẫn cán, có lương tâm mà còn rất năng động, tự chủ, có tiếng nói trong tổ chức. Dựa trên quan điểm của Graham, Van Dyne và các cộng sự (1994) đã xác định được mô hình đo lường hành vi công dân tổ chức – OCB có 5 thành phần: (1) Trung thành (loyalty); (2) Phục tùng (obedience); (3) Đóng góp mang tính xã hội (social participation); (4) Đóng góp mang tính cá nhân (advocacy participation); (5) Đóng góp mang tính chức năng (functional participation).

Ngoài ra, có một số mô hình khác của Morrison (1994), William và Anderson (1991), Becker và Vance (1990), Morrison và Phelps (1999), Moorman và Blalely (1995)…

Như vậy đến nay đã có khá nhiều mô hình đo lường hành vi công dân tổ chức – OCB. Tuy nhiên, nhiều mô hình chưa khám phá ra được những yếu tố mới nên đã xảy ra sự trùng lặp giữa các mô hình này. Ví dụ trong mô hình của Van Dyne (1994), nhân tố Đóng góp mang tính xã hội (social participation) bao hàm nội dung của Tận tình (altruism) và Lịch thiệp (courtesy); Trung thành (loyalty) chính là Cao thượng (sportmanship) và một phần nội dung của Phẩm hạnh nhân viên (civic virture); còn Đóng góp mang tính chức năng (functional participation) giống với Lương tâm (conscientiousness) và Phẩm hạnh nhân viên (civic virture) (LePine & Erez, 2002).

Theo LePine & Erez (2002), mô hình 5 thành phần của Organ (1988) được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu thực chứng (empirical research). Đặc biệt với quan điểm cho rằng mô hình này có tính logic chặt chẽ nên Podsakoff và các cộng sự đã sử dụng thành công cho các nghiên cứu của mình vào năm 1996.

Cơ sở lý thuyết về hành vi công dân tổ chức

Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos

Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos

Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải thấu hiểu khách hàng cảm nhận như thế nào về CLDV và những nhân tố ảnh hướng đến CLDV. Để có thể đạt được sự hài lòng của khách hàng, trong công tác quản  lý CLDV, doanh nghiệp cần phải kết hợp đồng thời cả chất lượng kỳ vọng và chất lượng nhận thức. Gronroos (1984) (SQ1) cho rằng cho rằng CLDV của một doanh nghiệp được xác định bởi 3 thành phần: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng, và hình ảnh. Trong đó:

– Chất lượng kỹ thuật: Là những giá trị mà khách hàng thật sự nhận được từ dịch vụ của nhà cung cấp (khách hàng tiếp nhận cái gì?).

– Chất lượng chức năng: Thể hiện cách thức phân phối dịch vụ tới người tiêu dùng của nhà cung cấp dịch vụ ( khách hàng tiếp nhận dịch vụ đó như thế nảo?).

Hình 1: Mô hình chất lượng Nordic của Gronroos 

Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos

Nguồn: Gronroos, 1984

Hình ảnh: đóng vai trò rất quan trọng đối với nhà cung cấp dịch vụ và yếu tố này được xây dựng chủ yếu trên 2 thành phần chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.

Hơn nữa, Gronroos (1984) còn cho rằng kỳ vọng của khách hàng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: các hoạt động marketing truyền thống (quảng cáo, quan hệ công chúng, chính sách giá cả) và yếu tố ảnh hưởng bên ngoài (phong tục, tập quán, ý thức, truyền miệng), trong đó yếu tố truyền miệng có tác động đáng kể đến khách hàng tiềm năng hơn so với hoạt động tiếp thị truyền thống và cũng nhấn mạnh rằng việc nghiên cứu CLDV phải dựa trên quan điểm của người tiêu dùng.

Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos

Thang đo Parasuraman & ctg (1988)

Thang đo Parasuraman & ctg (1988)

Parasuraman & ctg (1988) đã xây dựng và kiểm định thang đo năm thành phần của chất lượng dịch vụ, gọi là thang đo SERVQUAL, với các biến thuộc từng thành phần như sau:

1. Thành phần tin cậy

(Khả năng thực hiện một dịch vụ hứa hẹn một cách chính xác và đáng tin cậy)

– Khi công ty XYZ hứa sẽ thực hiện một điều gì đó vào khoảng thời gian cụ thể, công ty sẽ thực hiện.

– Khi bạn gặp khó khăn, công ty XYZ thể hiện sự quan tâm chân thành trong giải quyết khó khăn.

– Công ty XYZ thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên.

– Công ty XYZ cung cấp dịch vụ đúng vào thời điểm mà công ty hứa sẽ thực hiện.

– Công ty XYZ thông báo cho khách hàng khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện.

2. Thành phần đáp ứng

(Mong muốn được hỗ trợ khách hàng và cung ứng dịch vụ nhanh chóng)

– Nhân viên trong công ty XYZ phục vụ bạn nhanh chóng, đúng hạn.

– Nhân viên trong công ty XYZ luôn luôn sẵn sàng giúp đõ bạn.

– Nhân viên công ty XYZ không bao giờ tỏ ra quá bận rộn để không đáp ứng yêu cầu của bạn.

3. Thành phần năng lực phục vụ

(Kiến thức và tác phong của nhân viên cũng như khả năng của họ để truyền niềm tin và sự tự tin)

– Hành vi của nhân viên trong công ty XYZ ngày càng tạo sự tin tưởng đối với bạn.

– Bạn cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với công ty XYZ.

– Nhân viên trong công ty XYZ bao giờ cũng tỏ ra lịch sự, nhã nhặn với bạn.

– Nhân viên trong công ty XYZ có kiến thức để trả lời các câu hỏi của bạn.

4. Thành phần đồng cảm

(Mức chăm sóc, cá thể hóa mà công ty cung ứng cho khách hàng)

– Công ty XYZ thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn.

– Công ty XYZ có những nhân viên thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn.

– Công ty XYZ thể hiện sự chú ý đặc biệt đến những quan tâm nhiều nhất của bạn.

– Nhân viên trong công ty XYZ hiểu được những nhu cầu đặc biệt của bạn.

5. Thành phần phương tiện hữu hình

(Các phương tiện vật chất và hình thức của nhân viên)

– Công ty XYZ có trang thiết bị hiện đại.

– Cơ sở vật chất của công ty XYZ trông rất hấp dẫn.

– Nhân viên của công ty XYZ có trang phục gọn gàng, cẩn thận.

– Các phương tiện vật chất trong hoạt động dịch vụ rất hấp dẫn tại công ty XYZ.

– Công ty XYZ bố trí thời gian làm việc thuận tiện.

Thang đo Parasuraman & ctg (1988)

Mô hình ba nhân tố Fama-French

Mô hình ba nhân tố Fama-French

Một nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi Fama và French (1992) đã chỉ ra rằng rủi ro thị trường không phải là biến số giải thích tốt cho sự thay đổi về lợi nhuận của các cổ phiếu. Vì vậy, Fama và French (1993) đã đề xuất mô hình 3 nhân tố (được trình bày chi tiết ở phần tiếp theo) để bổ sung cho những khiếm khuyết của mô CAPM trong việc giải thích lợi nhuận kỳ vọng của các cổ phiếu.

Sau khi được công bố, mô hình 3 nhân tố Fama – French đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu. Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng mô hình 3 nhân tố Fama – French phù hợp hơn CAPM trong việc giải thích cho sự thay đổi lợi nhuận của các cổ phiếu.

Tỷ suất sinh lợi vượt trội của chứng khoán chính là phần đóng góp của tỷ suất sinh lợi vượt trội thị trường cộng với phần bù của quy mô và phần bù của giá trị.

Fama và French nhận thấy rằng tỷ suất sinh lợi bình quân của chứng khoán thời kỳ 1963 -1990 ở Mỹ thì beta của mô hình CAPM không giải thích được. Fama và French bắt đầu quan sát hai lớp cổ phiếu có khuynh hướng tốt hơn so với toàn bộ thị trường. Thứ nhất là cổ phiếu giá trị vốn hóa nhỏ (small caps) hay còn gọi là quy mô nhỏ. Thứ hai là cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường BE/ME cao (hay còn gọi là cổ phiếu giá trị – value stock, và ngược lại được gọi là cổ phiếu tăng trưởng – growth stock). Sau đó họ thêm hai nhân tố này vào CAPM để phản ánh sự nhạy cảm của danh mục đối với hai loại cổ phiếu này. Fama và French (1993) đã xác định một mô hình với ba nhân tố rủi ro chung đối với lợi nhuận chứng khoán đó là nhân tố tổng thể thị trường (Rm-Rf), nhân tố liên quan đến quy mô công ty (SMB) và nhân tố liên quan đến tỷ lệ giá sổ sách chia giá thị trường BE/ME (HML).

Mô hình:

Ri – Rf = α + βi x (Rm – Rf) + s x SMB + h x HML

Trong đó :
– α : hệ số chặn
– Ri: là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i
– Rm: là tỷ suất sinh lợi của thị trường
– Rf: là lãi suất phi rủi ro
– SMB (Small Minus Big): là tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ trừ tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục có giá trị vốn hóa thị trường lớn
– HML (High Minus Low): là chênh lệch trong tỷ suất sinh lợi bình quân danh mục các cổ phiếu có BV/MV lớn với danh mục các cổ phiếu có BV/MV nhỏ
– βi, s, h, là các biến phản ánh độ nhạy của các nhân tố, trong đó còn được gọi là beta chứng khoán 3 nhân tố (để phân biệt với beta chứng khoán trong CAPM).

Giải thích các biến trong mô hình

Mô hình Fama French 3 nhân tố chỉ ra rằng tỷ suất sinh lợi vượt trội của chứng khoán (Ri-Rf) chính là phần đóng góp của tỷ suất sinh lợi vượt trội thị trường [ βi(Rm-Rf)] cộng với phần bù của quy mô (SMB) và phần bù của giá trị (HML).

Ø Tỷ suất sinh lợi thị trường vượt trội:

Phần chênh lệch Rm-Rf đôi khi còn được gọi là phần bù của thị trường (market premium) hay tỷ suất sinh lợi thị trường vượt trội, tức là phần tăng thêm của tỷ suất sinh lợi do rủi ro của thị trường mang lại. Nhân tố này cũng giống như trong CAPM.

Ø Phần bù của quy mô:

SMB (Small Minus Big) đo lường lợi nhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi đầu tư vào những công ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ. Phần lợi nhuận tăng thêm này đôi khi còn được gọi là phần bù của quy mô, tức là lợi nhuận do quy mô của công ty mang lại.

SMB được tính bằng tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 33% chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường (quy mô) nhỏ trừ cho tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 33% chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường (quy mô) lớn.

Một SMB dương chỉ ra rằng những chứng khoán có quy mô nhỏ luôn tốt hơn (có tỷ suất sinh lợi cao hơn) những chứng khoán có quy mô lớn. Một SMB âm thì biểu hiện điều ngược lại, chứng khoán có quy mô lớn sẽ tốt hơn chứng khoán có quy mô nhỏ.

Ø Phần bù giá trị:

HML (High Minus Low) đo lường lợi nhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi đầu tư vào những công ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME) cao – tức là những cổ phiếu “giá trị”. HML còn được gọi là phần bù giá trị, tức là phần tỷ suất sinh lợi tăng thêm do cổ phiếu giá trị mang lại.

Nhân tố HML được tính bằng tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 50% chứng khoán có BE/ME cao nhất trừ tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 50% chứng khoán có BE/ME thấp nhất.

Một HML dương thể hiện những cổ phiếu “giá trị” tốt hơn so với những cổ phiếu “tăng trưởng”. Một HML âm thì ngược lại, thể hiện những cổ phiếu “tăng trưởng” tốt hơn những cổ phiếu “giá trị”.

Mô hình ba nhân tố Fama-French

Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành may xuất khẩu

Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành may xuất khẩu

Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về vấn đề chuỗi giá trị của ngành may xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu lại tiếp cận vấn đề này ở khía cạnh, phạm vi và đối tượng khác nhau. Phần dưới đây là tổng kết những nghiên cứu đó.

– “Những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả ngành may Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thu Phương, NXB Khoa học Kỹ thuật năm 2000. Tác phẩm này đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nâng cao hiệu quả phát triển của ngành may Việt Nam. Dựa trên những phân tích về môi trường và những bài học kinh nghiệm đối với ngành may ở Việt Nam, tác giả đưa ra những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả của ngành may [16].

– “Phương huớng và các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành công nghiệp dệt –may trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ của Dương Đình Giám năm 2001. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng sự phát triển của ngành dệt may của Việt Nam, tìm ra những kết quả tốt đã đạt được, những tồn tại và nguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành dệt may của Việt Nam [10].

– “Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” của nhóm tác giả trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Tổ chức Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản (JICA) và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), 2004. Trong bài viết về ngành dệt may có tên là “Ngành Dệt May Việt Nam: Giá trị gia tăng và chiến lược phát triển”, nhóm tác giả đã phân tích các phương thức xuất
khẩu của ngành dệt may ở Việt Nam bao gồm phương thức gia công xuất khẩu và xuất khẩu trực tiếp. Căn cứ vào những phân tích đó, nhóm tác giả đề xuất chính sách phát triển công nghiệp dệt may [7].

– Trong khuôn khổ Dự án Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam- Đan Mạch có tên “Nâng cao năng lực nghiên cứu trong kinh doanh quốc tế và quốc tế hóa các doanh nghiệp Việt Nam” do Bộ Ngoại giao Đan Mạch tài trợ, nhóm nghiên cứu ngành dệt may bao gồm Phạm Thu Hương và các cộng sự đã tập trung vào vấn đề “Chiến lược và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sau
khi dỡ bỏ hệ thống hạn ngạch dệt may- một cách tiếp cận trong chuỗi giá trị toàn cầu”. Dựa trên điều tra được tiến hành ở Việt Nam từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2006, tập trung vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, bài nghiên cứu nhận định các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã tham gia như thế nào vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và nhu cầu của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc chuyển từ xuất khẩu theo phương thức gia công (CMT) sang phương thức xuất khẩu trực tiếp (FOB). Mặc dù nghiên cứu có phân tích chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may nhưng báo cáo này là chưa lượng hóa được giá trị tạo ra ở mỗi công đoạn của chuỗi giá trị đó [15].

– “Đẩy mạnh việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (global value chain – GVC) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam” của nhóm tác giả Trường Đại học Ngoại thương năm 2008. Đây có thể nói là một công trình nghiên cứu tương đối hoàn thiện về chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam cho đến nay. Tuy nhiên,
giống như những nghiên cứu trên, báo cáo này chưa lượng hóa phần đóng góp của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu [23].

– “Tiếp cận chuỗi giá trị cho việc nâng cấp ngành dệt may Việt Nam” của nhóm tác giả Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Bài viết được đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Đại học Đà Nẵng số 2 (37) 2010. Bài viết tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhằm giải thích sự chuyển đổi trong hệ thống sản xuất và thương mại của ngành dệt may trên thế giới. Thông qua phân tích thực trạng, bài viết đề xuất chính sách nhằm hỗ trợ nâng cấp quá trình, sản phẩm và chức năng cho mô hình sản xuất thiết bị gốc, thay vì nhắm đến bước nhảy đột phá từ sản xuất gia công sang hệ thống sản xuất định hướng xuất khẩu với thương hiệu quả nhà sản xuất [40]. Trên thế giới, có một số nghiên cứu tập trung vào chuỗi giá trị của ngành dệt may của khu vực, các nước, trong đó có cả Việt Nam như sau.

– “Vietnam’s Garment Industry: Moving up the Value Chain” do nhóm tác giả Hassan Oteifa, Dietmar Stiel, Roger Fielding, Peter Davies, đại diện của Đại học Bách Khoa Hà Nội, đại diện của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoàn thành vào năm 1999 và được soát xét lại vào năm 2000. Đây là một công trình nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của một dự án thuộc khuôn khổ nghiên cứu về Việt Nam của MPDF. Mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu những khó khăn có liên quan đến hoạt động tác nghiệp và marketing của những doanh nghiệp may tư nhân ở Việt Nam, từ đó đề xuất những hỗ trợ của MPDF dành cho những doanh nghiệp này [57].

– “The global apparel chain: What prospects for upgrading by developing countries” được tổ chức UNIDO công bố vào năm 2003 do hai tác giả Appelbaum and Gereffi hoàn thành. Bài viết sử dụng lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu để giải thích sự chuyển đổi về sản xuất, thương mại, và chiến lược công ty của ngành may trong nhiều thập kỷ qua. Nghiên cứu tập trung vào phân biệt các mô hình cạnh tranh trong khu vực phía bắc của thị trường Mỹ cụ thể là Đông Á, Mexican, và Carribean. Mỗi mô hình đưa ra những quan điểm và những thách thức khác nhau [48].

– “Vietnam in the global garment and textile value chain: implications for firms and workers” của Khalid Nadvi và John Thoburn năm 2003. Đây là kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ Chương trình Toàn cầu hóa và Nghèo đói. Trong môi trường toàn cầu hóa với nhiều thay đổi ngày nay có rất nhiều thách thức đối với ngành dệt và ngành may. Những thách thức đó có những tác động nhất định đối với những nhà sản xuất và công nhân ở những nước đang phát triển, tạo ra những người thành công và những kẻ thất bại. Cho rằng một trong những quốc gia thành công điển hình là Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng mô hình chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích trường hợp Việt Nam mà cụ thể là những mối quan hệ của Việt Nam đối với người mua toàn cầu và mối quan hệ giữa những doanh nghiệp dệt và doanh nghiệp may với nhau [60] với mục tiêu là đánh giá quá trình toàn cầu hóa ảnh hưởng như thế nào đến những doanh nghiệp dệt may của Việt Nam.

– “How do industry clusters success: a case study in China’s textiles and apparel industries của Zhiming Zhang, Chester and Ning Cao” đăng trên tạp chí Quản lý và Công nghệ dệt may của Trung Quốc, số 4, năm 2004. Bài viết tập trung vào sự thành công của những cụm công nghiệp ở Trung Quốc trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế và lấy ngành dệt may làm tình huống nghiên
cứu. Từ những phân tích về cụm công nghiệp dệt may Wujiang ở tỉnh Jiangsu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những yếu tố chi phối sự thành công của cụm công nghiệp cũng như sức cạnh tranh của ngành được cho là trụ cột của nền kinh tế nước này [71].

– Bài viết “Garment industry supply chain” của tác giả Celia Mather xuất bản vào năm 2004 qua Nhà xuất bản Trường Đại học Manchester Motropolitan, Anh. Bài viết tập trung vào việc mô tả chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành may với tình huống nghiên cứu là công ty GAP. Bài viết được hoàn thành bởi nhiều nhóm nghiên cứu từ nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Bangladesh, Thái Lan, Pakistan, Phillipin, Srilanka, tập trung đề xuất cách thức các công ty may có thể phân tích chuỗi cung ứng của mình, tăng cường hợp tác giữa những công nhân chính thức và phi chính thức, và hợp tác dọc theo chuỗi cung ứng. Cuối cùng, nghiên cứu tập trung vào việc giúp đỡ những công nhân của công ty tìm cách cải thiện vị trí của họ trong quá trình sản
xuất [49].

– Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị/ chuỗi giá trị toàn cầu của ngành may ở nhiều nước trên thế giới hoặc những khía cạnh có liên quan đến ngành may và chuỗi giá trị của ngành may [50], [52], [54], [55], và [59]. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích rõ thực trạng về chuỗi giá trị của các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt Nam cũng như những liên kết của những doanh nghiệp này.

Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành may xuất khẩu

Tổng quan nghiên cứu về hành vi mua hàng trực tuyến

Tổng quan nghiên cứu về hành vi mua hàng trực tuyến

Ngày nay hình thức mua hàng trực tuyến càng trở nên phổ biến do sự bùng nổ Internet và việc sử dụng Internet đã trở thành một hành vi thường nhật của hầu hết mọi người. Internet đã làm thay đổi rất nhiều phương diện trong cuộc sống, đặc biệt là việc chúng ta mua sắm các sản phẩm và dịch vụ. Nghiên cứu vấn đề này nhiều tác giả đã đưa ra các kết quả nghiên cứu khác nhau tại các Quốc gia về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng.

Theo AhmadRezaAsadollahi et al. (2012) thì “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự định hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng có thể là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thương mại điện tử và lĩnh vực tiếp thị”. Nghiên cứu sử dụng một mô hình kiểm tra sự ảnh hưởng của rủi ro nhận thức, cơ sở vật chất và chính sách hoàn trả về thái độ đối với hành vi mua sắm trực tuyến và các quy chuẩn chủ quan, cảm nhận về sự tự chủ trong hành vi, lĩnh vực sáng tạo cụ thể và thái độ về hành vi mua sắm trực tuyến. Nghiên cứu tiến hành khảo sát 200 khách hàng được chọn ngẫu nhiên của các cửa hàng trực tuyến ở Iran. Phương pháp hồi quy được sử dụng để phân tích dữ liệu nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu xác định những rủi ro tài chính và rủi ro không giao hàng ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ đối với mua sắm trực tuyến. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tính sáng tạo cụ thể và các quy chuẩn chủ quan ảnh hưởng tích cực đến hành vi mua sắm trực tuyến. Hơn nữa, thái độ cũng ảnh hưởng tích cực đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng.

Shefali Kumar (2000) đã nghiên cứu dự định hành vi của người tiêu dùng đối với mua sắm trực tuyến. Lý thuyết hành vi dự định được sử dụng để dự đoán ý định hành vi (BI), trong đó các yếu tố về thái độ, quy chuẩn chủ quan, và cảm nhận về sự tự chủ trong hành vi (PBC). Những ảnh hưởng của biến nhân khẩu học đối với dự định hành vi cũng được kiểm tra. Phân tích dữ liệu (n = 303) cho thấy thái độ, quy chuẩn chủ quan, cảm nhận về sự tự chủ trong hành vi và sự mua hàng trước đó là yếu tố dự báo quan trọng về dự định hành vi. Sản phẩm / sự tiện lợi, dịch vụ khách hàng (yếu tố thái độ), mua và giao hàng, chương trình khuyến mãi, thuộc tính sản phẩm (các yếu tố của PBC), quy chuẩn chủ quan, giờ làm việc trực tuyến, tiền chi tiêu trực tuyến, và sự phân biệt đối xử người mua hàng trước đo từ BI cao xuống BI thấp. Dự định hành vi mua sắm trực tuyến thì cao nhất là đối với các sản phẩm đặc biệt được kể đến là tính cá nhân, sự nhấn mạnh thông tin và những sản phẩm gia dụng.

Dahiya Richa (2012) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để nghiên cứu tác động của các yếu tố nhân khẩu học của người tiêu dùng đến mua sắm trực tuyến như sự hài lòng với mua sắm trực tuyến, dự định mua trong tương lai, tần suất mua sắm trực tuyến, số lượng các mặt hàng mua, và tổng chi tiêu cho mua sắm trực tuyến. Các dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi với kích thước mẫu là 580 người trả lời từ Delhi, Mumbai, Chennai, Hyderabad và Bangalore. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mua sắm trực tuyến ở Ấn Độ bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố nhân khẩu học khác nhau như tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, quy mô gia đình và thu nhập.

PatriciaSorce et al. (2005) đã khảo sát hành vi mua sắm trực tuyến và hành vi mua hàng trực tiếp của giới trẻ và người lớn tuổi thông qua thái độ của họ đối với việc mua sắm. Hơn 300 sinh viên và nhân viên từ một trường đại học ở Mỹ đã hoàn thành cuộc khảo sát liên quan đến hành vi mua sắm trực tuyến và kinh nghiệm của họ cho 17 sản phẩm. Kết quả cho thấy, nếu như người lớn tuổi mua sắm trực tuyến tìm kiếm các sản phẩm ít hơn so với giới trẻ thì họ thực sự lại là đối tượng mua hàng trực tiếp nhiều hơn so với người tiêu dùng trẻ. Kết quả này cho thấy thái độ có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến, còn tuổi tác thì có ảnh hưởng đến hành vi mua hàng trực tiếp đối với người tiêu dùng tìm kiếm các sản phẩm trực tuyến lần đầu tiên.

Mahrdad Salehi (2012) đã tiến hành xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng đối với mua sắm trực tuyến tại Malaysia. Nghiên cứu này tập trung vào 09 yếu tố, cụ thể là sự xuất hiện của website, sự truy cập nhanh chóng, sự bảo mật, bố cục website, giá trị phù hợp, sự cải tiến, sự thu hút, sự tin tưởng và sự độc đáo. Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến dự định mua sắm trực tuyến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng 05 yếu tố đầu tiên trong những yếu tố kể trên có ảnh hưởng đến dự định hành vi mua sắm trực tuyến và sự bảo mật là yếu tố quan trọng nhất đối với dự định hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng.

MU Sultan & M Uddin (2011) đã nghiên cứu về thái độ của khách hàng đến mua sắm trực tuyến tại Gotland, cụ thể là sinh viên Đại học Gotland, các thư viện trường Đại học và thư viện công cộng tại Gotland. Kích thước mẫu là 100 và tác giả đã sử dụng kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện. Kết quả nghiên cứu cho rằng có bốn yếu tố ảnh hưởng đối với mua sắm trực tuyến tại Gotland, trong đó yếu tố tác động mạnh nhất là thiết kế Website / đặc trưng, tiếp đến là sự thuận tiện, sự tiết kiệm thời gian và sự bảo mật. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng có một số yếu tố khác ảnh hưởng đến dự định hành vi mua sắm trực tuyến bao gồm giá, chiết khấu, thông tin phản hồi từ những khách hàng trước đó và chất lượng của sản phẩm.

Nghiên cứu của JamesL.Brock et al. (2012) đã điều tra sự ảnh hưởng của lợi ích cảm nhận được, nhận thức rủi ro và sự tin tưởng đến hành vi người tiêu dùng trực tuyến ở Trung Quốc. Kết quả khảo sát trực tuyến thu thập được 578 mẫu hợp lệ. Phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm tra các mô hình nghiên cứu. Kết quả cho thấy ba lợi ích (lợi ích về giá cả, sự tiện lợi và sự giải trí) và ba yếu tố về sự tin tưởng (danh tiếng, sự đảm bảo, và trang web đáng tin cậy) có ảnh hưởng tích cực đến thái độ của người tiêu dùng mua sắm trực tuyến.

HHChang&HWWang (2011) đã xem xét tác động của chất lượng dịch vụ điện tử, giá trị cảm nhận của khách hàng, và sự hài lòng của khách hàng đến lòng trung thành của khách hàng trong môi trường mua sắm trực tuyến. Tác giả tiến hành các quá trình tự điều chỉnh, và kiểm tra tác động trung gian của giá trị cảm nhận khách hàng giữa sự hài lòng và lòng trung thành. Mô hình cấu trúc tuyến tính và hồi quy tuyến tính phân cấp được sử dụng để kiểm tra các mô hình quan hệ nhân quả. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng chất lượng dịch vụ điện tử và giá trị cảm nhận của khách hàng ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, và sau đó ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng. Ngoài ra nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng khách hàng với một giá trị cảm nhận cao thì mối quan hệ giữa sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng cao hơn so với khách hàng với một giá trị cảm nhận thấp.

Nghiên cứu của ZhilinYang et al. (2013) đã cho thấy những sự thuận tiện của mua sắm trực tuyến.Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu người tiêu dùng trực tuyến để xác định các thuộc tính của sự thuận tiện mua sắm trực tuyến và sau đó phát triển và xác định thang đo năm yếu tố quan trọng để đo lường thuận tiện mua sắm trực tuyến bằng cách phân tích dữ liệu thu thập được thông qua bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến. Năm yếu tố đo lường cho sự thuận tiện của mua sắm trực tuyến bao gồm: Sự thuận tiện về truy cập website, về tìm kiếm thông tin, về sự đánh giá sản phẩm, thông tin giao dịch và sự vận chuyển – mua hàng.

SN Othman et al. (2012) đã làm nổi bật tầm quan trọng tương đối của các biến trong mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) gồm thái độ, các quy chuẩn chủ quan, cảm nhận về sự tự chủ trong hành vi trong trường hợp mua sắm trực tuyến. Nghiên cứu phân tích các biến ảnh hưởng đến dự định hành vi của 313 cán bộ, giảng viên trường đại học ở Jordan. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính để xem xét các mối quan hệ nhân quả phù hợp với lý thuyết hành vi dự định. Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ không có tác động trực tiếp đáng kể đến dự định mua sắm trực tuyến trong khi các quy chuẩn chủ quan và cảm nhận về sự tự chủ trong hành vi có ảnh hưởng đáng kể đến dự định.

Nghiên cứu của Rachel Smith et al. (2011) sử dụng mô hình TAM (Technology Acceptance Model) để xem xét vai trò của văn hóa ảnh hưởng đến việc mua sắm trực tuyến, so sánh sự khác biệt ở ba Quốc gia: Đức, Na Uy và Hoa Kỳ. Vai trò của nhận thức và xúc cảm trong việc thúc đẩy và sử dụng công nghệ cũng được kiểm tra. Sau khi đảm bảo đo lường tương đương với cấu trúc nghiên cứu, nghiên cứu đánh giá sự khác biệt trong mô hình cấu trúc ở các nước. Kết quả cho thấy mô hình TAM không phù hợp với mẫu nghiên cứu tại các nước Châu Âu. Thêm vào đó, ở cả ba nước, sự tham gia của nhận thức có sự ảnh hưởng đến sự cảm nhận về lợi ích và tính dễ sử dụng, nhưng tại Đức, không có mối quan hệ giữa xúc cảm và hành vi dự định mua sắm trực tuyến.

Shyh-Hwang Lee&Hoang ThiBich Ngoc (2010) đã kiểm tra của một mô hình tích hợp mở rộng lý thuyết của hành vi dự định (TPB) với một yếu tố bổ sung – sự tin tưởng – bằng cách điều tra ý định hành vi sinh viên đại học Việt Nam để mua sắm trực tuyến. Kết quả cho thấy sự tin tưởng có thể nâng cao các lợi ích dự đoán của TPB cho ý định tham gia vào hành vi mua sắm trực tuyến, cùng với ba biến của mô hình TPB là thái độ, các quy chuẩn chủ quan và cảm nhận về sự tự chủ trong hành vi. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tin tưởng là một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa thái độ và dự định hành vi mua sắm trực tuyến.

OrapinLaohapensang (2009) cũng đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mua sắm trực tuyến bằng cách sử dụng lý thuyết hành vi dự định (TPB). Lý thuyết này cho rằng thái độ của một khách hàng tiềm năng, các quy chuẩn chủ quan của khách hàng và cảm nhận về sự tự chủ trong hành vi có ảnh hưởng đến dự định hành vi mua sắm trực tuyến. Nghiên cứu nhằm mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Thái Lan để trả lời câu hỏi TPB giải thích như thế nào về dự định mua sắm trực tuyến ở Thái Lan. Sau đó, so sánh được thực hiện giữa dự định hành vi trên lý thuyết và thực trạng của việc sử dụng các dịch vụ trực tuyến của người tiêu dùng tại Thái Lan. Đối tượng tham gia khảo sát là 400 sinh viên tốt nghiệp tại bốn trường đại học lớn ở Thái Lan. Kết quả nghiên cứu cho thấy những khó khăn của mua sắm trực tuyến được coi là yếu tố ảnh hưởng đến hầu hết các dự định của khách hàng mua sắm trực tuyến. Trong cuộc khảo sát này, công nghệ trực tuyến được coi là rào cản chính cho việc mua sắm trực tuyến. Ngược lại, thái độ của một khách hàng tiềm năng là yếu tố có ảnh hưởng nhất về dự định mua sắm trực tuyến.

Hsiu-Fen Lin (2008) đã so sánh ba mô hình lý thuyết (TAM, TPB và TPB phân tách) để kiểm tra mô hình nào tốt nhất giúp dự đoán ý định hành vi của người tiêu dùng mua sắm trực tuyến. Dữ liệu được thu thập từ 297 khách hàng Đài Loan của các hiệu sách trực tuyến, và mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng phân tích. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các lý thuyết hành vi dự định phân tách (decomposed TPM) cung cấp một phương pháp tiến bộ hơn về việc dự đoán ý định hành vi của người tiêu dùng mua sắm trực tuyến.

BGC Dellaertet al. (2004) có một số đề xuất để tăng cường thái độ, sự hiểu biết của người tiêu dùng đối với mua sắm trực tuyến và dự định hành vi mua sắm trực tuyến của họ. Nghiên cứu dựa trên cơ sở mô hình TAM, mở rộng các yếu tố ngoại sinh và áp dụng nó vào bối cảnh mua sắm trực tuyến. Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ đối với mua sắm trực tuyến và dự định hành vi mua sắm trực tuyến không chỉ bị ảnh hưởng bởi tính dễ sử dụng, hữu ích, và sự hưởng thụ, mà còn bởi các yếu tố ngoại sinh như đặc điểm người tiêu dùng, các yếu tố tình huống, đặc tính sản phẩm, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến trước đó, và sự tin tưởng vào mua sắm trực tuyến.

Nghiên cứu hành vi mua sắm trực tuyến bên cạnh có giá trị khoa học cao khi phát hiện ra những nhân tố tác động còn là thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp kinh doanh bán hàng trực tuyến xây dựng các chính sách marketing phù hợp nhằm tác động hiệu quả hơn đến thái độ và hành vi tích cực từ phía khách hàng của mình.

Tài liệu tham khảo về hành vi mua hàng trực tuyến:

  1. Chang, Hsin Hsin, and Hsin-Wei Wang. “The moderating effect of customer perceived value on online shopping behaviour.” Online Information Review 35.3 (2011): 333-359.
  2. Dahiya Richa. “Impact of demographic factors of cunsumers on online shopping behavior: A study of cunsumers in India”. International Journal of Engineering and Management Sciences 3.1 (2012): 43-52.
  3. Jiang, Ling Alice, Zhilin Yang, and Minjoon Jun. “Measuring consumer perceptions of online shopping convenience.” Journal of Service Management24.2 (2013): 191-214.
  4. Kumar, Shefali. “Consumers’ behavioral intentions regarding online shopping.” (2000).
  5. Laohapensang, Orapin. “Factors influencing internet shopping behaviour: a survey of consumers in Thailand.” Journal of Fashion Marketing and Management 13.4 (2009): 501-513.
  6. Lee, Shyh-Hwang, and Hoang Thi Bich Ngoc. “Investigating the on-line shopping intentions of Vietnamese students: an extension of the theory of planned behaviour.”
  7. Lin, Hsiu-Fen. “Predicting consumer intentions to shop online: An empirical test of competing theories.” Electronic Commerce Research and Applications 6.4 (2008): 433-442.
  8. Liu, Matthew Tingchi, et al. “Perceived benefits, perceived risk, and trust: Influences on consumers’ group buying behaviour.” Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics 25.2 (2013): 225-248.
  9. Monsuwé, Toñita Perea, Benedict GC Dellaert, and Ko De Ruyter. “What drives consumers to shop online? A literature review.” International Journal of Service Industry Management 15.1 (2004): 102-121.
  10. Moshrefjavadi, Mohammad Hossein, et al. “An Analysis of Factors Affecting on Online Shopping Behavior of Consumers.” International Journal of Marketing Studies 4.5 (2012): p81.
  11. Othman, Siti Norezam, Nik Kamariah Nik Mat, and Mohammed A. Al-Jabari. “ONLINE SHOPPING BEHAVIOR OF JORDANIAN CUSTOMERS.
  12. Salehi, Mehrdad. “Consumer buying behavior towards online shopping stores in Malaysia.” International Journal of Academic Research in Business and Social Sciences 2.1 (2012).
  13. Smith, Rachel, et al. “Cross-cultural examination of online shopping behavior: A comparison of Norway, Germany, and the United States.” Journal of Business Research (2011).
  14. Sorce, Patricia, Victor Perotti, and Stanley Widrick. “Attitude and age differences in online buying.” International Journal of Retail & Distribution Management 33.2 (2005): 122-132.
  15. Sultan, Muhammad Umar, and Md Uddin. Consumers’ Attitude towards Online Shopping: Factors influencing Gotland consumers to shop online. Diss. Gotland University, 2011.

Tổng quan nghiên cứu về hành vi mua hàng trực tuyến

Tình hình nghiên cứu thực thi pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Tình hình nghiên cứu thực thi pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Tác giả luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu theo vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án như: tình hình nghiên cứu lý luận về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, tình hình nghiên cứu về quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và tình hình nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Ở mỗi vấn đề tác giả đã đánh giá lồng ghép các tình hình nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam và ở Lào. Qua đó nhận xét, đánh giá và đề ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án.

Hầu hết các bài viết, các công trình nghiên cứu về nhãn hiệu hàng hóa của các tác giả Việt Nam trong thời gian qua đều tập trung phân tích, đánh giá các khía cạnh khác nhau về sự phù hợp của hệ thống pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam và nhu cầu phát triển thực tế trong giai đoạn hiện nay; tác giả Việt Nam đã nêu ra một số định hướng và giải pháp nhất định nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa.

Các công trình nghiên cứu của PGS.TS. Lê Hồng Hạnh, TS. Vũ Thị Hải Yến, Đàm Thị Diễm Hạnh, TS. Lê Mai Thanh, RAVEEN Obhrai, TS. Nguyễn Thị Quế Anh, chủ yếu nghiên cứu về các vấn đề lý luận về nhãn hiệu hàng hóa như, khái niệm, chức năng và vai trò, phận biệt nhãn hiệu hàng hóa với một số đối tượng khác có liên quan, và việc phân loại nhãn hiệu hàng hóa để góp phần trong việc đổi mới, hoàn thiện quy định pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa.

Trong công trình của các tác giả Phan Ngọc Tâm, Vương Thanh Thúy, Nguyễn Như Quỳnh, chủ yếu nghiên cứu và phân tích sâu hơn với các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa dưới sự so sánh với pháp luật của các nước phát triển như, Hòa Kỳ, Liên Minh Châu Âu và các điều ước quốc tế có liên quan để góp phần đổi mới và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu trong công trình của các tác giả Nguyễn Đức Nga, Lê Việt Long, đề cập đến hoạt động đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm quyền SHCN và quyền sở hữu trí tuệ dưới góc độ của khoa học luật hình sự và tố tụng hình sự nên luận án tập trung nghiên cứu xoay quanh vấn đề hoàn thiện chính sách, pháp luật về SHCN và pháp luật về sở hữu trí tuệ. Trong công trình của tác giả Lê Hoài Nam, chủ yếu đề cập đến hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo chức năng của lực lượng cảnh sát nhân dân nên tác giả không đi sâu nghiên cứu về nội dung phòng ngừa tội phạm về sở hữu trí tuệ.

Trong công trình của tác giả Định Thị Mai Phương, chủ yếu tập trung nghiên cứu chuyên sau vào nguyên tắc bồi thường thiệt hại và căn cứ xác định bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp xâm phạm quyền SHCN để hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thị liên quan đến bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.

Trong công trình của các tác giả Nguyễn Văn Luật và Lê Mai Thanh, lần đầu tiên các vấn đề pháp lý về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam đã được đề cập tương đối toàn diện và có hệ thống. Một số giải pháp và kiến nghị nêu trong luận án đã góp phần vào việc đổi mới và hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam trong thời gian qua. Tuy nhiên, do thời điểm nghiên cứu của các công trình này so với hiện nay các quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể để tương thích với các điều ước quốc tế liên quan và điều kiện hội nhập kinh tế quôc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Trong công trình của PGS.TS. Nguyễn Bá Diễn, TS. Lê Xuân Thảo, TS. Nguyễn Thanh Tâm, Nguyễn Chiến Thắng… đều nghiên cứu trong phạm vi rộng hơn, đề cập đến vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền SHCN nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.
Có thể thấy rằng, thời gian qua đã có nhiều tác giả Việt Nam chủ yếu phân tích, đánh giá mức độ phù hợp, tương thích và khác biệt so với pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước phát triển như, Hoa Kỳ, Liên Minh Châu Ây, Pháp, Nhật, Trung Quốc và vv… , từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam.

Trên cơ sở nhận xét, đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và một số công trình của tác giả nước ngoài và Lào về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, luận án đã đi đến kết luận rằng: các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về mọi khía cạnh liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và đã đạt được nhiều kết quả mới góp phần vào việc hoàn thiện và nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam trong thời gian qua. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ so sánh một cách toàn diện về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa giữa Việt Nam và Lào. Luận án cũng đã xác định vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, vấn đề cần được làm rõ thêm trong quá trình nghiên cứu; những định hướng cần được phận tích, làm rõ ở các chương tiếp theo của luận án để đưa ra những đề xuất, các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của Lào.

Tình hình nghiên cứu thực thi pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Một số phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học – Part 1

Một số phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học

Qua trình điều tra chọn mẫu có nghĩa là người nghiên cứu không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị của một tổng thể mà chỉ tiến hành điều tra trên 1 số đơn vị nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí của quá trình nghiên cứu và công sức của nhà nghiên cứu trong quá trình điều tra. Các nhà nghiên cứu thường dựa trên các đặc điểm và tính chất của mẫu khảo sát để thể suy ra được các đặc điểm và tính chất của cả tổng thể đó. Vấn đề quan trọng nhất là nhà nghiên cứu phải đảm bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung.

Quá trình tổ chức điều tra của một nghiên cứu khoa học thông thường được bao gồm 6 bước như sau:

Một là, xác định tổng thể chung (người nghiên cứu cần phải xác định rõ tổng thể chung vì nghiên cứu sẽ tiến hành chọn mẫu từ đó)

Hai là, xác định khung chọn mẫu (danh sách mẫu): Thông thường các khung chọn mẫu có sẵn và thường được sử dụng là: danh bạ hay niên giám điện thoại xếp theo tên cá nhân, doanh nghiệp hoặc cơ quan; danh bạ hay niên giám điện thoại xếp theo tên đường, quận huyện, thành phố; các danh sách liên lạc thư tín : bao gồm hội viên của câu lạc bộ, hiệp hội, độc giả mua báo của các toà soạn báo…; các khách mời đến dự các cuộc hội thảo hay giới thiệu sản phẩm mới.

Ba là, xác định phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu dựa vào mục đích hay tầm quan trọng của công trình nghiên cứu, thời gian tiến hành, kinh phí, kỹ năng của người nghiên cứu,… nhằm quyết định lựa chọn phương pháp chọn mẫu xác suất hay phi xác suất; sau đó tiếp tục chọn ra hình thức cụ thể của phương pháp này.

Bốn là, xác định quy mô mẫu: quá trình này thường dựa vào yêu cầu về độ chính xác, khung chọn mẫu đã có sẵn hay chưa, phương pháp thu thập dữ liệu, kinh phí cho phép của cuộc điều tra. Với mẫu xác suất thì sẽ có công thức riêng để tính cỡ mẫu cho phù hợp; đối với mẫu phi xác suất thì thường dựa vào kinh nghiệm và sự am hiểu về vấn đề nghiên cứu của người nghiên cứu để chọn cỡ mẫu cho phù hợp.

Năm là, xác định các chỉ thị để nhận diện được đơn vị mẫu trong thực tế: Đối với mẫu xác suất người viết phải xác định rõ cách thức chọn từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu nhằm đảm bảo mọi đơn vị đều có khả năng được chọn như nhau.

Sáu là, kiểm tra và đánh giá quá trình chọn mẫu: đây là khâu cuối cùng của quá trình điều tra, trong khâu này người viết thường kiểm tra dựa trên các mặt sau: Kiểm tra và đánh giá các đơn vị trong mẫu có đúng đối tượng nghiên cứu đã đề ra từ đầu hay là không? (vì thường các nghiên cứu hay mắc sai lầm ở khâu chọn đối tượng do thu thập thông tin ở nơi không thích hợp, ở những đối tượng không thích hợp, hay bỏ qua những thông tin của những người lẽ ra phải được phỏng vấn). Kiểm tra và đánh giá sự thành thật của người được phỏng vấn (quá trình hỏi càng lâu thì sự từ chối trả lời càng lớn). Kiểm tra và đánh giá tỷ lệ hoàn tất của đối tượng phỏng vấn (xem đã thu thập đủ số đơn vị cần thiết trên mẫu chưa) : khi phỏng vấn bằng thư đôi lúc thư bị trả lại do không có người nhận, khi phỏng vấn bằng điện thoại đôi khi không thể tiếp xúc được với đối tượng khảo sát vì không có mặt hay không có điện thoại.

Đi sâu vào phương pháp chọn mẫu ta có 2 phương pháp chọn mẫu cơ bản là phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu phi ngẫu nhiên:

1. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay còn gọi là chọn mẫu xác suất) là phương pháp chọn mẫu khi khả năng được chọn của tất cả các đơn vị vào tổng thể là như nhau. Phương pháp này là phương pháp khá tốt  để người nghiên cứu có thể lựa chọn ra một mẫu có khả năng đại diện cho tổng thể nghiên cứu. Bên cạnh đó vì có khả năng tính được sai số do chọn mẫu do vậy ta có thể áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung.

Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng được khi không xác định được danh sách của tổng thể chung; bên cạnh đó tốn kém nhiều thời gian, kinh phí điều tra và nguồn nhân lực

Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên:

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản:

Đối với phương pháp này trước tiên người nghiên cứu cần lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự nào đó ví dụ như lập theo  tên, c theo quy mô hoặc địa chỉ…, sau đó đánh STT vào trong danh sách; rồi dùng các phương pháp ngẫu nhiên như rút thăm, dùng bảng số ngẫu nhiên, dùng hàm random của máy tính để chọn ra từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu.

Phương pháp này thường vận dụng khi các đơn vị của tổng thể chung nằm ở vị trí địa lý gần nhau, các đơn vị đồng đều nhau về đặc điểm. Phương pháp này thông thường được áp dụng trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm trong dây chuyền sản xuất hàng loạt.

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:

Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự quy ước nào đó, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách. Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1 đơn vị trong danh sách ; sau đó cứ cách đều k đơn vị lại chọn ra 1 đơn vị vào mẫu,…cứ như thế cho đến khi chọn đủ số đơn vị của mẫu. Ví dụ : Dựa vào danh sách bầu cử tại 1 thành phố, ta có danh sách theo thứ tự vần của tên chủ hộ, bao gồm 240.000 hộ. Ta muốn chọn ra một mẫu có 2000 hộ. Vậy khoảng cách chọn là : k= 240000/2000 = 120, có nghĩa là cứ cách 120 hộ thì ta chọn một hộ vào mẫu.

Chọn mẫu cả khối:

Trước tiên lập danh sách tổng thể chung theo từng khối (như làng, xã, phường, lượng sản phẩm sản xuất trong 1 khoảng thời gian…). Sau đó, ta chọn ngẫu nhiên một số khối và điều tra tất cả các đơn vị trong khối đã chọn. Thường dùng phương pháp này khi không có sẵn danh sách đầy đủ của các đơn vị trong tổng thể cần nghiên cứu. Ví dụ : Tổng thể chung là sinh viên của một trường đại học. Khi đó ta sẽ lập danh sách các lớp chứ không lập danh sách sinh viên, sau đó chọn ra các lớp để điều tra.

Chọn mẫu phân tầng:

Trước tiên phân chia tổng thể thành các tổ theo 1 tiêu thức hay nhiều tiêu thức có liên quan đến mục đích nghiên cứu (như phân tổ các DN theo vùng, theo khu vực, theo loại hình, theo quy mô,…). Sau đó trong từng tổ, dùng cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản hay chọn mẫu hệ thống để chọn ra các đơn vị của mẫu. Đối với chọn mẫu phân tầng, số đơn vị chọn ra ở mỗi tổ có thể tuân theo tỷ lệ số đơn vị tổ đó chiếm trong tổng thể, hoặc có thể không tuân theo tỷ lệ. Ví dụ : Một toà soạn báo muốn tiến hành nghiên cứu trên một mẫu 1000 doanh nghiệp trên cả nước về sự quan tâm của họ đối với tờ báo nhằm tiếp thị việc đưa thông tin quảng cáo trên báo. Toà soạn có thể căn cứ vào các tiêu thức : vùng địa lý (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) ; hình thức sở hữu (quốc doanh, ngoài quốc doanh, công ty 100% vốn nước ngoài,…) để quyết định cơ cấu của mẫu nghiên cứu.

Chọn mẫu nhiều giai đoạn:

Phương pháp này thường áp dụng đối với tổng thể chung có quy mô quá lớn và địa bàn nghiên cứu quá rộng. Việc chọn mẫu phải trải qua nhiều giai đoạn (nhiều cấp). Trước tiên phân chia tổng thể chung thành các đơn vị cấp I, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp I. Tiếp đến phân chia mỗi đơn vị mẫu cấp I thành các đơn vị cấp II, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp II…Trong mỗi cấp có thể áp dụng các cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu phân tầng, chọn mẫu cả khối để chọn ra các đơn vị mẫu. Ví dụ :Muốn chọn ngẫu nhiên 50 hộ từ một thành phố có 10 khu phố, mỗi khu phố có 50 hộ. Cách tiến hành như sau : Trước tiên đánh số thứ tự các khu phố từ 1 đến 10, chọn ngẫu nhiên trong đó 5 khu phố. Đánh số thứ tự các hộ trong từng khu phố được chọn. Chọn ngẫu nhiên ra 10 hộ trong mỗi khu phố ta sẽ có đủ mẫu cần thiết.

2. Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên:

Chọn mẫu phi ngẫu nhiên (hay chọn mẫu phi xác suất) là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu. Chẳng hạn : Ta tiến hành phỏng vấn các bà nội trợ tới mua hàng tại siêu thị tại một thời điểm nào đó ; như vậy sẽ có rất nhiều bà nội trợ do không tới mua hàng tại thời điểm đó nên sẽ không có khả năng được chọn

Việc chọn mẫu phi ngẫu nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự hiểu biết về tổng thể của người nghiên cứu nên kết quả điều tra thường mang tính chủ quan của người nghiên cứu. Mặt khác, ta không thể tính được sai số do chọn mẫu, do đó không thể áp dụng phương pháp ước lượng thống kê để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung

Các phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên:

Chọn mẫu thuận tiện:

Có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng. Chẳng hạn nhân viên điều tra có thể chặn bất cứ người nào mà họ gặp ở trung tâm thương mại, đường phố, cửa hàng,.. để xin thực hiện cuộc phỏng vấn. Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì họ chuyển sang đối tượng khác. Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá, để xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; hoặc để kiểm tra trước bảng câu hỏi nhằm hoàn chỉnh bảng; hoặc khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn đề đang quan tâm mà không muốn mất nhiều thời gian và chi phí.

Chọn mẫu phán đoán:

Là phương pháp mà phỏng vấn viên là người tự đưa ra phán đoán về đối tượng cần chọn vào mẫu. Như vậy tính đại diện của mẫu phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và sự hiểu biết của người tổ chức việc điều tra và cả người đi thu thập dữ liệu. Chẳng hạn, nhân viên phỏng vấn được yêu cầu đến các trung tâm thương mại chọn các phụ nữ ăn mặc sang trọng để phỏng vấn. Như vậy không có tiêu chuẩn cụ thể “thế nào là sang trọng” mà hoàn toàn dựa vào phán đoán để chọn ra người cần phỏng vấn.

Chọn mẫu định ngạch :

Đối với phương pháp chọn mẫu này, trước tiên ta tiến hành phân tổ tổng thể theo một tiêu thức nào đó mà ta đang quan tâm, cũng giống như chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tuy nhiên sau đó ta lại dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện hay chọn mẫu phán đoán để chọn các đơn vị trong từng tổ để tiến hành điều tra. Sự phân bổ số đơn vị cần điều tra cho từng tổ được chia hoàn toàn theo kinh nghiệm chủ quan của người nghiên cứu. Chẳng hạn nhà nghiên cứu yêu cầu các vấn viên đi phỏng vấn 800 người có tuổi trên 18 tại 1 thành phố. Nếu áp dụng phương pháp chọn mẫu định ngạch, ta có thể phân tổ theo giới tính và tuổi như sau:chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 18 đến 40, chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 40 trở lên. Sau đó nhân viên điều tra có thể chọn những người gần nhà hay thuận lợi cho việc điều tra của họ để dễ nhanh chóng hoàn thành công việc.

Một số phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học

Các nghiên cứu trước đây về động viên nhân viên

Các nghiên cứu trước đây về động viên nhân viên

Một số công trình nghiên cứu trên thế giới về động viên nhân viên

Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến người lao động, đặc biệt là tạo động lực cho người lao động. Tiêu biểu như nghiên cứu của Ahmad Al-Rfou and K. Trawneh (2009) nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thông qua động lực lao động. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay thì nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trong. Chính vì thế tạo động lực trong lao động sẽ làm tăng năng suất góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hay nghiên cứu của N. Nohria, Boris Groysberg & Linda .E.Lee (2008) nhằm chỉ ra một hướng mới nhằm mục tiêu tạo động lực cho nhân viên. Nghiên cứu tiến hành khảo sát 385 nhân viên các tập đoàn toàn cầu thông qua 4 yếu tố chính gồm cam kết của công ty, sự hài lòng trong công việc, mức độ tham gia công việc và ý định từ bỏ. Kết quả cho thấy các yếu tố trên có ảnh hưởng một cách nhất định đến quá trình tạo động lực làm việc cho nhân viên.

Nghiên cứu của N.van Saane, J.Ksluiter, J.H.A.M Verbeek and M.Frings Dresen (2003) về độ tin cậy của các thông số đo lường sự hài lòng của nhân viên ngánh y tế dựa 7 yếu tố. Cơ sở dữ liệu được sử dụng là Medline và PsycInfo. Kết quả cho thấy nghiên cứu đạt được giá trị tin cậy cao và phù hợp để áp dụng cho các nghiên cứu có liên quan.

Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu như P.Petcarak (2002), Charles và Marshall (1992), Siu, Tsang và Wong, (1997) cũng áp dụng mô hình nghiên cứu của Kovach (1987) tại nhiều quốc gia tại nhiều lĩnh vực có liên quan.

Một số nghiên cứu trong nước về động viên nhân viên

Tác giả Nguyễn Cao Anh (2011) nghiên cứu về “Đánh giá sự hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Bến Tre”. Tác giả tiến hành phần tích sự hài lòng của người lao động với 10 nhân tố : quan hệ công việc, hiểu rõ kết quả công việc, tiền lương tương xứng với kết quả công việc, phương tiện công việc, quyền hạn thực hiện công việc, thích nghi với công việc hiện tại, huấn luyện kỹ năng phát triển làm việc, công việc đòi hỏi thách thức sáng tạo, chính sách xử lý kỷ luật công bằng, ít lo lắng bị mất việc làm. Kết quả nghiên cứu cho thấy những yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng của người lao động là: quyền hạn thực hiện công việc, quan hệ công việc, phương tiện công việc, thích nghi với công việc hiện tại, ít lo lắng bị mất việc làm, chính sách xử lý kỷ luật công bằng. Bên cạnh đó tác giả đưa ra nhiều giải pháp giúp Doanh nghiệp Tỉnh Bến Tre cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống vật chất cho người lao động giúp cho người lao động làm việc hiệu quả và gắn bó lâu dài với công việc.

Tác giả Lê Thị Luyến (2012) đã nghiên cứu về “Ảnh hưởng của quản trị nguồn nhân lực đến sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức tại Tổng Công ty Điện lực TP.CHM”. Tác giả đã nghiên cứu và điều chỉnh các yếu tố gắn kết nhân viên sao cho phù hợp với điều kiện ở Tổng Công ty Điện lực TP.HCM (EVN HCMC) bao gồm 38 biến quan sát với 8 thành phần: Tuyển dụng lao động; xác định công việc; đào tạo; đánh giá nhân viên; tổ chức tiền lương, tiền thưởng; hoạch định nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến; thu hút CBCNV tích cực tham gia các hoạt động; tính chất đặc thù của ngành điện. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Có 6 yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết theo mức độ giảm dần: tổ chức tiền lương, tiền thưởng; đào tạo; hoạch định nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến; thu hút CBCNV tích cực tham gia các hoạt động; tuyển dụng lao động; đánh giá nhân viên tạo và phát triển.

Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2012) đã nghiên cứu về “Những yếu tố ảnh hưởng đến động viên nhân viên tại Công ty Công ích Quận 10”. Tác giả nghiên cứu dựa trên mô hình mười yếu tố động viên của KoVach và điều chỉnh các yếu tố động viên nhân viên sao cho phù hợp với điều kiện ở Công ty bao gồm 43 biến quan sát với 8 thành phần: Lương bổng và đãi ngộ tài chính, cơ hội đào tạo và phát triển, điều kiện làm việc, đặc điểm công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp, lãnh đạo, văn hóa công ty, sự ổn định trong công việc. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được: yếu tố chính sách đãi ngộ được đưa lên hàng đầu trong nhóm các yếu tố tạo động lực làm việc và kích thích người lao động hăng say làm việc, tiếp đến là cơ hội đào tạo và phát triển, thứ ba là vai trò quan trọng của người lãnh đạo và thức tư là mối quan hệ đồng nghiệp.

Nhìn chung, các tác giả đã nghiên cứu về mức độ hài lòng hoặc tạo động lực cho nhân viên trên mức độ tổng thể, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào thực hiện nghiên cứu tại VNPT Kiên Giang. Chính vì vậy, yếu tố về tạo động lực cho nhân viên tại một công ty cụ thể, ngành nghề cụ thể và nhất là nghiên cứu về công ty chuyên về dịch vụ như VNPT Kiên Giang rất cần được quan tâm trong môi trường kinh doanh nhiều biến động như hiện nay.

Các nghiên cứu trước đây về động viên nhân viên