092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Quản lý nhà nước là gì? Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là gì? Khái niệm quản lý nhà nước

Từ khi xã hội loài người chuyển từ chế độ cộng sản nguyên thủy lên chế độ chiếm hữu nô lệ, bắt đầu thời kỳ phân chia giai cấp thì nhu cầu về quản lý cũng bắt đầu xuất hiện. Trong giai đoạn đầu, việc quản lý hoàn toàn mang tính tự phát. Dần dần, cùng với sự phát triển của xã hội qua các thời kỳ khác nhau tương ứng với phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ quản lý cũng phát triển theo. Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, bên cạnh những yếu tố cơ bản tác động tới sự phát triển của xã hội như sức lao động, trình độ lao động thì một yếu tố được coi là quan trọng hàng đầu đó là yếu tố quản lý.

Trên thế giới hiện nay, cách hiểu về quản lý có tính thống nhất tương đối. Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý”. Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa rộng, 3 chức năng cơ bản của Quản lý nhà nước, đó là: (1) chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; (2) chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; (3) chức năng tư pháp do cơ quan tư pháp thực hiện.

Tuy vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật. Theo đó, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quản lý được giới hạn trong các cơ quan hành pháp, đó là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp; hệ thống các cơ quan: quyền lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nước. Nếu tiếp cận khái niệm Quản lý nhà nước dưới góc độ này, Quản lý nhà nước bao gồm có 2 chức năng cơ bản: (1) Lập quy được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện pháp luật; (2) Tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế – xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội.

Quản lý nhà nước là gì? Khái niệm quản lý nhà nước

Marketing Mix là gì? Khái niệm về Marketing mix

Marketing Mix là gì? Khái niệm về Marketing mix

Với quan điểm marketing hiên đại, chúng ta thấy rằng nhiệm vụ của marketing trong doanh nghiệp là phải xác định được nhu cầu, mong muốn và thị hiếu của nhóm khách hàng mục tiêu. Từ đó, đề ra những chiến lược kinh doanh thích ứng, tạo ra sự thoả mãn tối đa cho khách hàng, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận. Marketing được xem là chức năng quản trị quan trọng nhất trong doanh nghiệp. Nó đóng vai trò kết nối hoạt động của các chức năng khác với thị trường. Nó định hướng hoạt động của các chức năng khác theo những mục tiêu đã định.

Để thực hiện một cách hiệu quả chức năng đó, các nhà quản trị phải đề ra một chính sách tổng hợp nhiều yếu tố gắn kết khả năng cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp và cầu của thị trường một cách hài hoà để vừa thu hút thêm khách hàng mới, vừa giữ được khách hàng đã có trên thị trường mục tiêu. Sự phối hợp hợp lý, chặt chẽ các yếu tố marketing trong một chương trình thống nhất nhằm hướng tới thị trường mục tiêu để đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là marketing-mix.

Marketing-mix là tổng hợp những công cụ marketing mà doanh nghiệp sử dụng để theo đuổi các mục tiêu marketing của mình trên thị trường mục tiêu

Có nhiều thành phần khác nhau được sử dụng trong marketing-mix nhưng theo J.Mc Carthy, có thể phân loại các thành phần này theo bốn yếu tố gọi là bốn P. Đó là sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place) và xúc tiến (Promotion). Các doanh nghiệp thực hiện marketing-mix bằng cách thực hiện phối hợp bốn yếu tố chủ yếu đó để tác động vào sức mua của thị trường, mà quan trọng nhất là thị trường mục tiêu, nhằm đạt được lợi nhuận tối ưu [24].

– Sản phẩm: là công cụ cơ bản nhất trong marketing-mix. Sản phẩm được hiểu là những hàng hoá hữu hình và dịch vụ được doanh nghiệp đưa ra giao dịch trên thị trường. Các yếu tố liên quan đến sản phẩm bao gồm: chất lượng sản phẩm, mẫu mã, tính năng, nhãn hiệu, bao bì và cung cách phục vụ.

– Giá cả: là số tiền mà khách hàng phải thanh toán cho sản phẩm. Với một chính sách giá phù hợp, khách hàng sẽ cảm nhận được sự tương xứng giữa số tiền mà họ thanh toán và giá trị mà sản phẩm mang lại. Giá cả bao gồm: giá bán theo quy định, giá bán buôn, giá bán lẻ, giá đi kèm theo các điều kiện thanh toán, giá đi kèm theo các thời hạn tín dụng… Tuỳ theo từng mục tiêu mà doanh nghiệp đang theo đuổi, người ta có thể sử dụng đồng thời một hoặc một vài chính sách giá.

– Phân phối: là những hoạt động khác nhau mà doanh nghiệp tiến hành nhằm đưa sản phẩm ra thị trường để khách hàng có thể tiếp cận và mua các sản phẩm đó. Phân phối bao gồm các hoạt động xác định các kênh phân phối, lựa chọn các trung gian tiêu thụ, xác định thị phần của sản phẩm trong hiện tại, khả năng chiếm lĩnh thị trường trong tương lai, bố trí lực lượng bán hàng phù hợp theo từng khu vực thị trường… Quá trình phân phối còn bao gồm việc kiểm soát lượng hàng hoá dự trữ và kế hoạch cung ứng sản phẩm đến các khâu tiêu thụ một cách hiệu quả nhất.

– Xúc tiến: bao gồm những hoạt động khác nhau mà doanh nghiệp thực hiện nhằm thông tin và cổ động cho sản phẩm của mình đến thị trường mục tiêu. Đây là một công cụ rất quan trọng, giúp khách hàng thông đạt về những giá trị của sản phẩm, tạo ấn tượng trong tiêu dùng và thuyết phục khách hàng chọn mua sản phẩm của doanh nghiệp này mà từ chối sản phẩm của doanh nghiệp khác.

Thứ tự và cấu trúc của marketing-mix được triển khai tuỳ thuộc vào phương án, chiến lược kinh doanh đã được xác định. Marketing-mix có thể được triển khai thống nhất hoặc khác biệt từng đoạn thị trường mục tiêu được chọn lựa và các phương thứ định vị thị trường của doanh nghiệp. Một chính sách marketing-mix nhất định chỉ áp dụng hiệu quả cho một loại sản phẩm cụ thể và trong một thời gian xác định. Khi có sự thay đổi trong kinh doanh, đặc biệt là thay đổi các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ phải điều chỉnh chính sách marketing-mix một cách thích ứng mới duy trì và phát huy hiệu quả.

Các nội dung của marketing-mix có thể được triển khai bằng các chính sách hoặc các chương trình cụ thể. Do vậy, trong quá trình điều chỉnh các chính sách phải chú ý đến tính đồng nhất và hỗ trợ lẫn nhau của cả tổng thể. Trong ngắn hạn, doanh nghiệp có thể thay đổi các biến số như giá cả, quy mô của lực lượng bán hàng, chi phí bán hàng, quảng cáo. Còn việc phát triển sản phẩm mới hoặc thay đổi hệ thống kênh phân phối thì phải thực hiện trong một thời gian dài hơn.

Marketing Mix là gì? Khái niệm về Marketing mix

Khái niệm kết cấu hạ tầng

Khái niệm kết cấu hạ tầng

Thuật ngữ “Kết cấu hạ tầng”- KCHT được phiên dịch từ một từ ghép của tiếng Anh là infra-structura. Từ Infra nghĩa tiếng Việt là “nền tảng, ở dưới, hạ tầng, phụ thêm”, từ structura có nghĩa là kết cấu, cấu trúc. Vì vậy, từ ghép Infrastructura được dịch là Kết cấu hạ tầng.

Một số tạp chí nước ngoài đưa ra định nghĩa rất ngắn gọn: “Kết cấu hạ tầng là: Giao thông vận tải, Bưu chính viễn thông, cấp điện, cấp nước”. Trong tài liệu cho lớp học về phương pháp quy hoạch kết cấu hạ tầng do cơ quan nghiên cứu vùng của Liên hợp quốc đặt tại Nhật Bản, định nghĩa kết cấu hạ tầng được đưa ra như sau: “Kết cấu hạ tầng là công cụ bổ trợ cho quá trình sản xuất, sinh hoạt của mọi cá nhân và các tổ chức xã hội và được xã hội thừa nhận”.

Theo Bộ từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam (Viện từ điển học và bách khoa thư Việt Nam), kết cấu hạ tầng là tổng thể các ngành vật chất – kĩ thuật, các loại hình hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống xã hội. kết cấu hạ tầng có vai trò quan trọng đặc biệt, là nền tảng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội; kinh tế càng phát triển với trình độ cao thì yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng càng cao. [73]

Như vậy, hiểu một cách khái quát, kết cấu hạ tầng là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân, có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. Kết cấu hạ tầng cũng được hiểu là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế – xã hội được diễn ra một cách bình thường.

Đặc trưng cơ bản là: (i) KCHT có tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ phận có sự gắn kết hài hòa với nhau tạo thành một thể vững chắc đảm bảo cho phép phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống; (ii) Các công trình KCHT có quy mô lớn và thường chủ yếu ở ngoài trời, bố trí rải rác trên phạm vi cả nước, chịu ảnh hưởng nhiều của tự nhiên.

Phân loại kết cấu hạ tầng: có thể phân chia KCHT thành nhiều loại khác nhau, dựa trên các tiêu chí như theo lĩnh vực kinh tế – xã hội; theo phân ngành của nền kinh tế quốc dân; theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ.

– Theo lĩnh vực, kết cấu hạ tầng có thể được phân thành hai loại là KCHT kĩ thuật và KCHT xã hội. KCHT kỹ thuật bao gồm đường giao thông vận tải (đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không), hồ chứa nước, cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, phương tiện vận tải, thông tin bưu điện, các cơ sở sản xuất và cung ứng điện, khí, nước… bảo đảm điều kiện sản xuất của xã hội. KCHT xã hội bao gồm các cơ sở giáo dục, khoa học, thông tin, bảo vệ sức khoẻ, vv…[73]

– Theo phân ngành kinh tế quốc dân, có thể chia thành kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục, ngân hàng …

– Theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ, có thể chia thành KCHT đô thị, KCHT nông thôn, KCHT vùng đồng bằng, trung du miền núi, vùng biển, vùng kinh tế trọng điểm, …

Kết cấu hạ tầng trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những công trình liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống.

Khái niệm kết cấu hạ tầng

Khái niệm du lịch

Khái niệm du lịch

Du lịch là gì? Khái niệm về du lịch? Khái niệm du lịch là gì?

Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Nhiều nước đã sử dụngchỉ tiêu đi du lịch của dân cư nhưlà một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau.

Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau.

Theo Guer Freuler thì “Du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”.

Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”. (Về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận).

Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara Edmod đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chi ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.” Theo Luật Du lịch (2005) tại khoản 01, Điều 4 chương I giải thích từ ngữ: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

Theo cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt động du lịch:

– Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của họ ở ngoài nơi cư trú để thoả mãn các nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác.

– Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận.

– Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong việc hành trình và lưu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương.

– Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội mà hoạt động du lịch tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những người ngoài địa phương mình, vừa là cơ hội để tìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn, chốn ở,…

Du lịch có thể được hiểu là:

– Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng.

– Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.

Khái niệm du lịch

Khái niệm định giá doanh nghiệp

Khái niệm định giá doanh nghiệp

Định giá doanh nghiệp là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ, đó là để đưa DN ra mua bán, hoặc để đầu tư vào DN…

Định giá là “xác định giá trị b ằng tiền tệ cho các đối tượng hoặc sự kiện liên quan đến DN”. Định giá doanh nghiệp là quá trình xác định thước đo bằng tiền tệ của DN, thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của DN được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của DN.

Đây là quá trình đánh giá nhằm đưa ra ý kiến về GTDN chứ không phải là việc tính toán các công thức toán học thuần túy, xác định GTDN là công việc chứa đựng nhiều ước tính chủ quan. Trên thực tế sẽ không thể có được một phương pháp định giá duy nhất đúng và có thể áp dụng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Định giá doanh nghiệp luôn đòi hỏi phương pháp luận lô-gic và việc vận dụng phù hợp, thận trọng các nguyên lý định giá cơ bản và thông lệ chung. Việc XĐGT và mua bán một DN khác với việc XĐGT và mua bán các hàng hóa thông thường do trong số các yếu tố cấu thành giá trị và giá cả DN có nhiều yếu tố khác với các yếu tố cấu thành giá trị và giá cả các hàng hóa thông thường. GTDN bao gồm cả giá trị tài sản hữu hình và giá trị tài sản vô hình, cụ thể: Giá trị tài sản hữu hình là giá trị những tài sản có hình thái vật chất do DN nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tính chất ghi nhận Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) của DN bao gồm giá trị thực tế của DN (toàn bộ tài sản của DN sử dụng cho HĐKD). Là những yếu tố tạo ra lợi nhuận của DN. Nguồn gốc của giá trị tài sản hữu hình là tài sản có tính vật chất của DN nên phần giá trị này có tính ổn định hơn so với phần giá trị tài sản vô hình. Giá trị tài sản vô hình là giá trị các tài sản có tác dụng làm tăng hiệu quả kinh tế trong hoạt động SXKD của DN, do đó làm gia tăng giá trị của DN như trình độ tổ chức quản lý: Trình độ chuyên môn kỹ năng của người lao động tại DN, vị trí địa lý, uy tín, thương hiệu và xu hướng phát triển của DN trong tương lai… Thực tiễn đã chứng minh, giá trị vô hình của DN là một đại lượng có thật, có thể xác định được, trong nhiều trường hợp nó có giá trị lớn, thậm chí lớn hơn rất nhiều so với giá trị hữu hình của DN. Theo số liệu của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), năm 1998 khoảng 50-90% giá trị của một công ty tạo ra (tùy thuộc vào từng loại hình công ty) là nhờ vào việc quản trị các tài sản vô hình. Do vậy, các tài sản hữu hình được tạo ra chiếm 10-50% giá trị của công ty. Hay như công ty Microsoft tại thời điểm năm 1996 tổng giá trị của công ty là 86 tỷ USD, trong đó toàn bộ giá trị những tài sản hữu hình (bao gồm bất động sản, máy móc, thiết bị…) chỉ chiếm 1 tỷ USD, phần còn lại 85 tỷ USD là giá trị của những tài sản vô hình (điển hình là bản quyền của phần mềm hệ điều hành Windows).

Như vậy, đối với công ty Micrsoft, toàn bộ giá trị của công ty phụ thuộc vào tên tuổi và sự tài giỏi trong việc khai thác và quản trị các tài sản vô hình, hơn là số tài sản hữu hình. Sự chênh lệch này sẽ tiếp tục tăng lên khi nền kinh tế tri thức ngày càng trở thành một thực tế khách quan. Nếu trong những năm 70 của thế kỷ XX tương quan giữa giá trị sổ sách (căn cứ vào Bảng cân đối tài sản) và giá trị thị trường (căn cứ vào giá cổ phiếu) của một công ty là 1/1, thì hiện nay tương quan đó lại là 1/6. Do giá trị tài sản vô hình chịu sự tác động trực tiếp của việc đánh giá trên thị trường nên giá trị tài sản vô hình của DN biến động thường xuyên hơn so với giá trị tài sản hữu hình. Chính vì thế thách thức đặt ra cho các DN là rất lớn nếu các DN không biết xây dựng một chiến lược để phát triển và quản trị tài sản vô hình, xây dựng thương hiệu thì sẽ phải đối mặt với rủi ro lớn trên thương trường. Điều này đã được thực tế của VN trong thời gian gần đây chứng minh rõ nét qua việc xuất khẩu nông sản, thủy sản…

Đối với một DN khi XĐDN với bất cứ lý do nào đều được hiểu nếu tại thời điểm đó đem ra bán trên thị trường là việc chuyển giao toàn bộ tài sản hiện có với việc kế thừa các nguồn “nội lực” vốn có của DN, nên mục tiêu trọng tâm của Xác định giá trị doanh nghiệp là XĐGT tương lai của DN mà các bên có quyền lợi đối với DN đều quan tâm (người bán, người mua DN, chủ nợ…). Do vậy, trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán DN giữa các nhà đầu tư với nhau được tuân thủ theo quan hệ thị trường, là chịu sự chi phối của các quy luật trên thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…) TS của DN không chỉ được xem xét thuần túy dưới dạng các khối hiện vật hoặc một DN cụ thể mà được giá trị hóa trong thị trường.

Để Xác định giá trị doanh nghiệp, xét về mặt nguyên lý, chỉ có thể tồn tại 2 cách tiếp cận, đó là: Trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản trong DN và đánh giá giá trị của yếu tố tổ chức. Hoặc bằng một kỹ thuật nào đó để lượng hóa các khoản thu nhập mà DN có thể mang lại cho nhà đầu tư và về lượng GTDN được đo lường trên hai phương diện: Giá trị thị trường và giá trị kế toán. Vì vậy, một phương pháp Xác định giá trị doanh nghiệp được gọi là cơ bản và khoa học, trước hết nó phải thuộc vào một trong hai cách tiếp cận nói trên.

Như vậy: Định giá doanh nghiệp chính là gắn cho nó một giá trị mà một nhà đầu tư nào đó mua toàn bộ về mặt lý thuyết. Là giá trị lý thuyết phản ánh một giao dịch mua tiềm năng chứ không phải giá một giao dịch thực.

Theo giáo sư W.Seabroke và N.Walker,viện đại học Portsmouth, vương quốc Anh: “Định giá được hiểu là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ”.[38]

Còn theo giáo sư Lim Lan Yuan, trường xây dựng và bất động sản, đại học quốc gia Singapore thì: “Định giá được quan niệm là một nghệ thuật hay khoa học vềước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả các đặc điểm của tài sản và cũng như xem xét đến tất cả các yếu tốkinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”.

Vậy với các quan điểm trên ta có thể hiểu định giá doanh nghiệp theo hai cách như sau:

Thứ nhất, định giá doanh nghiệp là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ, đó là để đưa DN ra mua bán, hoặc để đầu tư vào DN…

Thứ hai, định giá doanh nghiệp là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một DN tại một thời điểm đó là thời điểm định giá, mà có cân nhắc đến tất cả các đặc điểm của DN và cũng như xem xét đến tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường.

Quá trình XĐGTDN là tính toán, xác định sự thay đổi về mặt giá trị của DN tại một thời điểm nhất định. Thông thường đây cũng là quá trình ước tính các khoản tiền mà người mua có thể trả để họ có được DN, và ngược lại là sự ước tính khoản tiền thu được của người bán khi bán DN của mình.

XĐGTDN là một hoạt động khoa học có tính tổng hợp và khả năng dự đoán cao, vì quá trình XĐGTDN không chỉ căn cứ vào các thông tin hiện có của DN mà còn phải dựa vào các thông tin khác như: Chiến lược phát triển kinh doanh của DN, cung cầu sản phẩm của DN trên thị trường, lợi thế kinh doanh (nếu có), trị giá các tài sản tương đương với tài sản của DN, nhu cầu mua sắm, bán loại hình DN đang định giá… Do đó, XĐGTDN là một quá trình phức tạp, có tính nghệ thuật và chuyên môn cao. Chính vì vậy đòi hỏi các chuyên gia XĐGTDN phải nắm chắc đươc kỹ thuật định giá, hiểu biết và tinh thông về thị trường và ngành nghề đặc biệt là khả năng dự đoán nghiệp vụ giỏi.

Ngoài ra còn là cơ sở cho việc quyết định về quản trị kinh doanh, đưa ra các quyết định về đầu tư, tài trợ, quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy, định giá doanh nghiệp đem lại rất nhiều lợi ích cho các chủ thể như: Qui trình “Xác định giá trị doanh nghiệp” thể hiện khả năng tổng hợp, đánh giá, phân tích và khớp lại các dữ liệu quá quá khứ và triển vọng phát triển trong tương lai của DN trong một bản báo cáo chính xác và toàn diện và được thể hiện bằng việc xác định các điểm mạnh, điểm yếu và các giá trị cốt lõi của công ty. Định giá doanh nghiệp trở thành một công cụ hữu hiệu giúp công ty hiện thực hoá được cơ hội và gia tăng giá trị cho các cổ đông hoặc nhà đầu tư tương lai. Trong các trường hợp cần thiết, sẽ vạch ra các kế hoạch và các kiến nghị chuẩn bị cho các hoạt động tiền và hậu của Bản cáo bạch (IPO) tại thời điểm XĐGTDN.

Qua kết quả của định giá doanh nghiệp sẽ chỉ ra những thay đổi cần thiết về hệ thống tài chính, cơ cấu thành phần cổ đông hoặc cấu trúc DN bởi qui trình này sẽ tạo ra một diễn đàn mở để công ty có thể thảo luận một cách sâu rộng và xem xét xem những cơ cấu này có đồng nhất và có lợi cho tương lai của công ty hay không? Ngoài ra sẽ hỗ trợ Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc đưa ra những quyết định khó khăn như các hoạt động bán hàng hoặc loại bỏ các hoạt động làm ăn không có lãi hoặc không mang tính mấu chốt, để tập trung vào những hoạt động mang lại giá trị cao và đưa ra những phân tích về hệ thống quản trị và điều hành công ty, đồng thời cung cấp những đánh giá về năng lực đối với một số các vị trí nhân lực chủ chốt.

Một dự án “Xác định giá trị doanh nghiệp” toàn diện và thành công sẽ đem lại những hiệu quả tích cực do đội ngũ chuyên gia tư vấn sẽ phát hiện ra những khu vực làm ăn hiệu quả của công ty, từ đó sẽ đưa ra được những giải pháp phát huy tối đa hiệu quả điểm mạnh đó để gia tăng giá trị cho các cổ đông và chủ DN.

Định giá doanh nghiệplà quá trình XĐGT thực tế của một DN tại một thời điểm nhất định trên cơ sở thị trường nhằm tạo lập cơ sở để các bên tham gia giao dịch mua bán DN. Đồng thời XĐGTDN là một hoạt động không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường. Đặc biệt trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại DNNN ở Việt Nam, định giá doanh nghiệp là cơ sở để kế toán căn cứ ghi nhận, xử lý kế toán hoàn thiện quá trình TCTDN.

Có thể nói rằng, những khái niệm và quan niệm trên đây về GTDN và định giá doanh nghiệp là một quan niệm hết sức cơ bản. Nó được coi là phương châm chi phối, xuyên suốt các phương pháp XĐGTDN sau này, là nền tảng cơ sở lý luận đối với tất cả các phương pháp ĐGDN trong nền kinh tế thị trường và là tiền đề cho kế toán định giá doanh nghiệp.

Dưới góc độ của đề tài, tác giả muốn nhấn mạnh việc định giá doanh nghiệp là tiền đề cho mục đích TCT các DN.

Khái niệm định giá doanh nghiệp

Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với chi phí thấp nhất [41, tr.50].

Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản, hiệu quả sử dụng tài sản, cơ cấu vốn, vòng quay hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân… Nó phản ánh quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối quan hệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng và tối đa hoá giá trị doanh nghiệp cần phải đặt vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lên hàng đầu. Tuy nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không phải là một nhiệm vụ đơn giản, trước khi tìm ra các giải pháp thực hiện doanh nghiệp cần phải giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:

– Phải khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để, không để vốn nhàn rỗi, lãng phí, sử dụng vốn đúng mục đích, tiết kiệm có nghĩa là doanh nghiệp phải xác định được thời điểm bỏ vốn, quy mô bỏ vốn sao cho đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất.

– Doanh nghiệp cần phải có chiến lược sản xuất kinh doanh, có kế hoạch quản lý phân bổ sử dụng vốn một cách hợp lý và quan trọng là phải luôn huy động, đầu tư thêm để mở rộng qui mô sản xuất và lĩnh vực hoạt động.  Đây là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến vấn đề bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp. Thực hiện được những yêu cầu trên tức là doanh nghiệp đã tìm ra một nửa trong số các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn [41, tr.50].

Mục đích của hoạt động quản lý, sử dụng vốn của DNXD chính là hiệu quả sử dụng vốn, bởi vì hiệu quả sử dụng vốn cao hay thấp sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của DN trong điều kiện kinh tế thị trường. Để hiểu rõ phạm trù hiệu quả sử dụng vốn cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai khái niệm: hiệu quả và kết quả kinh doanh.

Kết quả là những gì mà DN đã được sau một quá trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nhất định. Kết quả bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của DN. Kết quả kinh doanh có thể là những đại lượng cân, đong, đo, đếm được như số công trình hoàn thành sử dụng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần,…

Trong khi đó hiệu quả là một phạm trù được xác định bằng tỷ lệ giữa hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) hay phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực. Cần chú ý rằng trình độ sử dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà chỉ là một phạm trù tương đối, được phản ánh bằng số tương đối là: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực. Chúng ta thường nhầm lẫn giữa phạm trù hiệu quả kinh doanh với phạm trù mô tả sự chênh lệch giữa kết quả và hao phí nguồn lực, bởi vì chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối và chỉ phản ánh mức độ sử dụng các nguồn lực.

Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn là một khái niệm rộng bao hàm cả mặt kinh tế, chính trị, xã hội, là thước đo tăng trưởng của mỗi DN, phản ánh trình độ và sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế – chính trị – xã hội nhất định. Hiệu quả sử dụng vốn thường được thể hiện thông qua quan hệ so sánh giữa các lợi ích trực tiếp và gián tiếp thu được với các chi phí trực tiếp và gián tiếp bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Nếu coi hiệu quả SXKD là mục tiêu thì hiệu quả sử dụng vốn là một phương tiện hữu hiệu để đạt được mục tiêu đó.

Nói đến sử dụng vốn có hiệu quả có nghĩa là trong quá trình hoạt động kinh doanh phải thu được những lợi ích cao nhất đồng thời với chi phí thấp nhất. Từ đó, có thể phát biểu rằng: hiệu quả sử dụng vốn phản ánh một mặt của hiệu quả SXKD, là thước đo trình độ quản lý và sử dụng vốn của DN trong việc tối đa hóa lợi ích thu được với tối tiểu hóa chi phí nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.

Để thực hiện quan điểm, phương hướng, mục tiêu phát triển DNXD, trong đó cần chú trọng đến nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, DN cần có giải pháp toàn diện về hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế – xã hội.

Thứ nhất, hiệu quả xã hội: DNXD cần tập trung trí tuệ, sử dụng các nguồn lực sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu như: giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho người lao
động, cải thiện điều kiện lao động, góp phần xoá nghèo một cách bền vững…

Thứ hai, hiệu quả kinh tế: DNXD biết cách vận dụng những lợi thế của chủ sở hữu, của nền kinh tế vào hoạt động của DN mình, sử dụng nguồn lực trong xã hội để đạt được hiệu quả kinh tế. Để có hiệu quả kinh tế cao, trước hết hiệu quả SXKD trong DN phải cao, bởi vì kết quả của một nền kinh tế đạt được trong mỗi thời kỳ không phải lúc nào cũng là kết quả của từng DN.

Thứ ba, hiệu quả kinh tế – xã hội: Hiệu quả kinh tế – xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế nhất định. Hiệu quả kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế hỗn hợp và được xem xét ở góc độ vĩ mô; đó là nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước.

Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Khái niệm sáng tạo

Khái niệm sáng tạo

Lecne cho rằng: “Sự sáng tạo là quá trình con người xây dựng cái mới về chất bằng hành động trí tuệ đặc biệt mà không thể xem như là hệ thống các thao tác hoặc hành động được mô tả thật chính xác và được điều hành nghiêm ngặt”. [8, tr20].

Solso R.L quan niệm: “Sáng tạo là một hoạt động nhận thức mà nó đem lại một cách nhìn nhận hay cách giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay tình huống”.[12, tr.15]

GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn có nói: “Người có óc sáng tạo là người có kinh nghiệm phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề đã đặt ra”.[19,tr.6]

Có hai mức độ sáng tạo:

– Mức độ 1: Cách mạng trong một lĩnh vực nào đó, làm thay đổi tận gốc các quan niệm của một hệ thống, tri thức và sự vận dụng. Như sự phát hiện ra hình học phi Ơclit của Lôbasepxki, lí thuyết nhóm của Galoa…

– Mức độ 2: Phát triển liên tục cái đã biết, mở rộng lĩnh vực ứng dụng. Như sự phát triển của máy tính, của lazer…

Đối với người học toán, có thể quan niệm sự sáng tạo đối với họ, nếu họ tự đương đầu với những vấn đề mới đối với họ và họ tự mình tìm tòi độc lập những vấn đề đó, để tự mình thu nhận được cái mới mà họ chưa từng biết. Như vậy một bài tập cũng được xem như là mang yếu tố sáng tạo nếu các thao tác giải nó không bị những mệnh lệnh nào đó chi phối, tức là người giải chưa biết thuật toán để giải và phải tiến hành tìm kiếm với những bước đi chưa biết trước.

Khái niệm sáng tạo

Khái niệm cơ cấu tổ chức

Khái niệm cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức thể hiện các mối quan hệ chính thức hoặc phi chính thức giữa những con người trong tổ chức. Sự phân biệt hai loại mối quan hệ đó làm xuất hiện hai dạng cơ cấu trong tổ chức là cơ cấu chính thức và cơ cấu phi chính thức.

Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp không phải là cái gì bất biến. Ngược lại, nó là một hiện tượng phức tạp. Về mặt này, vai trò và ảnh hưởng của người quản lý rất quan trọng.

Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp là hình thức phân công lao động trong lĩnh vực quản trị, có tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản trị. Cơ cấu tổ chức quản trị, một mặt phản ánh cơ cấu sản xuất, nó có tác động tích cực trở lại việc phát triển sản xuất.

Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận ( đơn vị và cá nhân) có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá, có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm nhất định, được bố trí theo từng cấp, những khâu khác nhau nhằm thực hiện các hoạt động của tổ chức và tiến tới những mục tiêu đã xác định.

Cơ cấu tổ chức thể hiện cách thức trong đó các hoạt động của tổ chức được phân công giữa các phân hệ, bộ phận và cá nhân. Nó xác định rõ mối tương quan giữa các hoạt động cụ thể; những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm gắn liền với các cá nhân, bộ phận, phân hệ của tổ chức; và các mối quan hệ quyền lực bên trong tổ chức.

Khái niệm cơ cấu tổ chức

Định nghĩa chất lượng giáo dục

Định nghĩa chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục đại học luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều đối tượng dù có tham gia hoặc không tham gia vào quá trình giáo dục. Ngoài áp lực của việc số lượng người học ngày càng tăng dẫn đến sụt giảm về chất lượng, áp lực của xã hội đang biến đổi và quá trình cạnh tranh khiến cho những nhà tuyển dụng luôn đòi hỏi chất lượng đầu ra của giáo dục cao để đền bù chi phí tiền lương. Chất lượng cũng luôn là một vấn đề đối với chính phủ và các cơ quan, nơi hoạch định các chính sách giáo dục và nghiên cứu giáo dục. Vì rất nhiều lý do, chất lượng giáo dục luôn là một mối quan tâm lớn.

Về bản chất, khái niệm chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối. Với mỗi người, quan niệm về chất lượng khác nhau và vì thế chúng ta thường đặt ra câu hỏi “chất lượng của ai”. Ở mỗi một vị trí, người ta nhìn nhận về chất lượng ở những khía cạnh khác nhau. Các sinh viên, các nhà tuyển dụng, đội ngũ tham gia giảng dạy hoặc không giảng dạy, chính phủ và các cơ quan tài trợ, các cơ quan kiểm duyệt, kiểm định, các nhà chuyên môn đánh giá đều có định nghĩa riêng của họ cho khái niệm chất lượng.

Trong thực tế, có rất nhiều cách định nghĩa chất lượng, nhưng có thể được tập hợp thành năm nhóm quan niệm về chất lượng: chất lượng là sự vượt trội, là sự hoàn hảo, là sự phù hợp với mục tiêu, là sự đáng giá về đồng tiền, và là giá trị chuyển đổi.

Nhóm thứ nhất: Chất lượng là sự vượt trội

Khái niệm chất lượng là sự vượt trội coi chất lượng là một thứ đặc biệt. Trong đó có ba biến thể: khái niệm truyền thống coi chất lượng là sự nổi trội, thứ hai là khái niệm coi chất lượng là xuất sắc (vượt tiêu chuẩn rất cao), và thứ ba là khái niệm coi chất lượng là sự đạt được một số tiêu chuẩn đặt trước

Thứ nhất, khái niệm truyền thống đi kèm với tính phân biệt trong đó chất lượng là một cái gì đó  đặc  biệt, dành cho những người ưu tú. Quan điểm này cho rằng chất lượng không được định nghĩa thông qua việc đánh giá những gì được cung cấp mà dựa trên cơ sở cho rằng chính bản thân tính nổi trội, sự khó tiếp cận của nền giáo dục Oxbridge là chất lượng. Đó không phải là chất lượng được đo đếm qua các tiêu chuẩn mà là chất lượng riêng biệt và không thể tiếp cận cho hầu hết mọi người. Theo quan điểm này, chất lượng là cái sẵn có nằm trong trường đại học, và do vậy không cần có cơ quan nào bên trong hay bên ngoài trường đại học để làm nhiệm vụ đảm bảo chất lượng mà công việc đó được thực hiện bởi chính đội ngũ học thuật trong mọi thứ họ làm. Ở Đức, nhiều người cho rằng hệ thống này làm việc rất tốt, nhưng cho đến gần đây người ta bắt đầu nghi ngờ liệu hệ thống này vẫn còn hoạt động và gây áp lực khiến các cơ sở phải công khai hệ thống đảm bảo nội bộ của mình, dẫn tới sự cần thiết của các biện pháp đảm bảo chất lượng bên ngoài.

Khái niệm truyền thống này không có tác dụng trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học khi nó không thể đưa ra một phương tiện được định nghĩa để đánh giá chất lượng. Tuy nhiên nó vẫn gắn với những ứng dụng cụ thể của thuật ngữ và ý nghĩa của nó ngày càng xói mòn.

Thứ hai, chất lượng là sự xuất sắc 1. Sự xuất sắc thường được dùng thay cho khái niệm chất lượng với hai hàm nghĩa, sự xuất sắc trong mối quan hệ với các tiêu chuẩn và sự xuất sắc như là “khiếm khuyết bằng không”.

Sự xuất sắc 1 nhìn nhận chất lượng như là các tiêu chuẩn “cao”. Nó tương tự như khái niệm truyền thống ngoại trừ việc có xác định các thành tố của sự xuất sắc là gì, nhưng cũng khẳng định rằng chất lượng là hầu như không thể tiếp cận được. Nó cũng được giành cho những người ưu tú vì nó chỉ có thể tiếp cận trong một giới hạn nhất định. Và người ta cho rằng đầu vào tốt nhất sẽ cho đầu ra xuất sắc. Cho dù quá trình học là như thế nào, nếu có những thầy giáo giỏi nhất, trang thiết bị tốt nhất, sinh viên giỏi nhất thì kết quả tự nhiên sẽ vượt trội. Theo nghĩa này sự xuất sắc được đánh giá thông qua danh tiếng của nhà trường và cấp độ nguồn tài nguyên của nhà trường. Hai thứ này luôn song hành với nhau, nguồn tài nguyên tốt mang lại danh tiếng cho nhà trường và ngược lại danh tiếng thu hút các tài nguyên tốt. Với sự nhấn mạnh vào cấp độ đầu vào và đầu ra, chất lượng là sự xuất sắc là một biện pháp đo chất lượng tuyệt đối. Nó không chỉ là một khái niệm của nhóm sinh viên ưu tú giới hạn trong “tháp ngà” của một số ít trường đại học Anh quốc mà cũng là một cách tiếp cận chủ đạo về chất lượng giáo dục ở Hoa Kỳ (Astin & Solomon, 1981; Moodie, 1988; Miller, 1990).

Quan điểm thứ hai về chất lượng đã làm lu mờ khái niệm coi chất lượng là sự xuất sắc. Một sản phẩm chất lượng theo nghĩa này là một sản phẩm đạt được một loạt các kiểm tra chất lượng, được thiết kế dựa trên các tiêu chuẩn có thể đạt được để loại bỏ các khiếm khuyết. Do vậy chất lượng gắn với tất cả những đề mục để hoàn thành những tiêu chuẩn tối thiểu, và nó là kết quả của “kiểm soát chất lượng khoa học”. Ở bất kỳ thời điểm nào cũng có một phép đo tiêu chuẩn trong đó một sản phẩm nếu thoả mãn các tiêu chuẩn đặt ra sẽ đạt ngưỡng chất lượng. Tương tự như vậy việc tuân theo tiêu chuẩn sẽ được dùng để đánh giá các sản phẩm hay dịch vụ cạnh tranh. Trong đó một cơ quan bên ngoài sẽ đặt ra các tiêu chuẩn và đánh giá các sản phẩm đạt hay không đạt hay ở mức nào so với các tiêu chuẩn.

Cách tiếp cận theo các tiêu chuẩn này hàm ý rằng chất lượng sẽ được cải thiện nếu tiêu chuẩn tăng lên. Đây từng là một cách tiếp cận rõ ràng trong giáo dục đại học trong đó chất lượng được coi là sự duy trì và cải thiện các tiêu chuẩn, đồng thời chất lượng và tiêu chuẩn gắn kết chặt chẽ không thể tách rời (Church, 1988)

Cách tiếp cận này cho rằng các tiêu chuẩn mang tính khách quan và tĩnh. Tuy nhiên các tiêu chuẩn thường được thương thảo và thay đổi theo hoàn cảnh. Chúng không chỉ được đặt ra bởi một cơ quan nhất định mà còn chịu ảnh hưởng của các cơ quan khác trong cùng tổ chức.

Một số vấn đề hiện nay đang đặt ra là số lượng sinh viên tăng có thể ảnh hưởng tới chất lượng do tiêu chuẩn đầu vào sẽ phải thay đổi. Cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục để tìm kiếm thị phần cũng khiến cho các tiêu chuẩn toàn cầu bị hạ thấp. Tuy nhiên việc đưa vào các tiêu chuẩn tương đối thay vì các tiêu chuẩn tuyệt đối để đánh giá các cơ sở giáo dục đã đặt ra vấn đề về tính so sánh. Với chất lượng chiếu theo các tiêu chuẩn tương đối, chúng ta không biết tiêu chí nào được đặt ra để xác định tiêu chuẩn. Khái niệm chất lượng bao hàm “trên mức bình thường” trở nên mất giá trị và không còn tính ngoại lệ.

Cuối cùng, có một vấn thực tế về đo lường nếu áp dụng cách tiếp cận “chất lượng là sự vượt trội” với giáo dục đại học. Cả hai cách tiếp cận xuất sắc 1 và theo tiêu chuẩn đều ngụ ý rằng chất lượng một dịch vụ có thể được định nghĩa theo một số tiêu chuẩn có thể đo lường và tính toán được. Tuy nhiên điều này có vẻ không thực tế trong giáo dục đại học và không có ích trong một bối cảnh giáo dục.

Nhóm thứ hai: Chất lượng là sự hoàn hảo nhất quán

Một cách tiếp cận thứ hai nhìn nhận chất lượng về mặt nhất quán. Nó tập trung vào quá trình và đặt ra những đặc tính cụ thể nhằm đạt được một cách hoàn hảo. Điều này được gói gọn trong hai châm ngôn có liên quan tương hỗ lẫn nhau: Khiếm khuyết bằng không và làm mọi việc đúng ngay từ đầu

Thứ nhất, quan niệm xuất sắc 2 (Khiếm khuyết bằng không). Quan niệm xuất sắc 2 phá vỡ tính ngoại lệ của quan niệm xuất sắc 1, trong đó nhấn mạnh vào quá trình thay vì đầu vào và đầu ra. Sự xuất sắc được định nghĩa theo sự tuân theo các đặc tính cụ thể thay vì sự vượt quá tiêu chuẩn cao. Do vậy sự xuất sắc trở thành “khiếm khuyết bằng không” (Hatpin, 1966; Crosby, 1979). Cái đặc biệt trong quan niệm xuất sắc 1 trở thành cái “hoàn hảo” trong quan niệm xuất sắc hai. Hoàn hảo ở đây tức là bảo đảm mọi thứ đều đúng, không có sai sót, và sự hoàn hảo đó phải nhất quán. Tính đáng tin cậy từng bị bỏ qua trong quan niệm chất lượng là sự vượt trội nay trở thành phương tiện để tuyên bố sự xuất sắc trong quan niệm chất lượng là sự hoàn hảo (Carter, 1978; Garvin, 1988).

Không chỉ bao hàm sự tuân theo những đặc tính cụ thể, xuất sắc 2 còn mang ý nghĩa triết học phòng bị hơn kiểm tra (Peters &Waterman, 1982). Tức là đảm bảo rằng không xảy ra sai sót ở từng giai đoạn thay vì chờ đến kiểm tra cuối cùng mới phát hiện sai sót. Quan niệm khiếm khuyết bằng không thực ra gắn kết chặt chẽ với khái niệm văn hoá chất lượng.

Một văn hoá chất lượng là một nơi trong đó tất cả mọi người, không chỉ những người kiểm soát chất lượng đều chịu trách nhiệm về chất lượng (Crosby, 1986). Mỗi tổ chức giống như một hệ thống các mắt nút liên kết với nhau trong đó mỗi mắt nút là một người của một nhóm. Mỗi nút  có đầu vào và đầu ra, được gọi là giao diện chất lượng. Mỗi nút đóng một vai trò gộp ba là khách hàng, người xử lý và người cung cấp. Do vậy chất lượng không chỉ liên kết với yêu cầu của khách hàng mà còn được bảo đảm ở mỗi giai đoạn sản xuất hoặc chuyển giao. Trong văn hoá chất lượng, kiểm tra sản phẩm đầu ra không phải là quan trọng mà cái cần được tập trung là đảm bảo rằng mọi thứ được thực hiện đúng ngay từ đầu. Nếu không quá trình dẫn đến kết quả đầu ra không thỏa đáng được phân tích để thực hiện sửa chữa ngay trong quá trình để đảm bảo không nảy sinh sai sót đó nữa.

Khi nhấn mạnh các đặc điểm cụ thể và quá trình thay vì các tiêu chuẩn đầu vào và đầu ra, văn hoá này không sử dụng  các phép đo tuyệt đối và không có phép đo tiêu chuẩn toàn cầu. Do vậy không có sự so sánh giữa các cơ sở giáo dục với nhau. Nó cũng đồng thời đặt ra vấn đề thiết lập, duy trì và kiểm tra các tiêu chuẩn.

Tuy nhiên trong bối cảnh hướng đến định hướng thị trường, quan niệm xuất sắc tương đối có phần thích hợp hơn. Vấn đề là cách chúng ta nói về “khiếm khuyết bằng không” hay “làm mọi thứ đúng ngay từ đầu” trong một bối cảnh giáo dục. Giáo dục đại học không phải là việc đưa ra các đặc tính cụ thể càng hoàn hảo càng tốt mà, nó là việc thúc đẩy sự phát triển liên nhân, khả năng phân tích và phê phán của sinh viên. Điều này đòi hỏi thường xuyên có các đặc tính cụ thể, một quá trình làm việc lại và khái niệm hoá lại.

Nhóm thứ ba: Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu

Cách tiếp cận này cho rằng chất lượng chỉ có ý nghĩa trong mối liên hệ với mục tiêu (Ball, 1985b; Reynolds, 1986; HMI, 1989a,b; Crawford, 1991a). Do vậy nó được đánh giá về mức độ phù hợp với mục tiêu đến đâu. Khái niệm này rất xa lạ với ý tưởng chất lượng là cái gì đó đặc biệt, nổi trội, dành cho những sinh viên ưu tú hay khó đạt được. Nó là một định nghĩa mang tính chức năng hơn là mang tính loại trừ. Một sản phẩm được coi là đạt chất lượng nếu nó thực hiện mục tiêu mà nó đề ra. Thay vì mang tính loại trừ, quan niệm này mang tính bao hàm trong đó mỗi sản phẩm hay dịch vụ có khả năng đạt được mục tiêu đều được coi là chất lượng.

Mặc dù khái niệm có vẻ rõ ràng, “phù hợp với mục tiêu” rất dễ đánh lừa người khác vì nó đặt ra câu hỏi “mục tiêu của ai” và “sự phù hợp được đánh giá thế nào?”. Quan niệm phù hợp với mục tiêu đưa ra hai ưu tiên cho việc xác định mục  tiêu: thứ nhất là khách hàng, thứ hai là người cung cấp.

Thứ nhất: Phù hợp với mục tiêu 1 – Xác định theo Khách hàng

Quan niệm này xác định chất lượng theo mức độ một sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Do vậy nó mang tính phát triển vì mục tiêu thay đổi theo thời gian, đòi hỏi liên tục có đánh giá lại mức độ phù hợp của mỗi đặc tính cụ thể.

Giả định cho rằng một sản phẩm chất lượng khi đạt được các đặc tính cụ thể tức là đạt được yêu cầu của khách hàng. Theo lý thuyết, việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng tức là khách hàng xác định trước các yêu cầu và đánh giá chất lượng theo phạm vi những yêu cầu đó được đáp ứng đến mức nào. Những yêu cầu này phản ánh mong đợi của người tiêu thụ, nhưng trên thực tế nó bị chi phối bởi các yếu tố khác như chi phí, công nghệ, thời gian. Trên thực tế ít khi khách hàng xác định các đặc tính cụ thể mà chính là người cung cấp dịch vụ đánh giá khách hàng muốn mua gì và cung cấp những gì họ có khả năng lấy đích là người tiêu dùng. Nói đúng hơn, khách hàng được thuyết phục rằng các đặc tính cụ thể của sản phẩm phản ánh yêu cầu và mong muốn của họ. Hơn nữa, cho dù các đặc tính này được quyết định bằng cách nào, quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ vẫn nằm trong tay nhà cung cấp. Chất lượng, theo nghĩa phù hợp với mục tiêu được đánh giá bằng đầu ra chứ không phải bằng quá trình.

Như vậy định nghĩa chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu theo nghĩa đáp ứng yêu cầu khách hàng đã đặt ra một vài vấn đề. Thứ nhất khái niệm “khách hàng” là một khái niệm gây tranh cãi trong giáo dục đại học. Khách hàng có phải là người sử dụng dịch vụ (sinh viên) hay những người trả tiền cho dịch vụ (chính phủ, các nhà tuyển dụng)? Các cổ đông khác như đội ngũ giảng viên có được bao gồm trong khái niệm khách hàng? Sinh viên có phải là khách hàng? Hay là sản phẩm đầu ra? Hay cả hai? Cho dù sinh viên có được coi là khách hàng trực tiếp, cũng không thể phủ nhận những khách hàng gián tiếp khác như chính phủ và nhà tuyển dụng. Thứ hai, khách hàng, ví dụ như sinh viên, không có khả năng và không nhất thiết phải là người quyết định các yêu cầu (Elton, 1992). Làm thế nào để sinh viên quyết định các yêu cầu của mình? Thông thường sinh viên đại học chấp nhận những cái có sẵn cho họ và có thể thiếu những hiểu biết về khoá học. Họ có thể có ảnh hưởng trong việc quyết định sản phẩm đầu ra khi họ đã tham gia vào hệ thống. Và chúng biến đổi theo các lựa chọn khác nhau, thông qua sức ép phát triển các lĩnh vực mới hay ứng dụng những lĩnh vực mới trong đó sinh viên là nhân tố chủ yếu trong việc quyết định bản chất của việc học.

Như vậy yêu cầu của sinh viên cũng do những nhà cung cấp quyết định theo hướng giả định sinh viên được cho là cần những gì. Không giống như ngành công nghiệp chế tạo, cả nhà sản xuất và khách hàng (giảng viên và sinh viên) đều tham gia vào quá trình sản xuất, làm cho sản phẩm mang tính cá nhân riêng lẻ tuỳ thuộc vào đặc điểm của nhà sản xuất và người tiêu thụ. Kết quả là các tiêu chuẩn chất lượng khó được công bố và duy trì.

Như vậy định nghĩa chất lượng giáo dục đại học theo nghĩa đáp ứng yêu cầu của khách hàng không có nghĩa rằng khách hàng luôn ở vị trí tốt nhất để đưa ra các yêu cầu. Do vậy định nghĩa này để ngỏ câu hỏi ai là người xác định chất lượng giáo dục đại học và nó được đánh giá như thế nào. Ngoài ra có lập luận cho rằng dịch vụ giáo dục nên vượt ra khỏi giới hạn đáp ứng yêu cầu khách hàng mà lên đến mức làm vui lòng khách hàng. Và tất nhiên rất khó để đo mức độ “vui lòng” (Sallis & Hignley, 1991, p.3)

Thứ hai: phù hợp với mục tiêu 2 – sứ mệnh.

Thay vì tìm hiểu khách hàng của giáo dục là ai và yêu cầu của họ là gì, quan điểm này đặt nhiệm vụ đề ra mục tiêu cho chính cơ sở giáo dục, và do vậy chất lượng đối với họ là sự hoàn thành sứ mạng và mục tiêu mà họ đặt ra. Tuy nhiên khi đặt trách nhiệm xác định và hoàn thành sứ mạng lên vai cơ sở giáo dục chúng ta mới giải quyết được một phần câu hỏi đặc tính do khách hàng quyết định là gì. Vấn đề đặt  ra ở đây là liệu cơ sở giáo dục đó vẫn còn đạt được mục tiêu nó đặt ra trong tuyên bố sứ mệnh? Và ở đây cần có vai trò của đảm bảo chất lượng.

Đảm bảo chất lượng không phải là để cụ thể hoá các tiêu chuẩn để đo lường chất lượng. Đảm bảo chất lượng là nhằm bảo đảm rằng có các cơ chế, quy trình và quá trình được sắp xếp để bảo đảm đạt được chất lượng. Chất lượng do vậy có nguy cơ trở nên được xác định bằng sự tồn tại các cơ chế thích hợp của đảm bảo chất lượng.

Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng đảm bảo chất lượng là nói về công tác quản lý tốt, nó là một cách tiếp cận có hệ thống về việc làm những việc đúng với phương pháp đúng và khiến cho chúng trở nên đúng đắn.

Cũng có một vài vấn đề đặt ra ở đây như liệu cơ chế bảo đảm có bảo đảm rằng sinh viên nhận được những gì đưa ra và họ có biết những điều đó. Họ có bảo đảm khách hàng “vui lòng” ? Sứ mạng của một cơ sở giáo dục đại diện cho chất lượng đến mức độ nào?

Thoả mãn khách hàng ở một cơ sở giáo dục đại học là một đánh giá chất lượng đại diện dựa trên các cấp độ thoả mãn của sinh viên được công bố (Maseland et all, 1991). Về thực chất nó là mức độ sản phẩm phù hợp với mong đợi. Sinh viên có rất ít thông tin để thực hiện các so sánh chất lượng và trong thực tế không liên kết trực tiếp giữa sự thoả mãn và chất lượng (Roberts & Higgins, 1992). Sinh viên có thể xác định các nhu cầu ngắn hạn của họ nhưng có thể chưa đủ kiến thức và kinh nghiệm để biết họ cần gì về mặt dài hạn. Vì vậy họ không sẵn sàng để phán đoán nhu cầu của mình có được đáp ứng hay không.

Nhóm thứ tư: Chất lượng đo bằng tính đáng giá đồng tiền

Quan niệm này cân bằng chất lượng với giá trị, cụ thể là giá trị đồng tiền, “sản phẩm chất lượng với giá kinh tế” “chất lượng với mức giá bạn có thể trả” tất cả đều hàm ý một đặc tính “tiêu chuẩn cao” với một giá hạ. Nó là một đối chọi với khẩu hiệu “trả bao nhiêu nhận được bấy nhiêu”. Ý tưởng chất lượng tương đương với cấp độ đặc tính và nó liên quan trực tiếp tới chi phí đưa chúng ta quay trở về với khái niệm đã bị bỏ qua “chất lượng là sự vượt trội”. Nó bỏ qua cuộc cạnh tranh thương hiệu dựa trên giả định cho là thương hiệu bảo đảm chất lượng.

Mặc dù chất lượng thường được quy ra giá trị đồng tiền, nó vẫn được đánh giá thông qua một số tiêu chí như tiêu chuẩn, cấp độ đặc thù hoặc tính đáng tin cậy.

Cốt lõi của quan niệm chất lượng được đo bằng sự đáng giá đồng tiền là khái niệm trách nhiệm. Các dịch vụ công cộng được mong đợi là có trách nhiệm đối với những người đầu tư và với “khách hàng”

Chủ nghĩa cá nhân kinh tế, dưới dạng lực lượng thị trường và cạnh tranh là nền tảng cho mối liên kết chặt chẽ giữa chất lượng và giá trị đồng tiền trong giáo dục đại học. Sứ mệnh bị chi phối bởi thị trường đã dẫn đến một khái niệm chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền. Chính phủ muốn có nhiều người được tham gia giáo dục đại học hơn với một số tiền đầu tư thêm tối thiểu và họ tin rằng thúc đẩy cạnh tranh đầu tư và sinh viên là chìa khoá để đạt được mở rộng giáo dục tiết kiệm chi phí.

Tính hiệu quả được nhìn nhận ở khía cạnh cơ chế kiểm soát, những kết quả đầu ra đo lường được, xếp hạng quan sát của việc dạy học và các hoạt động đánh giá nghiên cứu. Có xu hướng cho rằng về lâu dài thị trường sẽ giám sát việc đảm bảo chất lượng và các cơ sở giáo dục chỉ có nhiệm vụ bảo đảm chất lượng của những gì họ cung cấp. Xu hướng sẽ là nhìn nhận chất lượng như là những cung cấp phù hợp với sứ mệnh của  cơ sở.

Chỉ số hoạt động được phát triển, một phần để giám sát năng lực. Tỉ lệ giảng viên trên sinh viên, bảng thu nhập, nguồn vốn đầu tư, tỉ lệ quỹ công cộng trên tư thục, thị phần và kết quả thi là những thước đo cơ bản về tínhh hiệu quả của cơ sở giáo dục. Chỉ số hoạt động được khuyên dùng để giám sát hệ thống giáo dục đại học và để cho các cơ sở giáo dục đại học giám sát năng lực và hiệu quả của họ. Chỉ số hoạt động được nhắc đến ngày nay như một thứ mốt thời thượng trong giáo dục, tuy nhiên chúng ta cần nhớ rằng chúng chỉ là công cụ được sử dụng để thực hiện một nhiệm vụ và chúng ta không nên nhầm lẫn coi đó là nhiệm vụ.

Chỉ số hoạt động cung cấp một thước đo trách nhiệm cho bộ tài chính. Trách nhiệm đối với khách hàng được gói gọn trong cái gọi là Hiến chương khách hàng.

Hiến chương khách hàng nêu ra những gì khách hàng có thể mong đợi cho số tiền họ trả. Chúng được phát triển công cộng và tư nhân hoá độc quyền để đền bù cho những thiếu hụt trong hoạt động thị trường. Cho tới nay ở Mỹ 18 hiến chương đã được phát triển bao gồm cả Hiến chương Phụ huynh trong đó bao gồm một loạt các tiêu chuẩn nếu đạt được, được coi là đã cung cấp một dịch vụ chất lượng cho “khách hàng”.

Hiến chương thường được liên kết với hoạt động của các cơ quan “theo dõi” để cung cấp cho khách hàng các nguồn tài nguyên nếu họ không nhận được nhiều. Hiến chương cũng có nhiệm vụ thông tin với khách hàng “nhiều” ở đây lên đến bao nhiêu. Chức năng này liên quan đến việc xuất bản các bảng phân loại kết quả như danh sách chờ chứng nhận sức khoẻ, kết quả kiểm tra chương trình học quốc gia…Điều này được cho là giúp khách hàng có nhiều lựa chọn được thông tin hơn.

Hiến chương khách hàng, bảng phân loại và các nhóm “theo dõi” đều được thiết kế để tạo một thị trường ảo để gây ảnh hưởng thay đổi thông qua cạnh tranh. Mức độ của ảnh hưởng của chúng trong giáo dục đại học còn gây nhiều tranh cãi. Chúng có thể thông tin các tiêu chí theo đó sinh viên đánh giá là thoả mãn. Tuy nhiên, vì những hiến chương sinh viên đề nghị đề cập tới những tiêu chuẩn tối thiểu và được thiết lập cho sinh viên nhưng không phải bởi sinh viên, chúng dường như có ít ảnh hưởng tới việc cải thiện hoặc thậm chí duy trì chất lượng.

Nhóm thứ năm: Chất lượng là giá trị chuyển đổi

Quan niệm chất lượng là giá trị chuyển đổi bắt nguồn từ khái niệm “thay đổi chất”, một thay đổi cơ bản về “hình thức”. Băng tan ra thành nước và cuối cùng bốc hơi nếu trải qua một sự tăng nhiệt độ. Trong khi sự tăng nhiệt độ có thể đo đếm được, sự chuyển đổi đòi hỏi một thay đổi về chất.

Khái niệm này cũng đặt ra vấn đề về tính phù hợp của khái niệm mang tính định hướng sản phẩm như là phù hợp với mục tiêu. Không giống như các ngành dịch vụ khác trong đó người cung cấp làm một cái gì đó cho khách hàng, trong giáo dục người cung cấp đang làm một cái gì đó gây ảnh hưởng tới khách hàng. Quá trình chuyển hoá này nhất thiết là một quá trình được thương thuyết và duy nhất trong mỗi trường hợp và cũng tương tự như vậy đối với nghiên cứu. Như vậy giáo dục không phải là một ngành dịch vụ cho khách hàng mà là một quá trình chuyển hoá liên tục cuả người tham gia dù đó là sinh viên hay nhà nghiên cứu. Điều này dẫn đến hai khái niệm về chất lượng chuyển hoá trong giáo dục: thúc đẩy người tiêu thụ và trao quyền lực cho người tiêu thụ.

Một nền giáo dục chất lượng là một nền giáo dục gây ảnh hưởng tới những thay đổi ở những người tham gia và do vậy được cho là sẽ thúc đẩy họ. Các khái niệm giá trị gia tăng về chất lượng cho chúng ta một cách tiếp cận mang tính tổng quát về sự phát triển (Astin, 1985, 1991; Kogan, 1986b; Barnett, 1988; CNAA, 1990; PCFC, 1990a).

Giá trị gia tăng là một thước đo về chất lượng về việc trải nghiệm giáo dục thúc đẩy phát triển kiến thức, năng lực và kỹ năng cuả sinh viên đến mức độ nào (HM Government, 1991, para. 80; HMI, 1990, p.7) Một cơ sở giáo dục đạt chất lượng cao sẽ là một cơ sở giúp phát triển sinh viên một cách mạnh mẽ. Các trường Oxford, Cambridge có thể cho đầu ra các sinh viên ưu tú nhưng đầu vào của họ cũng vốn là những học sinh tốt nghiệp phổ thông xuất sắc, như vậy là giá trị gia tăng của họ không nhiều. Một trường kỹ thuật của thành phố có thể đào tạo ra những kỹ sư giỏi từ những học sinh đầu vào bình thường, không xuất sắc tức là họ đã tạo được một giá trị gia tăng to lớn. Và việc đo lường chính xác giá trị gia tăng là bao nhiêu còn tuỳ vào phương pháp đo lường (Barnett, 1988; CNAA, 1990) và cái được định nghĩa là giá trị ở đây.

Nhiều ý kiến cho rằng, trong việc xác định cái gọi là giá trị gia tăng, người học đóng vai trò trung tâm của quá trình đánh giá việc học. Những phản hồi từ phía người học là một phần quan trọng trong đánh giá. Việc đưa người học vào vị trí trung tâm chuyển trọng tâm từ các biện pháp đo lường giá trị gia tăng sang việc thúc đẩy trao quyền lực cho người học.

Nhân tố thứ hai trong khái niệm chất lượng là giá trị chuyển đổi là sự trao quyền lực (Harvey & Burrows, 1992). Điều này đòi hỏi trao cho người tham gia quyền để gây ảnh hưởng tới sự chuyển đổi của chính họ. Điều này lớn hơn so với trách nhiệm đối với người tiêu thụ chúng ta thấy đề cập đến trong hiến chương khách hàng.

Trao quyền lực cho nhân viên để tư bản hoá kiến thức và kỹ năng của họ là một chiến lược đã được thiết lập từ lâu trong giới kinh doanh (Stratton, 1988). Trao quyền lực cho những người tham gia giáo dục thực hiện hai việc: Thứ nhất là cho phép họ tham gia vào quá trình đưa ra quyết định có ảnh hưởng tới sự chuyển đổi của họ, ví dụ như quyết định phong cách và chế độ truyền tải kiến thức kỹ năng. Thứ hai, bản thân quá trình chuyển đổi tạo cơ hội cho việc tự trao quyền cho mình do đó ảnh hưởng lên quá trình đưa ra quyết định và ảnh hưởng tới người tham gia. Ví dụ sự chuyển hoá giáo dục dẫn đến ý thức và sự tự tin tăng lên, đến lượt việc này ảnh hưởng tới vai trò của người tham gia trong quá trình chuyển hóa và điều này tạo điều kiện cho việc trao quyền lực lớn hơn cho người tham gia. Nó giống như một vòng xoắn ốc liên tục của sự trao quyền lực cho người tham gia bao gồm cả quá trình chuyển đổi.

Có bốn phương pháp để trao quyền lực cho sinh viên. Thứ nhất là thông qua đánh giá của sinh viên. Thứ hai, sinh viên được bảo đảm cung cấp những tiêu chuẩn tối thiểu và được trao trọng trách điều chỉnh như trong ví dụ về hiến chương sinh viên đề cập ở trên. Thứ ba, sinh viên được trao quyền điều khiển toàn bộ việc học của họ. Từ việc cho phép sinh viên chọn chương trình học trong số các lựa chọn nhất định hoặc thông qua việc môđun hoá cho đến việc sinh viên đi vào một sự tiếp xúc môn học. Thứ tư là phát triển năng lực phê phán của sinh viên. Điều này đòi hỏi một đường hướng dạy học vượt ra khỏi phạm vi yêu cầu sinh viên học một khối lượng kiến thức và áp dụng nó theo phép phân tích.

Trong ý cuối cùng của việc trao quyền lực này, chất lượng được nhìn nhận về mức độ hệ thống giáo dục chuyển đổi được năng lực nhận thức và tự ý thức của sinh viên

Việc trao quyền lực cho sinh viên phải nằm ở vị trí trung tâm của văn hoá chất lượng trong giáo dục. Nếu trách nhiệm được giao phó cho các khách hàng, nhà cung cấp, và người điều hành thì sinh viên, những người là một phần không thể tách rời của quá trình chuyển đổi cũng được giao phó trách nhiệm. Tuy nhiên, sự trao quyền lực  không phải chỉ là mong đợi sinh viên làm đúng mọi thứ ngay từ đầu.

Quản lý chất lượng tổng thể là khái niệm đi kèm với các khái niệm như văn hoá chất lượng và sự phù hợp với mục tiêu. Đó là một triết lý với rất nhiều gợi ý thực tiễn cho bản thân nó – sự ghi nhớ và sự thực hiện. Đặc biệt nó là một triết lý có thể được tóm tắt đơn giản như là “làm mọi thứ một cách đúng đắn” để tối đa hoá tính cạnh tranh và lợi nhuận (Juran, 1964;  Crosby, 1979).

Một cách tổng thể quản lý chất lượng bao gồm hai khái niệm về chất lượng: chất lượng là sự nhất quán và chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu. Quản lý chất lượng tổng thể cũng nỗ lực kết hợp khái niệm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu với khái niệm chất lượng là sự hoàn hảo và nó cũng ngầm định trong đó khái niệm chất lượng là tính chuyển hóa. Quản lý chất lượng tổng thể cung cấp một giải pháp đơn giản cho khái niệm chất lượng thông qua sự phù hợp với mục tiêu và bảo đảm chất lượng. Tuy nhiên cũng có không ít khó khăn trong việc thực hiện. Trong việc áp dụng vào giáo dục đại học, trọng tâm giá trị chuyển hoá có thể không đổi nhưng kiểm soát quản lý có thể bị bao trùm bởi một văn hoá chất lượng nhận sự trao quyền lực tới các kết luận logic của nó.

Tómv lại, chất lượng là một khái niệm triết học có nhiều cách định nghĩa khác nhau và ở mỗi cách nó phản ánh quan niệm cá nhân và xã hội khác nhau, không có một định nghĩa nào hoàn toàn đúng về chất lượng. Rất khó có thể nói đến chất lượng như một khái niệm đơn nhất mà nó nên được định nghĩa theo một loạt các khái niệm chất lượng. Và có lẽ tốt nhất là chúng ta nên định nghĩa càng rõ càng tốt các tiêu chí mà mỗi cổ đông sử dụng khi đánh giá chất lượng. Khi đi đến kết luận này cũng có nghĩa là chúng ta đang đi theo hướng dụng học theo đó quyết định một bộ tiêu chí phản ánh các khía cạnh chung về chất lượng và tìm ra những biện pháp thuận tiện để lượng hoá chất lượng.

Nhìn vào những tiêu chí mà những nhóm có mối quan tâm khác nhau đưa ra để đánh giá chất lượng thay vì bắt đầu với một định nghĩa đơn lẻ về chất lượng là một giải pháp thực tế cho một câu hỏi triết học phức tạp. Không phải bởi nó mang tính lý thuyết mà còn bởi vì nó công nhận và ghi nhận quyền của các nhóm có mối quan tâm khác nhau là có cách nhìn khác nhau. Mặt khác nếu chúng ta muốn tìm ra một bộ tiêu chí cốt lõi để đánh giá chất lượng giáo dục đại học chúng ta cần phải hiểu các sự hình thành khái niệm khác nhau về chất lượng thể hiện ưa thích đặc biệt của mỗi nhóm cổ đông khác nhau.

Ghi chú: Tài liệu này được viết trên cơ sở tổng hợp các quan niệm về chất lượng của Harvey và Green, 1993 (Harvey, L., & Green, D. (1993). Defining quality. Assessment and Evaluation in Higher Education, 18, pp. 9-34)./.

Định nghĩa chất lượng giáo dục