092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

Việc nghiên cứu đưa ra được những phương pháp đo lường trách nhiệm xã hội là một vấn đề đặt ra cho các học giả trên toàn cầu trong nhiều năm qua. Đầu tiên phải kể tới Carroll (2000) – người đã khẳng định khả năng đo lường CSP là có thể song việc phát triển những phương pháp đo lường có giá trị và mang lại độ tin cậy cao là điều không dễ dàng. Bên cạnh đó cũng có nhiều những học giả khác đồng tình với quan điểm này, như Wolfe và Aupperle (1991) cho rằng không có đơn thuần chỉ một cách nào đó tốt nhất để có thể đo lường các hoạt động CSR.

Maignan và Ferrell (2000) đã phân loại các phương pháp đo lường trách nhiệm xã hội thành ba loại chính: (1) Đánh giá chủ quan của chuyên gia, (2) Bộ chỉ số, và (3) Khảo sát về quản trị (Maignan và Ferrell, 2000). Phương pháp đầu tiên đánh giá được hiệu quả xã hội của doanh nghiệp dựa trên thông tin do các chuyên gia trong ngành cung cấp.

Ở loại thứ hai là bộ chỉ số, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng các chỉ số khách quan hơn để có thể giảm bớt tính chủ quan vốn có trong phương pháp đo lường dựa trên đánh giá của chuyên gia. Với phương pháp này, chúng ta cũng có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu không thể bao quát được hết tất cả mọi khía cạnh về CSR, ngoài ra còn có các phương pháp chưa được chuẩn hóa trên toàn cầu bởi vậy nó làm giới hạn phạm vi các nhà nghiên cứu khác có thể áp dụng ngay cả khi áp dụng các chỉ số đa vấn đề (Turker, 2009).

Xét về loại thứ ba theo cách phân loại của Maignan và Ferrell (2000), một số học giả sử dụng dữ liệu khảo sát các doanh nghiệp về CSR. Aupperle và các tác giả (1985) đã khảo sát ý kiến của những người tham gia thể hiện mức độ đồng ý hay không đồng ý với 20 tuyên bố về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Từ kết quả thu được, câu trả lời từ phía các doanh nghiệp có thể xem như sự cam kết trách nhiệm của các doanh nghiệp. Song cho tới nay, hầu hết các cuộc khảo sát về CSR đều tập trung nhiều vào hành động CSR để đạt được mục đích cụ thể (Martínez và Del Bosque, 2013). Do vậy, việc đo lường CSR qua việc sử dụng mỗi phương pháp này vẫn gặp hạn chế về tính thực tế áp dụng cho các doanh nghiệp.

Turker (2009) đã mở rộng phân loại cách đo lường CSR với nhiều phương pháp tiếp cận được xem là khả thi hơn cho việc đánh giá CSR: (1) Danh tiếng và Bộ chỉ số, (2) Phân tích nội dung các ấn phẩm của doanh nghiệp, (3) Đo lường CSR ở cấp độ cá nhân, (4) Đo lường CSR ở cấp độ tổ chức.

Danh tiếng và bộ chỉ số: Đây được coi là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá hoạt động CSR của doanh nghiệp. Danh tiếng của một doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn tới doanh số sản phẩm, có được danh tiếng tốt thì doanh nghiệp mới có thể tạo dựng được niềm tin đối với khách hàng hiện tại và thu hút khách hàng tiềm năng. Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận này để từ đó đưa ra được những mô hình đo lường hoạt động CSR, trong đó phải kể đến dữ liệu KLD (Kinder, Lydenberg và Domini) và bộ dữ liệu đầu tư xã hội Canada (Canadian Social Investment Database- CSID). KLD được đưa ra vào năm 1989 bởi Peter Kinder, Steve Lydenberg và Amy Domini, áp dụng cho các công ty đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán của Mỹ và dựa trên cơ sở là 8 thuộc tính của các hoạt động xã hội như Quan hệ công chúng, Quan hệ nhân viên, Môi trường, Sản phẩm, Đối xử với phụ nữ và người dân tộc thiểu số. Với các thuộc tính phục vụ cho việc đo lường CSR, KLD đã tạo nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu sau về thang đo cho CSR. Ngoài KLD, CSID cũng là một bộ dữ liệu được áp dụng rộng rãi bởi nó có thể đo lường được tổng của trung bình độ mạnh, yếu của doanh nghiệp với 7 khía cạnh: Cộng đồng, Tính đa dạng, Mối quan hệ nhân viên, Môi trường, Hợp tác quốc tế, Sản phẩm và thực tiễn kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp (Mahoney và Thorne, 2005). Tương tự như bộ dữ liệu KLD chỉ dành cho doanh nghiệp Hoa Kỳ, CSID cũng chỉ giới hạn việc áp dụng trong phạm vi lãnh thổ nhất định mà cụ thể ở đây là những công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Canada. Có thể thấy, từ hai bộ dữ liệu điển hình trong phương pháp đo lường CSR dựa vào chỉ số và danh tiếng đều đưa ra được những kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng tới CSR của doanh nghiệp, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động CSR. Tuy nhiên, để xây dựng một mô hình đo lường trách nhiệm xã hội đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần có những khảo sát thực tế từ các bên liên đới về lợi ích, vừa kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng (Turker, 2009; Maignan và Ferrell, 2000).

Phân tích nội dung: Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm tới hoạt động CSR và các báo cáo công khai thông tin về thực hiện hoạt động liên quan tới môi trường, cộng đồng, nhân viên hay người tiêu dùng. Chính vì vậy, việc sử dụng phương pháp này trong các nghiên cứu về hoạt động CSR của một doanh nghiệp dường như là không thể thiếu được đối với các công ty có công bố thông tin CSR. Với phương pháp này, hoạt động của công ty được đánh giá khách quan hơn bởi những đóng góp xã hội được thể hiện trên báo cáo và quá trình đánh giá được tiêu chuẩn hóa (Ruf và các tác giả, 1998). Song chất lượng thông tin về hoạt động CSR được công bố phụ thuộc vào mức độ tự nguyện và trung thực của doanh nghiệp. Đây là một vấn đề đặt ra cho nghiên cứu dựa vào phương pháp đo lường này bởi những thông tin trong các bản công bố của doanh nghiệp khi sai lệch với thực tế sẽ làm cho người tiếp nhận thông tin lầm tưởng về công ty đó với những hình ảnh tốt đẹp (Turker, 2009). Trong phương pháp này, sự minh bạch và trách nhiệm giải trình – là yếu tố then chốt trong cơ chế quản trị, là một nền tảng quan trọng cho các mối quan hệ giữa lãnh đạo doanh nghiệp, các cổ đông với các bên liên đới về lợi ích khác của công ty – trở thành tiêu chí số một để đo lường về CSR. Do vậy, nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp này không nên đánh đồng công bố thông tin CSR với hoạt động truyền thông CSR nhằm xây dựng hình ảnh công ty.

Ngoài nguồn dữ liệu từ ẩn phẩm của doanh nghiệp thì một số nghiên cứu còn kết hợp giữa những ấn phẩm đó và những nguồn dữ liệu khác đến từ các trang web uy tín. Lattemann và các tác giả (2009) trong nghiên cứu về tần suất công bố thông tin CSR của các công ty đa quốc gia tại Trung Quốc và Ấn Độ đã sử dụng mô hình bao gồm các yếu tố cấp quốc gia, ngành và cấp công ty để dự đoán về tần suất công bố thông tin về CSR, một thước đo tượng trưng cho CSR. Các nguồn công bố thông tin về CSR bao gồm các trang web từ công ty, báo cáo hàng năm, các tài liệu công khai có sẵn trên Internet và những thông tin liên quan tới các bên liên đới (Esrock và Leichty, 2000). Các tập đoàn lớn có những hoạt động truyền thông rộng khắp về CSR nhằm tạo dựng hình ảnh tích cực, đảm bảo tính hợp pháp và nhận được sự ủng hộ từ các bên liên đới (Adams và các tác giả, 1998, Esrock và Leichty, 1998). Đo lường hoạt động CSR trên thực tế rất khó khăn hoặc không thể đo được trên cơ sở định lượng với quy mô lớn, bởi vậy việc sử dụng biện pháp trên có thể giải quyết phần nào những hạn chế này (Lattemann và các tác giả, 2009).

Đo lường CSR ở cấp độ cá nhân: Trong các nghiên cứu liên quan, hầu hết các học giả đưa ra được các thang đo về nhận thức của cá nhân người quản lý doanh nghiệp về CSR ví dụ như thang đo giá trị CSR cá nhân của người quản lý theo mô hình bốn yếu tố của Carroll (2000). Những thang đo từ phương pháp này đã đưa cho người đọc những hiểu biết sâu hơn về sự đa chiều của CSR. Lần lượt tiếp nối sau sự phát triển của công trình nghiên cứu thang đo này, các học giả tiếp tục có những thang đo khác như đo lường thái độ của nhà quản lý về CSR (Quazi và O’brien, 2000), đo lường nhận thức về vai trò của đạo đức và trách nhiệm xã hội trong việc đạt được hiệu quả tổ chức (Singhapakdi và các tác giả, 1996). Quazi và O’brien (2000) đã xây dựng một thang đo dựa trên mô hình hai chiều bao gồm phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp và kết quả thực hiện cam kết về mặt xã hội của doanh nghiệp (Turker, 2009). Thang đo này có được ưu điểm vượt trội về đo lường nhận thức của cá nhân trong nhiều bối cảnh kinh tế và những nền văn hóa khác nhau song việc có thể đo lường được mức độ nhận thức ở cấp độ tổ chức lại là một yếu điểm lớn bởi điều này là rất khó thực hiện.

Ở cấp độ tổ chức, Maignan và Ferrell (2000) và Turker (2009) đã xây dựng các thang đo đo lường hành vi của tổ chức liên quan tới khái niệm công dân doanh nghiệp và CSR. Đầu tiên, thang đo của Maignan và Ferrell (2000) được thiết kế dựa trên cơ sở phân chia trách nhiệm của Carroll (1979) và lý thuyết quản trị các bên liên quan với ba bên liên đới chủ yếu là người lao động, khách hàng và công chúng. Nghiên cứu đã phát triển nên một phương pháp đo lường bốn chiều gồm các yếu tố liên quan đến khái niệm công dân doanh nghiệp về kinh tế, pháp lý, đạo đức và sau đó đã kiểm nghiệm tại hai quốc gia khác nhau là Mỹ và Pháp. Song việc chỉ với ba bên liên đới được xét trong quá trình đo lường CSR là một trong những hạn chế chính của thang đo này. Từ đó, Turker (2009) đã phát triển một thang đo CSR để đánh giá hành vi CSR liên quan tới sự đa dạng của các bên liên đới. Qua phân tích thang đo CSR cho thấy một cấu trúc bốn chiều: (1) CSR liên quan đến nhân viên, (2) CSR liên quan đến khách hàng, (3) CSR liên quan đến chính phủ, (4) CSR liên quan đến các bên liên đới khác. Tuy vậy, thang đo của Turker (2009) được xây dựng trên khía cạnh về hành vi; mặc dù đã được thử nghiệm đối với nhân viên, nhưng lại chưa được thử nghiệm đối với giám đốc điều hành. Do vậy, về cấp độ tổ chức, phương pháp này vẫn cần được xem xét để tiếp tục được hoàn thiện.

Điểm qua một số những phương pháp đo lường CSR đã được nêu ở trên, có thể thấy rằng các phương pháp đo lường đều có những đóng góp rất lớn với khái niệm CSR cả về mặt lý thuyết và thực tiễn. CSR vẫn còn là một khái niệm gây khá nhiều tranh cãi, với những nhiều luồng ý kiến khác nhau thậm chí trái chiều, những chủ thuyết khác nhau. Và điều tất yếu là từ đó cho ra những phương pháp đo lường CSR khác nhau, mô hình đo lường ở các mảng riêng biệt về CSR cũng khác nhau. Chính vì vậy, các phương pháp không thể tránh khỏi những giới hạn như không gian, thời gian, chủ thể, môi trường, con người, văn hóa. Điều này tạo ra nhiều khoảng trống nghiên cứu về chủ đề CSR.

Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

Tên 200+ đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế dễ đạt điểm cao

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế là bài luận cuối khóa của học viên thạc sĩ theo học ngành luật kinh tế. Đòi hỏi phải có giá trị cao về mặt ý nghĩa giả thuyết khoa học và ý nghĩa thực tiễn giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Trên cơ sở áp dụng nền tảng từ luật học kết hợp với kiến thức trong lĩnh vực kinh tế, thương mại để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý, tổ chức kinh tế của nhà nước và trong hoạt động sản xuất giữa các chủ thể kinh doanh với nhau.

Để có thể hoàn thành bài luận một cách hiệu quả, đáp ứng đủ các yêu cầu trên, nghiên cứu sinh cần trang bị thật tốt cho mình ngay từ những ý tưởng nền tảng. Bắt đầu bằng việc lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế. Cùng tham khảo 200+ Đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế dễ đạt điểm cao của Luận Văn A-Z, chắc chắn sẽ rất hữu ích đối với bạn!

Bộ 200+ Luận Văn Thạc Sĩ Luật Kinh tế dễ đạt điểm cao các bạn có thể Download tại đây

DANH SÁCH CÁC LUẬT VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ TRONG BỘ TÀI LIỆU NÀY:

18 đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật Bảo hiểm

  1. Bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam
  2. Chế độ hưu trí theo luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 ở Việt Nam hiện nay
  3. Chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội – Thực trạng tại thành phố Hà Nội
  4. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phòng, chống trục lợi bảo hiểm trong kinh doanh bảo hiểm tài sản
  5. Pháp luật lao động về người khuyết tật
  6. Pháp luật thu bảo hiểm xã hội bắt buộc từ thực tiễn với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại tỉnh Quảng Ninh
  7. Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh
  8. Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh
  9. Pháp luật về bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
  10. Pháp luật về Bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết từ xa
  11. Pháp luật về Quản lý nguồn thu theo Quỹ Bảo hiểm xã hội và thực tiễn áp dụng tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Ninh
  12. Pháp luật về thu bảo hiểm xã hội và thực tiễn áp dụng tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
  13. Pháp luật về thu Bảo hiểm y tế và thực tiễn áp dụng tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
  14. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại BHXH tỉnh Quảng Ninh
  15. Thực tiễn xử lý doanh nghiệp vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
  16. Vấn đề trục lợi bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay qua thực tiễn tại Ninh Thuận
  17. Xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam
  18. Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

30 đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật Đất đai

  1. Áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân các cấp ở tỉnh Hà Tĩnh
  2. Bất cân xứng thông tin và Tự do ý chí trong Hợp đồng mua bán Căn hộ chung cư
  3. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định
  4. Chế định sở hữu nhà ở tại Việt Nam đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài
  5. Cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
  6. Định giá đất bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam
  7. Giải quyết bất đồng trong thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn thành phố Cà Mau
  8. Giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam hiện nay
  9. Hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng thuế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà
  10. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Thành phố Uông Bí
  11. Hợp đồng thế chấp Nhà ở hình thành trong tương lai theo pháp luật Việt Nam
  12. Nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất khi được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân
  13. Pháp luật thế chấp, xử lý tài sản thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai
  14. Pháp luật và thực tiễn về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật tại huyện Bình Chánh, HCM
  15. Pháp luật về bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất cho dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 18A
  16. Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh
  17. Pháp luật về giao đất tại Việt Nam
  18. Pháp luật về phát triển nhà ở xã hội tại Việt Nam
  19. Pháp luật về quản lý, sử dụng nhà chung cư qua thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh
  20. Pháp luật về quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế trong nước
  21. Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất từ thực tiễn tại Tỉnh Quảng Ninh
  22. Pháp luật về thế chấp và mua bán nhà ở hình thành trong tương lai
  23. Thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam hiện
  24. Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
  25. Thực thi pháp luật về giải quyết khiếu nại về lĩnh vực đất đai tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
  26. Thực tiễn giải quyết yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả tạo ở Bến Tre
  27. Thực trạng thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị trên địa bàn tỉnh Bến Tre
  28. Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án qua thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
  29. Trình tự, thủ tục tách thửa đất theo pháp luật đất đai hiện nay từ thực tiễn huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
  30. Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất để bảo đảm tiền vay ngân hàng từ thực tiễn xét xử tại TADN thành phố Hà Nội

10 đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật Đầu tư

  1. Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư
  2. Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
  3. Các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
  4. Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong EVFTA – Thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam
  5. Hội đồng nhân dân trong đầu tư công tại Cà Mau
  6. Pháp luật Đầu tư theo hình thức đối tác Công – Tư
  7. Pháp luật về bán đấu giá tài sản – Thực trạng áp dụng tại Cà Mau
  8. Pháp luật về chuyển nhượng dự án đầu tư trong kinh doanh bất động sản từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình
  9. Pháp luật về kiểm soát hoạt động đầu tư vốn vào công ty con, công ty liên kết của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
  10. Xử lý vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

13 đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật Hành chính

  1. Địa vị pháp lý hành chính của Ban Quản lý các khu công nghiệp – Từ thực tiễn tỉnh Hải Dương
  2. Kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
  3. Nghiên cứu xây dựng khung pháp lý về tiền ảo tại Việt Nam
  4. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
  5. Quản lý nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị
  6. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
  7. Thực hiện pháp luật về đạo đức công vụ từ thực tiễn huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
  8. Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ
  9. Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Cà Mau
  10. Vai trò của hiến pháp đối với dân chủ tại Việt Nam
  11. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng ở Việt Nam hiện nay
  12. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp – từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế
  13. Xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam hiện nay

29 đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật tố tụng Dân sự

  1. Bán đấu giá tài sản theo pháp luật Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
  2. Bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam với việc Việt Nam gia nhập công ước Berne
  3. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra theo quy định của pháp luật Việt Nam
  4. Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
  5. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội
  6. Chế tài do vi phạm hợp đồng xây dựng theo pháp luật Việt Nam
  7. Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay
  8. Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay
  9. Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện Quảng Nam
  10. Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại
  11. Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo thủ tục rút gọn tại Việt Nam
  12. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng cho vay tại các tổ chức tín dụng từ thực tiễn xét xử tại TAND
  13. Giao kết và thực hiện hợp đồng tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí
  14. Giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện
  15. Hòa giải tranh chấp dân sự ở Việt Nam
  16. Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự – Nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh
  17. Hủy đề nghị giao kết hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015
  18. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
  19. Người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng ở Việt Nam
  20. Những rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử tại Việt Nam và giải pháp phòng ngừa
  21. Những vấn đề pháp lý về trách nhiệm sản phẩm –  Thực tiễn và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam
  22. Pháp luật trách nhiệm sản phẩm và những vấn đề đặt ra trong việc thực thi tại Quảng Ninh
  23. Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
  24. Pháp luật về nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không, sân bay tại Việt Nam
  25. Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận
  26. Pháp luật về thỏa thuận bảo mật thông tin và không làm việc cho đối thủ cạnh tranh
  27. Pháp luật về xử lý tài sản đảm bảo tiền vay tại các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh
  28. Thực thi pháp luật hợp tác xã tại các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre
  29. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng từ thực tiễn ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

51 đề tài Luận văn Thạc sĩ Pháp luật Doanh nghiệp

  1. A Law and Economics Approach to Problem of International Human Right Law
  2. Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế chấp tài sản của bên thứ ba trong hoạt động cấp tín dụng và thực tiễn
  3. Bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng – Pháp luật và thực tiễn
  4. Bảo vệ quyền lao động nữ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thi hành tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
  5. Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp
  6. Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
  7. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản qua thực tiễn tỉnh Bến Tre
  8. Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
  9. Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử của TAND
  10. Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
  11. Chế định ban kiểm soát của Công ty Cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2005
  12. Chế định người đại diện của doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
  13. Chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
  14. Chính sách và pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại biên mậu Việt Nam Trung Quốc
  15. Cơ chế pháp lý ràng buộc nghĩa vụ của nhà thầu nước ngoài trong hợp đồng thiết kế xây dựng
  16. Đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
  17. Điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
  18. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bởi người sử dụng lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay
  19. Enforcement under the Global Climate Regime – Reflections on the Design and Experience
  20. Exploring Perceptions of Cultural Difference in IRB Family Sponsorship Decisions
  21. Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An
  22. Giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam
  23. Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
  24. Hòa giải các tranh chấp hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam
  25. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam
  26. Hoàn thiện pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam
  27. Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam
  28. Hợp đồng chuyển nhượng nhà ở theo pháp luật Việt Nam hiện nay, từ thực tiễn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
  29. Kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay
  30. Người đại diện doanh nghiệp và các quy định liên quan – một nghiên cứu so sánh
  31. Nhóm công ty – pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam
  32. Pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên từ thực tiễn thành phố Hà Nội
  33. Pháp luật về doanh nghiệp xã hội
  34. Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ TTTH tại tỉnh Quảng Ninh
  35. Pháp luật về kế toán doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Hà Nội
  36. Pháp luật về kinh doanh lữ hành.doc”
  37. Pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch.doc”
  38. Pháp luật về mua bán doanh nghiệp
  39. Pháp luật về quảng cáo và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bến Tre
  40. Pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô – qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương
  41. Pháp luật về trọng tài thương mại – các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng tại Việt Nam
  42. Pháp luật về xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng NN&PTNT
  43. Pháp luật Việt Nam về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
  44. Quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật Việt Nam hiện nay
  45. Quy định của Luật Cạnh tranh đối với hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
  46. Quy định pháp luật Việt Nam về hoạt động nuôi chim yến từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận
  47. Quyền của người khuyết tật trong việc thành lập doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam
  48. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng lao động – kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt Nam
  49. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án trên địa bàn tỉnh Bến Tre
  50. Trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp, kinh nghiệm ở một số quốc gia và đề xuất hoàn thiện cho Việt Nam
  51. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam

Tên 200+ đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế

Khái quát về lòng trung thành

Khái quát về lòng trung thành

Hiện nay không ch tại Việt Nam mà các nước trên thế giới các nghiên cứu về lòng trung thành của nhân viên luôn thể hiện được vai trò của nó trong việc hỗ trợ quản trị nhân sự trong không ch cho các doanh nghiệp mà còn trong các tổ chức công quyền phi chính phủ….

Hiện nay có nhiều khái niệm liên quan đến sự trung thành. Theo từ Niehoff Moorman và Fuller 2001 thì lòng trung thành là những biểu hiện mang tính chủ động về lòng tự hào và sự tận tâm với tổ chức. ên cạnh đó theo llen & Meyer 1991 là điều kiện tâm lý phản ánh mối quan hệ của cá nhân với tổ chức.

Theo Porter et al 1979 thì sự trung thành sự tương quan giữa mỗi cá nhân với tổ chức và nó có sự tin tưởng mạnh đối với mục tiêu giá trị của tổ chức và sẵn sàng nỗ lực có thể để phục vụ tổ chức và có mong muốn lơn lao để tiếp tục được làm việc tại tổ chức.

Theo một quan điểm khác thì lòng trung thành được xem như là một hình thức cam kết quả nhân viên với tổ chức nó yêu cầu những hành động của người nhân viên có sự quan tâm hơn đối với ông chủ hoặc công ty Elegido 2013.

Trung thành có thể là một yếu tố thành phần của cam kết tổ chức cũng có thể là một khái niệm độc lập. llen & Mayer 1990 chú trọng ba trạng thái tâm lý của nhân viên khi gắn kết với tổ chức. Nhân viên có thể trung thành với tổ chức xuất phát từ tình cảm thực sự của họ; họ sẽ ở lại với tổ chức d có nơi khác trả lương cao hơn điều kiện làm việc tốt hơn; họ có thể trung thành với tổ chức ch vì họ không có cơ hội kiếm được công việc tốt hơn; và họ có thể trung thành với tổ chức vì những chuẩn mực đạo đức mà họ theo đuổi. ook & Wall 1980 quan tâm đến các khía cạnh hành vi của nhân viên. Theo Mowday và cộng sự (1979), trung thành là ý định hoặc mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức . ịnh ngh a nổi tiếng của Mowday về lòng trung thành tương tự như khái niệm uy trì trong các nghiên cứu ở phạm vi quốc gia trong nhiều năm liền của Viện on onsulting: Nhân viên có ý định ở lại lâu dài c ng tổ chức doanh nghiệp; sẽ ở lại c ng tổ chức doanh nghiệp mặc d có nơi khác có lời đềnghị lương bổng tương đối hấp dẫn hơn Stum 1999; 2001 . Theo Johnson 2005 nhân viên trung thành với nghề nghiệp của họ hơn trung thành với nhà tuyển dụng và bản chất trong quan hệ giữa nhân viên và nhà tuyển dụng đ có những thay đổi căn bản và cần đánh giá lại khái niệm trung thành Trần Thị Kim ung & Nguy n Thị Mai Trang, 2007, tr.19-20)

Ở Việt Nam sự xuất hiện của hàng loạt nhà đầu tư nước ngoài và các ngân hàng đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao sau khi Việt Nam gia nhập WTO càng làm cho thị trường lao động nóng hơn. Nhân viên đưa ra các yêu cầu để họ có thể trung thành với công ty. Một số nhân viên coi thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm. Nhiều nhân viên khác lại mong muốn có cơ hội học h i phát triển bản thân. Một số nhà quản lý thì cho rằng họ mong muốn có những nhân viên gi i trong ba năm còn hơn có nhân viên ở lại với công ty suốt đời nhưng năng lực kém cỏi.

Như vậy có thể hiểu: Lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức được hiểu là sự tin tưởng của nhân viên đối với tổ chức, đối với người chủ của mình, đồng thời cũng thể hiện sự tin tưởng của họ đối với các mục tiêu, giá trị của tổ chức mình đang làm việc.

Khái quát về lòng trung thành

Tổng quan các khái niệm về dịch vụ

Từ điển Bách Khoa Việt Nam đứa ra khái niệm về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”. Tuy nhiên, có thể thấy cách định nghĩa này vẫn còn khái quát, chưa thể trình bày được tính chất khác biệt giữa những loại hình dịch vụ khác nhau.

Theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402:1999: “dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp”

Theo Adam Smith, “dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ opera, vũ công…Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra”. Adam Smith muốn nhấn mạnh vào yếu tố “không tồn trữ được”, có nghĩa là “sản phẩm dịch vụ” được “sản xuất” và “tiêu thụ” đồng thời. Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo các định nghĩa về dịch vụ từ nghiên cứu của Zeithavà  Britner (2000); Gronross (2007) như sau:

– Zeitha & Britner: “dịch vụ là những hành động, tiến trình, cách thức thực hiện một công việc nhằm tạo ra giá trí cho khách hàng thông qua việc làm thỏa mãn một nhu cầu và mong đợi nào đó từ khách hàng”

– Gronroos: “dịch vụ là một quá trình bao gồm một loạt các hành vi ít nhiều có mang tính chất vô hình, thường được diễn ra trong sự tương tác giữa khách hàng và người cung cấp”

Như vậy, từ việc tổng hợp những khái niệm chung về dịch vụ và diễn giải tham khảo đã nêu, có thể xác định được một mô tả chung về dịch vụ: là một hoặc một loạt các hành vi, có tính chất vô hình, liên quan đến sự tương tác, trao đổi giữa doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và khách hàng (người sử dụng dịch vụ). Mục đích là thỏa mãn những mong đợi, những nhu cầu mà khách hàng yêu cầu.

Tổng quan các khái niệm về dịch vụ

Khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng

Có thể định nghĩa “Quản trị chuỗi cung ứng” là những việc làm để tác động đến hoạt động của CCƯ và đạt được kết quả như mong muốn. Dưới đây là một vài định nghĩa của quản trị chuỗi cung ứng:

Theo Mentzer. Dewitt, Keeber, Min, Nix, Smith và Zacharia (2001) – Defining Supply Chain Management, Quản trị CCƯ là sự phối hợp một cách có chiến lược và có hệ thống giữa những chức năng kinh doanh truyền thống và những chiến thuật xuyên suốt trong phạm vi một công ty, với mục đích cải thiện kết quả kinh doanh dài hạn của các công ty đơn lẻ cũng như toàn bộ CCƯ .

Theo Michael H. Hugos (2011) – Essentials of Supply Chain Management, quản lý chuỗi cung ứng là sự kết hợp của sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm và vận tải giữa các bên tham gia trong một chuỗi cung ứng để đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa phản ứng với thị trường và hiệu quả kinh doanh để phục vụ thị trường tốt nhất.

Tóm lại, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động hậu cần truyền thống như là mua sắm, phân phối, bảo dưỡng và quản lý hàng tồn kho đồng thời bổ sung thêm các hoạt động như marketing, phát triển sản phẩm mới, tài chính, dịch vụ khách hàng, tất cả được xem như một phần thiết yếu để phục vụ yêu cầu của khách hàng.

Quản trị CCƯ coi CCƯ và các tổ chức trong nó là những thực thể đơn lẻ, mang lại những giải pháp hệ thống cho việc tìm hiểu và quản lý các hoạt động khác nhau, cần thiết cho việc nối kết dòng sản phẩm và dịch vụ để phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Các yêu cầu khác nhau của chuỗi cung ứng thường đòi hỏi những thứ đối lập nhau, nhưng khi những yêu cầu này đặt chung với nhau thì mới có có thể tìm ra cách để cân bằng những đòi hỏi khác nhau một cách hiệu quả nhất.

Khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng

Định nghĩa về chuỗi cung ứng

CCU cho đến nay đã không còn là một chủ đề quá mới lạ, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều khía cạnh, cách tiếp cận khác nhau, vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chuỗi cung ứng”. Cụ thể,

Theo tác giả Ganeshan và cộng sự (1995) cho rằng CCU là mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng.

Theo Chopra và Meindl (2001) nhận xét rằng CCU bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. CCU không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng.

Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về CCU, có thể kết luận rằng CCU bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến khi cung cấp cho khách hàng cuối cùng. Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng.

Định nghĩa về chuỗi cung ứng

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Thị trường mua bán nợ, tài sản xấu của Trung Quốc có thể được chia ra thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Ở thị trường sơ cấp, các công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) mua bán nợ tiến hành mua lại nợ xấu của các ngân hàng sau đó tiến hành xử lý, một phần được xử lý trực tiếp, một phần được bán lại trên thị trường thứ cấp, ở đó có sự tham gia của các thành phần chủ yếu là các DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước, tổ chức đầu tư nước ngoài, các tổ chức trung gian khác [53].

– Thị trường sơ cấp

Trong thị trường sơ cấp, đối tượng giao dịch của các ngân hàng thương mại chỉ có 4 AMC Nhà nước, chiếm vị trí độc quyền. Đến cuối năm 2008, đa phần các ngân hàng thương mại quốc doanh của Trung Quốc đã hoàn thành quá trình xử lý nợ xấu, đồng thời thực hiện niêm yết lên sàn giao dịch.

Tuy nhiên, thực tế là các AMC trên thị trường sơ cấp sẽ ngày càng ít tham gia vào việc mua lại các khoản nợ xấu của các ngân hàng, 4 AMC lớn của Trung Quốc đều đang trong giai đoạn chuyển đổi, việc mua tài sản xấu không còn là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, “tối đa hóa lợi nhuận” mới là mục tiêu mà các công ty này đang phải đối mặt.

– Thị trường thứ cấp

Nợ xấu chưa được xử lý sẽ được các AMC bán lại trên thị trường thứ cấp. Trên thị trường mua bán nợ Trung Quốc có một số nhà đầu tư năng động, những nhà đầu tư này không chỉ mua lại tài sản xấu mà còn thông qua phân tách, chỉnh lý sau đó bán lại trên thị trường tài sản. Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường mua bán nợ thứ cấp ở Trung Quốc hiện nay chủ yếu là một số DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước, các tổ thức đầu tư nước ngoài và các Quỹ đầu tư.

Trên thị trường mua bán nợ thứ cấp, DNNN chiếm trên 40% tổng lượng giao dịch, các doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ từ 20%-30%, quy mô đầu tư của các tổ chức nước ngoài chiếm khoảng 10% – 20%, các quỹ đầu tư chiếm khoảng 20% tổng quy mô thị trường thứ cấp. Trên thực tế, cùng với đặc điểm công việc xử lý tài sản xấu của 4 AMC lớn ngày càng tiếp cận đến giai đoạn cuối, những tài sản xấu còn lại thông thường sẽ ngày càng khó xử lý, lợi nhuận cũng tương đối thấp hơn. Với tình trạng này, sẽ tạo điều kiện phát triển mới cho thị trường mua bán tài sản xấu thứ cấp, sự xuất hiện của các hình thức phân tách, chia nhỏ tài sản sẽ tạo điều kiện cho các thành phần không có tiềm lực tài chính bằng các DNNN tham gia thị trường. Ngoài ra, mức độ mở cửa và các dịch vụ toàn diện của thị trường đã đáp ứng được nhu cầu của một lượng lớn các doanh nghiệp ngoài nhà nước đầu tư vào tài sản xấu, cung cấp những điều kiện có lợi cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong việc nâng cao năng lực xử lý những tài sản xấu có mức độ rủi ro cao, có tác dụng rõ ràng trong cả việc nâng cao tỉ lệ thu hồi và giá trị gia tăng thu được trong quá trình xử lý nợ xấu.

Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc

Đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp xã hội

Quan niệm về Doanh nghiệp xã hội ở mỗi quốc gia đều có sự khác biệt nhất định. Do đó, những đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội cũng được nhận thức ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có thể tổng hợp một số những đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp xã hội được thừa nhận rộng rãi như sau [27,6-8]:

Doanh nghiệp xã hội phải có hoạt động kinh doanh

Đã là doanh nghiệp là phải có hoạt động kinh doanh. Chính hoạt động kinh doanh này khiến DNXH khác với các tổ chức phi chính phủ, quỹ từ thiện hay các tổ chức thiện nguyện thuần túy hoạt động chủ yếu dựa vào sự tài trợ và lòng hảo tâm. Và do vậy, mô hình và chiến lược kinh doanh là không thể thiếu đối với các DNXH bởi nó đều chịu chi phối của quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh của thị trường. Vì thế, các DNXH đều phải cạnh tranh bình đẳng và công bằng với các doanh nghiệp truyền thống trong cùng lĩnh vực. Điều này tạo ra sự khác biệt giữa DNXH với các tổ chức phi chính phủ, từ thiện khác khi chủ yếu kêu gọi sự tài trợ và ủng hộ từ các cá nhân và tổ chức bên ngoài. Tuy nhiên, việc tạo ra lợi nhuận nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội trong khi vẫn phải tuân thủ quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu của thị trường khiến các Doanh nghiệp xã hội phải nỗ lực hết mình cung cấp các sản phẩm dịch vụ có chất lượng với giá cả cạnh tranh. Để giải quyết những khó khăn này đòi hỏi các DNXH cần có những giải pháp kinh doanh gắn liền với các sáng kiến xã hội. Sáng kiến xã hội chính là các giải pháp kinh doanh sáng tạo để tạo ra giá trị kinh tế đồng thời vẫn giải quyết được các vấn đề xã hội và môi trường. Vì thế sáng kiến xã hội được coi là một trong những yếu tố quan trọng làm nền tảng để các DNXH thúc đẩy hoạt động kinh doanh của mình một cách hiệu quả.

Trên thực tế, để DNXH hoạt động có hiệu quả là một thách thức khá lớn. Tuy nhiên, điều này cũng giúp các DNXH chủ động trong hoạt động kinh doanh, tạo ra lợi nhuận để thực hiện các mục tiêu xã hội/ môi trường mà mình theo đuổi. Mặc dù có thể lợi nhuận tạo ra không đủ chi phí để thực hiện các mục tiêu này nhưng DNXH cũng vẫn có thể dựa vào một phần từ các nguồn tài trợ để theo đuổi mục tiêu mà mình cam kết. Nhưng chủ yếu việc hoạt động với tư cách doanh nghiệp giúp các DNXH có thể chủ động trong việc thực hiện sứ mệnh mà mình đã theo đuổi.

Doanh nghiệp xã hội phải đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu

Một trong những đặc trưng cơ bản giúp phân biệt DNXH với các doanh nghiệp truyền thống đó là mục tiêu của hoạt động kinh doanh. Nếu như các doanh nghiệp truyền thống đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết thì DNXH đặt mục tiêu xã hội làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình.

Một doanh nghiệp truyền thống có thể sản xuất, cung cấp các sản phẩm dịch vụ phục vụ đời sống người dân và cộng đồng hoặc có thể sử dụng các giải pháp xã hội trong chiến lược kinh doanh của mình và tạo ra những tác động xã hội tích cực nhưng tất cả những điều đó là để nhằm đạt mục tiêu mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Còn ngược lại, DNXH sử dụng hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu xã hội, mang lại lợi ích cho cộng đồng theo những gì mà mình đã cam kết.

Xem thêm: Khái niệm Doanh nghiệp xã hội

Như vậy có thể thấy sự khác nhau trong hoạt động kinh doanh giữa DNXH và doanh nghiệp truyền thống, đó là ở điểm khởi phát doanh nghiệp và mục tiêu kinh doanh cần đạt được. Ở doanh nghiệp truyền thống, khởi phát hoạt động kinh doanh là từ việc phát hiện nhu cầu của khách hàng để sáng tạo, phát triển sản phẩm nhằm thu được lợi nhuận cao nhất cho chủ sở hữu. Còn DNXH bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình từ việc phát hiện các vấn đề xã hội để phát triển các hoạt động kinh doanh nhằm giải quyết các vấn đề ấy. Rõ ràng lý do bắt nguồn kinh doanh và mục tiêu cuối cùng cần đạt được của DNXH có sự khác biệt với doanh nghiệp truyền thống. Đó cũng là mặt rất tích cực của loại hình doanh nghiệp này. Vì thế, cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện để DNXH ngày càng phát triển và phát huy hết những lợi ích mà nó mang lại cho xã hội, cộng đồng. Trong đó, các vấn đề xã hội thường được quan tâm là bảo vệ giá trị văn hóa, tôn trọng các quan hệ xã hội, bảo vệ môi trường, cứu trợ, quyên góp, hỗ trợ đối tượng gặp khó khăn, giải quyết các xung đột trong gia đình, cộng đồng…hoặc làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Nghĩa là các DNXH góp phần bảo vệ và phát huy những điều hay, lẽ phải và những giá trị xã hội đáng quý.

Lợi nhuận phân phối chủ yếu cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội, vì cộng đồng

Như đã phân tích, một trong những đặc điểm cơ bản của DNXH đó là việc đặt mục tiêu xã hội lên trên mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu.Vì thế, đương nhiên lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu phục vụ việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Do đó, đối với các doanh nghiệp truyền thống, lợi nhuận sau cùng sẽ thuộc về chủ sở hữu. Trong khi đó, lợi nhuận của DNXH sẽ được tái đầu tư, phân phối trở lại cho các hoạt động mang tính xã hội của tổ chức hoặc cho cộng đồng là những đối tượng được hưởng lợi.

Như vậy, lợi nhuận của DNXH không đổ về bất kỳ cá nhân nào. Lợi nhuận này là để mang lại lợi ích cho cộng đồng. Vì thế, việc tái phân phối lợi nhuận là một trong những cơ sở để phân biệt doanh nghiệp truyền thống và DNXH. Đây cũng là một trong những điều kiện để xác định DNXH mà điều 10 Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014 đã quy định, trong đó sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

Phục vụ nhu cầu của cộng đồng người yếu thế trong xã hội

Mục tiêu của DNXH là giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, vì lợi ích cộng đồng. Vì thế, những người yếu thế, nhóm đáy trong xã hội là đối tượng thụ hưởng chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của các DNXH. Đây là đối tượng thuộc diện người nghèo và yếu thế nhất. Vì chiếm số đông lại ở đáy cùng trong xã hội nên nhóm người này được gọi là “nhóm đáy” của Kim Tự Tháp (Based of the pyramid – BoP).

Ở Việt Nam, theo ước tính sơ lược của chương trình Giáo dục toàn cầu Pears Program, có từ 1/3 đến một nửa dân số thuộc nhóm đáy của Kim tự tháp. Trong đó, những người yếu thế, những đối tượng bị lề hóa, những người dân ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật, người nhiềm HIV/AIDS, trẻ em cơ nhỡ, phạm nhân mãn hạn tù…là những đối tượng rất cần được quan tâm giúp đỡ để nâng cao điều kiện sống, giảm thiểu tệ nạn xã hội, giảm bớt gánh nặng cho xã hội. Trên thực tế, khu vực nhà nước hiện nay không đủ nguồn lực để kham hết gánh nặng phúc lợi xã hội trong khi khu vực tư nhân lại hướng đến những phân khúc thị trường mà khách hàng mục tiêu có khả năng chi trả cao hơn. Vì thế, DNXH được biết đến như một mảnh ghép lấp đầy khoảng trống mà hai khu vực tư nhân và nhà nước còn chưa làm được. Đây cũng chính là một trong những đặc trưng nổi bật của DNXH so với các doanh nghiệp truyền thống thông thường.

Trên đây là những đặc điểm cơ bản mà một DNXH thường có. Những đặc điểm này cũng là những yếu tố cốt lõi để phân biệt DNXH với các doanh nghiệp truyền thống thông thường.

Đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp xã hội

Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập

Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập

Có thể nói hoạt động kiểm toán đã hình thành từ thời Ai Cập, La Mã cổ đại. Nguồn gốc từ xa xƣa của kiểm toán (audit) nghĩa là thông tin đƣợc phê chuẩn bằng cách các tài khoản về tài sản đƣợc đọc to lên và đƣợc một bên độc lập phê chuẩn. Trong thời kỳ Trung cổ, hoạt động kiểm toán chủ yếu là thẩm tra độ chính xác của thông tin tài chính đƣợc thực hiện bởi các kiểm toán viên của Nhà nƣớc. Sau này đến thế kỷ 18, các công ty cổ phần ra đời và phát triển cùng với sự hình thành của thị trƣờng chứng khoán. Từ đó xuất hiện nhu cầu của chủ sở hữu cổ phần muốn kiểm tra tài chính nhằm tránh gian lận của ngƣời quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán đƣợc ra đời phục vụ chủ yếu cho mục đích này.

Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động kiểm toán:

Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì “hoạt động kiểm toán là việc kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính”

Các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đƣa ra định nghĩa khá bao quát về kiểm  toán như sau: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các tiêu chuẩn đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập”

Họat động kiểm toán có nhiều hình thức khác nhau. Nếu phân loại kiểm toán theo chủ thể thực hiện, kiểm toán đƣợc chia thành ba loại hình nhƣ sau:

1. Kiểm toán nhà nƣớc

Là hoạt động kiểm toán do các cơ quan chức năng của nhà nƣớc tiến hành để kiểm tra sự tuân thủ quy định pháp luật về tài chính của đơn vị đƣợc kiểm tra (có sử dụng vốn của Ngân sách nhà nƣớc). Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là: Kiểm toán nhà nƣớc, Thanh tra nhà nƣớc, Thanh tra tài chính chuyên ngành v.v..Ở Việt Nam, Cơ quan Kiểm toán nhà nƣớc là cơ quan kiểm toán cấp cao nhất, trực thuộc Quốc hội. Cơ quan này kiểm tra việc thực hiện ngân sách, quản lý sử dụng tài sản công.

2. Kiểm toán nội bộ

Là việc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo yêu cầu của Ban quản trị hay Ban quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ do nhân viên của đơn vị tự thực hiện kiểm tra, đánh giá về các quy trình quản trị tài chính, quản lý rủi ro trong đơn vị mình. Mục tiêu của kiểm toán nội bộ thƣờng là sự hiệu quả và hữu hiệu của quy trình quản trị doanh nghiệp, phòng ngừa rủi ro, đánh giá việc thực hiện kế hoach của đơn vị.

3. Kiểm toán độc lập

Là hoạt động kiểm toán đƣợc tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các doanh nghiệp kiểm toán độc lập.

Theo Luật kiểm toán độc lập 2011 thì “Kiểm toán độc lập là việc KTV hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính (BCTC) và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”

Ở Việt Nam hoạt động KTĐL xuất hiện từ đầu những năm 1990, vài năm sau khi nƣớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nƣớc ngoài phát triển nhanh chóng kéo theo nhu cầu dịch vụ KTĐL về báo cáo tài chính. Tháng 5/1991 đánh dấu mốc hình thành một công ty KTĐL đầu tiên ở Việt Nam là Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO). Sau đó các công ty kiểm toán cũng dần hình thành và phát triển. Vào năm 2011 Luật kiểm toán độc lập ra đời, đánh dấu một bƣớc phát triển quan trọng về mặt pháp lý cho hoạt động KTĐL và chấm dứt một thời kỳ dài thiếu một luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động KTĐL. Hiện nay có khoảng 160 doanh nghiệp kiểm toán với hơn 11 ngàn nhân viên đang hoạt động
trong lĩnh vực KTĐL trên phạm vi toàn quốc.

Các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) cung cấp các dịch vụ kiểm toán BCTC, soát xét thông tin theo thỏa thuận, tƣ vấn thuế và các dịch vụ khác có liên quan đến chuyên môn v.v…Trong đó dịch vụ kiểm toán BCTC thƣờng chiếm tỷ trọng doanh thu và nhân sự lớn nhất. Kiểm toán báo cáo tài chính (còn gọi tắt là kiểm toán tài chính) của khách hàng là việc kiểm tra nhằm đƣa ra ý kiến về tính hợp lý và trung thực về BCTC của khách hàng, dựa trên các tiêu chuẩn là chế độ kế toán, chuẩn mực Hiện nay hiểu theo nghĩa thông dụng thì thuật ngữ “kiểm toán” tức là kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng. Do vậy, trong phạm vi bài luận văn này, tác giả cần lƣu ý thuật ngữ “kiểm toán” hay “kiểm toán độc lập” đề cập đến hoạt động kiểm toán BCTC của doanh nghiệp. Đây là dịch vụ mang tính điển hình và quan trọng nhất của các doanh nghiệp KTĐL hiện nay.

Căn cứ theo điều 37 của Luật kiểm toán độc lập 2011, một số loại hình doanh nghiệp có ảnh hƣởng quan trọng đến lợi ích công chúng thì bắt buộc phải kiểm toán BCTC hàng năm, bao gồm: tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp kiểm toán, doanh nghiệp nƣớc ngoài v.v…

Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập