092.4477.999
luanvanaz@gmail.com

Khái niệm phát triển đội ngũ giảng viên

Khái niệm phát triển đội ngũ giảng viên

Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đƣa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lƣợng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đƣờng xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dƣờng như sự vật ban đầu nhƣng ở mức (cấp độ) cao hơn

Khái niệm phát triển là khái niệm rất rộng, nói đến phát triển là nghĩ chiều hƣớng tăng lên về số lƣợng và tốt hơn về chất lƣợng. Theo Từ điển Tiếng Việt thì phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp.

Nhƣ vậy, sự phát triển là quá trình không ngừng gia tăng về trình độ, về kết cấu phức tạp của sự vật và do đó làm nảy sinh tính quy định mới cao hơn về chất.

Phát triển đội ngũ giảng viên bao gồm cả tuyển chọn, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp. Phát triển đội ngũ giảng viên còn chính là việc xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, có chất lượng để thực hiện tốt mục tiêu, nội dung và kế hoạch giảng dạy nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo.

Đồng thời, xây dựng một tập thể sư phạm, trong đó mỗi cá nhân thích ứng với sự thay đổi mạnh mẽ của xã hội, có tinh thần trách nhiệm, gắn bó với đơn vị, tham gia tích cực, sáng tạo vào trong quá trình giảng dạy.

Phát triển đội ngũ giảng viên là quá trình xây dựng đội ngũ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp, đảm bảo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và NCKH.

Thực chất của phát triển đội ngũ giảng viên là tạo ra sự gắn kết giữa chuẩn nghề nghiệp, tuyển dụng, đào tạo, bồi dƣỡng với việc sử dụng hợp lý; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để GV phát triển và đánh giá đội ngũ giảng viên một cách khoa học, chính xác.

Nguồn: Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục: Phát triển đội ngũ giảng viên ngành công tác xã hội trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

Khái niệm về y tế

Khái niệm về y tế

Mỗi người dân dù sống trong xã hội nào, tầng lớp nào, chế độ chính trị nào đều có những quyền cơ bản. Một trong các quyền cơ bản đó là quyền bảo vệ sức khoẻ hay quyền sức khoẻ. Quyền sức khoẻ đã được khẳng định từ năm 1946 trong Hiến chương của WHO và đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị: “Quyền về sức khỏe là quyền được hưởng tình trạng sức khoẻ tốt nhất có thể được về cả thể chất và tinh thần” [30]. Y tế được xem là công cụ, giải pháp then chốt để thực hiện các nhu cầu và quyền lợi liên quan đến bảo vệ và CSSK cho người dân. Bảo vệ sức khoẻ, giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ cho con người là những mục tiêu quan trọng của y tế, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Y tế được định nghĩa là một ngành y học ứng dụng, chuyên phòng bệnh, chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ. Nói cách khác, y tế là việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa về bệnh tật, thương tích, suy yếu về thể chất và tinh thần của con người; giúp cải thiện và nâng cao sức khoẻ của con người về cả thể chất lẫn tinh thần. Y tế bao gồm CSSKBĐ, chăm sóc thứ cấp và YTCC.

Chăm sóc sức khoẻ ban đầu được xem là chìa khóa để thực hiện mục tiêu CSSK toàn dân và là một phần của sự phát triển công bằng xã hội. Do đó, CSSKBĐ là một phần không thể thiếu trong hệ thống y tế của mỗi quốc gia, giữ chức năng trung tâm của hệ thống y tế và là một phần của sự phát triển tổng thể về KTXH của cộng đồng [2]. CSSKBĐ là sự CSSK thiết yếu, dựa trên các phương pháp và kỹ thuật có tính thực tiễn, có cơ sở khoa học và được xã hội chấp nhận, phổ cập đến mọi cá nhân và gia đình trong cộng đồng với một phí tổn mà cộng đồng và quốc gia có thể chi trả được ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, trên tinh thần tự lực và tự quyết. CSSKBĐ là nơi tiếp xúc đầu tiên của các cá nhân, gia đình và cộng đồng với hệ thống y tế của mỗi quốc gia, mang việc CSSK đến càng gần với người dân và tạo thành yếu tố đầu tiên của quá trình CSSK lâu dài [81].

Y tế công cộng là tổng hòa các hoạt động phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ và tăng cường sức khỏe thông qua những cố gắng có tổ chức của xã hội, các tổ chức công và tư, cộng đồng và cá nhân với sự chỉ đạo chung của Chính phủ. YTCC mang tính chuyên môn đa ngành với các chuyên ngành chính như dịch tễ học, thống kê sinh y học, khoa học môi trường học, hành vi sức khỏe, dinh dưỡng, quản lý y tế,…[70]. Vì vậy, YTCC bao hàm ý nghĩa liên ngành chứ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực y tế. Do sự phối hợp của liên ngành mà nhiều bệnh tật có thể phòng tránh được một cách rất đơn giản, thậm chí bằng phương pháp không liên quan tới y học. Trọng tâm của YTCC là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Do đó, đôi khi YTCC vẫn bị nhầm lẫn với YTDP. YTDP là can thiệp phòng bệnh ở mức độ cá nhân hay một nhóm cộng đồng nhất định trong khi YTCC là can thiệp phòng bệnh ở cấp quần thể, nhóm dân cư hoặc tổng thể dân cư.

Như vậy, CSSKBĐ và YTCC đều lấy phòng bệnh làm cốt lõi, tuy nhiên, mức độ và phạm vi tiếp cận khác nhau. Đầu tư cho CSSKBĐ, YTCC và YTDP được công nhận là một cách đầu tư nhằm cải thiện sức khỏe cộng đồng hiệu quả với chi phí thấp và đó là con đường tối ưu để thực hiện bao phủ CSSK toàn dân [3].

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho y tế ở Việt Nam

Khái niệm về phát triển du lịch bền vững

Khái niệm về phát triển du lịch bền vững

Theo Hens L. (1998) thì “Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống”. Định nghĩa này mới chỉ chú trọng đến công tác quản lý TNDL để cho du lịch được PTBV.

Theo Machado (2003) thì phát triển du lịch bền vững là “Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch, và người dân địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của người dân địa phương”. Định nghĩa này chỉ mới dừng lại ở việc tập trung vào tính bền vững của các hình thức du lịch chứ chưa đề cập đến sự bền vững cho toàn ngành du lịch.

34Theo UNWTO (2004) thì: “Phát triển du lịch bền vững là việc phát triển các HĐDL nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc PTDL trong tương lai”. DLBV sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người. Đây là định nghĩa mang tính khái quát một cách trọn vẹn các nội dung liên quan đến PTDLBV.

Với những quan điểm trên thì có thể coi PTDLBV là một nhánh của PTBV nói chung. PTDLBV là hoạt động PTDL ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác. Ngược lại tính bền vững của hoạt động PTDL được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển các ngành khác, sự phát triển chung của toàn xã hội.

Theo luật Du lịch Việt Nam (2017): “PTDLBV là sự PTDL đáp ứng đồng thời các yêu cầu về KTXH và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia HĐDL, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”. Khái niệm này mang tính bao quát, hợp lý, và tiếp cận đầy đủ các trụ cột PTBV. Đây cũng là khái niệm mà tác giả sử dụng để giải quyết các nội dung của luận án.

Nội hàm của PTDL theo hướng bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, bền vững về kinh tế, bền vững về môi trường và bền vững về văn hóa xã hội. Trách nhiệm đối với môi trường đòi hỏi tất cả các ngành phải nhận biết và có những biện pháp can thiệp nếu không muốn. trong tương lai môi trường bị hủy hoại và xuống cấp. Bản thân ngành du lịch cũng phải tự. biết hành động như thế nào để du lịch phát triển. theo hướng bền vững hơn. Về bản chất, PTDLBV là sự PTDL không gây hại hoặc giảm thiểu tác động gây hại đến môi trường, văn hóa – xã hội và kinh tế tại địa phương. Tóm lại, về bản chất PTDLBV là sự giao thoa, tác động lẫn nhau của bốn phân hệ bền vững về kinh tế, xã hội, tài nguyên- môi trường và môi trường về cơ chế, chính sách.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước của tỉnh Thanh Hóa đối với phát triển du lịch bền vững

Khung lý thuyết tài chính hành vi

Tài chính hành vi là hướng nghiên cứu thuộc lĩnh vực tài chính nhằm khắc phục những vấn đề khó khăn của tài chính truyền thống đang đối mặt trong giải thích, (Barberis and Thaler, 2003). Một số lý thuyết được xem là nền tảng của quan điểm tài chính hành vi là: Lý thuyết những sai lệch trong nhận thức (Cognitive biases theory) của Tversky và Kahneman (1973) và Lý thuyết triển vọng (Prospect theory) cũng của hai tác giả trên (1979).

Nhiệm vụ chính của TC hành vi là giải thích những hành vi bất thường của các NĐT tham dự thị trường. Hành vi bất thường là những phản ứng của NĐT đối với các thông tin được cập nhật lên thị trường nhưng không theo những gì mà tài chính truyền thống đã lý giải. Cụ thể, tài chính hành vi giải thích tại sao NĐT tham dự thị trường lại mắc các lỗi hệ thống bất hợp lý, trái ngược với giả định NĐT tham dự thị trường là hợp lý (Lin, 2010).

Tài chính hành vi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tâm lý đến hành vi của những người tham dự thị trường và hành vi của họ đến thị trường, (Sewell, 2007). Như vậy, đối tượng nghiên cứu của tài chính hành vi là tâm lý, hành vi của các NĐT.

Tiếp cận với những hướng nghiên cứu mới về tâm lý NĐT, Masomi và Ghayekhloo (2010) lại định nghĩa TC hành vi là một lĩnh vực khoa học tập trung nhiều vào việc giải thích cách mà cảm tính và những sai lệch trong nhận thức của NĐT ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Để có thể thực hiện được vai trò của mình, tài chính hành vi cần kết hợp kiến thức trong tâm lý học con người với các lý thuyết mô hình trong tài chính. Tâm lý học nghiên cứu về sự hình thành, vận hành và phát triển của các hoạt động tâm lý. Hoạt động tâm lý là hiện tượng tâm lý, nó chính là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, (Dương Thị Kim Oanh, 2009).

Barberis và Thaler (2003) cho rằng, có hai nguyên nhân của hiện tượng chênh lệch giá chứng khoán, mà các lý thuyết tài chính truyền thống không thể giải thích được: giới hạn kinh doanh chênh lệch giá và tâm lý

Giới hạn kinh doanh chênh lệch giá: “Thật là khó cho những NĐT hợp lý để xoá bỏ sự chênh lệch về giá CK bởi có ít NĐT hợp lý”, (Barberis and Thaler, 2003, page 1053). Đồng thời do một số khoản chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch và một số loại rủi ro như rủi ro cơ bản và rủi ro bởi các NĐT không hợp lý gây ra đã khiến cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá bị giới hạn làm giá CK không thể được đưa về đúng giá trị của nó nhanh chóng như cách lý giải của tài chính hành vi.

Hướng nghiên cứu về tâm lý: là hướng nghiên cứu mà người ta đi tìm kiếm sự tồn tại của các NĐT không hợp lý trên thị trường. Hay nói một cách cụ thể hơn, nghiên cứu về tâm lý NĐT là nghiên cứu nhằm phát hiện những biểu hiện trong nhận thức của NĐT đối với những vấn đề, hiện tượng của thị trường, nắm bắt những nhận thức, cảm tính của NĐT và ảnh hưởng của chúng đến quyết định đầu tư của họ. Tham khảo phụ lục 2 – Khái quát khung lý thuyết về tài chính hành vi.

Nguồn: Luận án tài chính “Nghiên cứu về cảm tính nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis –EMH)

Thị trường vốn hiệu quả là thị trường mà ở đó giá chứng khoán phản ảnh một cách đầy đủ và tức thời tất cả các thông tin có liên quan đến nó (Fama, 1970). Điều đó có nghĩa rằng, trong thị trường khi hàng hoá tài sản vốn được giao dịch thì giá cả là tín hiệu chính xác về việc phân bổ vốn, (Copeland et al., 2005). Theo Fama (1970) có 3 mức độ hiệu quả thị trường: dạng yếu, dạng bán mạnh và dạng mạnh.

Thị trường hiệu quả dạng yếu: khi đó giá thị trường chứng khoán đã phản ảnh trong nó những thông tin đã được công bố trong quá khứ có liên quan đến chứng khoán. Điều đó nó gián tiếp nói lên rằng, nếu NĐT quan tâm đến các thông tin trong quá khứ của chứng khoán để ra quyết định đầu tư thì họ sẽ không kiếm được lợi nhuận.

Thị trường hiệu quả dạng bán mạnh: khi đó giá thị trường của chứng khoán đã phản ảnh hết các thông tin liên quan đã được công bố trong quá khứ và vừa mới được công bố. Giá chứng khoán lập tức được điều chỉnh cho thích hợp với các thông tin liên quan đến CK ngay khi vừa được công bố. Vì thế, cả việc quan tâm đến thông tin mới cũng không mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư.

Thị trường hiệu quả dạng mạnh: giá chứng khoán ngoài phản ảnh giá trị của thông tin được công bố trong quá khứ, hiện tại và cả thông tin nội bộ trong công ty. Bởi theo Fama, những người bên trong công ty nắm được các thông tin nội bộ đã thực hiện các giao dịch và vì thế giá CK đã được điều chỉnh về đúng giá trị hợp lý của nó.18

Do đó, NĐT tham dự thị trường sẽ không tìm kiếm được lợi nhuận đối với CK.

Lý thuyết thị trường hiệu quả đã giải thích được hiện tượng, khi TTCK hoạt động ổn định trong thời gian dài NĐT khó kiếm được lợi nhuận vượt trội. Tuy nhiên, trên thị trường vẫn có những NĐT kiếm được lợi nhuận cao hơn so với các NĐT khác và cao hơn trung bình của thị trường, Fama gọi họ là những NĐT khôn ngoan. Fama giải thích rằng, để kiếm được lợi nhuận vượt trội, họ đã tận dụng các thông tin trong quá khứ, nhạy bén với các thông tin mới của công ty và tích cực hơn trong việc tìm kiếm các thông tin trong tương lai của công ty, hay có thể họ đã dự báo được những diễn biến bất thường trong tương lai của thị trường hoặc của công ty và vì thế họ có phản ứng trước so với thị trường và thu được lợi nhuận vượt trội.

Chính vì thế, những NĐT khôn ngoan hay còn được gọi là NĐT chủ động. Nhưng khi họ thực hiện hoạt động mua, bán CK dựa vào những thông tin đó, lập tức tạo thành xu hướng và các NĐT khác cũng bắt được tín hiệu mới này, từ đó thị trường sẽ xuất hiện cơ chế tự điều chỉnh để đưa thị trường trở về trạng thái hiệu quả. Điều đó đồng nghĩa, các NĐT chủ động cũng chỉ có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội trong khoảng thời gian rất ngắn.

Fama (1976), Rubinstein (1975) và Latham (1985) đã mở rộng khái niệm về thị trường hiệu quả: đối với một thông tin, một nhà đầu tư có thể mua chứng khoán nhưng cũng có thể có những người khác bán chứng khoán vì thế làm giá chứng khoán không đổi. Nếu thông tin không làm thay đổi giá chứng khoán thì thị trường được gọi là thị trường hiệu quả với thông tin. Thị trường được xem là hiệu quả dạng mạnh đối với một sự kiện thông tin nếu thông tin đó không chỉ không làm thay đổi giá chứng khoán mà còn không gây ra sự thay đổi về danh mục đầu tư (Copeland et al., 2005).

Nguồn: Luận án tài chính “Nghiên cứu về cảm tính nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Kinh tế học về chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics – TCE)

Kinh tế học về chi phí giao dịch (transaction cost economics – TCE) được phát triển đầu tiên bởi Williamson (1975, 1984, 1991) và được xem như một trong những phương pháp hữu hiệu trong việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa bên mua và nhà cung cấp. Lý thuyết này có nội dung cốt lõi nhằm giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp quyết định tự sản xuất ra các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp của mình hoặc tiến hành thu mua các yếu tố đầu vào từ thị trường (Anderson, 1982; Walker và Weber, 1984). Các tác giả của lý thuyết TCE cho rằng phân tích chi phí giao dịch (transaction cost analysis – TCA) sẽ là một công cụ hữu hiệu nhằm giúp doanh nghiệp giải đáp vấn đề trên.

Phân tích TCA được xây dựng dựa trên hai giả định (Li, 2001; Krause, 1999). Giả định thứ nhất là các nhà quản trị sẽ có xu hướng hành xử mang tính cơ hội như làm sai lệch hay bóp méo thông tin, che dấu một số điều khoản trong hợp đồng hay tránh né thực hiện các hành vi cần thiết,…Giả định thứ hai là các nhà quản trị sẽ có xu hướng hành xử một cách duy lý dựa trên các thông tin sẵn có cũng như nhận thức của họ. Vấn đề đặt ra là có sự khác biệt về tính sẵn có của thông tin giữa người mua và người bán và đây sẽ là nguồn cơn dẫn đến sự cơ hội hay các hành vi duy lý bị hạn chế cũng như sự thiếu chắc chắn (Li, 2001).

Xuất phát từ các giả định này, các nhà nghiên cứu cho rằng trong quan hệ mua bán giữa các bên sẽ tồn tại một loại chi phí được gọi là chi phí giao dịch (Li, 2001; Krause, 1999). Một số loại chi phí giao dịch như chi phí vận hành quan hệ, chi phí thương lượng, thực thi, phối hợp, giám sát, điều chỉnh, thúc đẩy hay chấm dứt các thỏa thuận hợp tác (Frazier và cộng sự (1988), dẫn lại từ Krause, 1995). Ý tưởng chủ đạo của lý thuyết Kinh tế học về chi phí giao dịch (TCE) là tối ưu hóa các chi phí giao dịch này (Williamson, 1981) và lý thuyết này cũng chỉ ra rằng chi phí giao dịch bị chi phối bởi một số yếu tố như tần suất các giao dịch xảy ra, mức độ không chắc chắn của giao dịch và các tài sản cụ thể của cuộc giao dịch.

Căn cứ trên việc tính toán các chi phí giao dịch này, các nhà quản lý công ty sẽ đưa ra các quyết định liên quan đến việc thực hiện hành vi thu mua từ thị trường các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp hay tự mình sản xuất các yếu tố đầu vào này thông qua hoạt động tích hợp dọc. Dù vậy, như đã phân tích trong Chương 1, sự tích hợp theo chiều dọc sẽ làm triệt tiêu tính linh hoạt của doanh nghiệp do qui mô phình to và sự hạn chế về mặt nguồn lực. Điều đó dẫn đến một chiến lược mà Blois (1972) gọi là tích hợp giả (Quasi – Integration) theo đó nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch trong khi vẫn giữ lại tính cơ động cho doanh nghiệp mua, các nhà nghiên cứu đã đề xuất các cách thức như trao đổi mang tính ràng buộc (Noordeweir và cộng sự, 1990), xây dựng các quan hệ hợp đồng lâu dài với nhà cung cấp (Walker và Poppo, 1991) cũng như các biện pháp khác nhằm thúc đẩy mối quan hệ chặt chẽ giữa bên thu mua và nhà cung cấp (Speckman, 1988a). Các biện pháp này thực ra là nhằm hướng đến giảm thiểu tính không chắc chắn của giao dịch, gia tăng tần suất giao dịch và từ đó hạn chế các hành vi cơ hội trong quá trình hợp tác.

Như đã đề cập, phát triển nhà cung cấp là việc các doanh nghiệp mua sẽ đầu tư công sức, thời gian hay tài chính vào nhà cung cấp với mong muốn tạo lập một quan hệ khắng khít giữa hai bên. Việc đầu tư của doanh nghiệp mua vào nhà cung cấp sẽ tạo ra sự giao tiếp thường xuyên giữa các bên và bảo đảm sự thường xuyên cũng như chắc chắn cho các giao dịch giữa hai bên. Điều này, theo lý thuyết Kinh tế học về chi phí giao dịch (TCE), sẽ giúp giảm thiểu các chi phí giao dịch giữa các bên và thúc đẩy các bên tiến tới hình thành các liên minh hợp tác (Li, 2001). Minh chứng rõ nhất cho luận điểm trên là nghiên cứu của Dyer (1996) khi tiến hành nghiên cứu về các doanh nghiệp Nhật Bản và phát hiện các doanh nghiệp Nhật Bản đã thu được những hiệu quả vượt trội khi tiến hành đầu tư vào các nhà cung cấp (Li, 2001). Đi sâu tìm hiểu về kết quả này, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy quan hệ vô cùng khắng khít giữa bên doanh nghiệp mua và nhà cung cấp thông qua cái gọi là “keiretsu” (một dạng tập đoàn theo mô hình Nhật Bản) (Asanuma, 1989; Nishiguchi, 1994). Và từ đó, Asanuma (1989) và Nishiguchi (1994) phát hiện các doanh nghiệp Nhật Bản đã cùng lúc đạt được hai mục tiêu là giảm chi phí giao dịch và gia tăng được các tài sản vô hình thông qua đầu tư vào nhà cung cấp và hai tác giả này gọi đó là một trong số các nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Phát hiện này của Asanuma (1989) và Nishiguchi (1994) là nguồn cổ vũ cho các hoạt động phát triển nhà cung cấp của doanh nghiệp mua.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Mối quan hệ giữa các hoạt động phát triển nhà cung cấp và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mua: Trường hợp các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh

Lý thuyết nguồn lực (Resource – Based View – RBV)

Lý thuyết nguồn lực (RBV) được Penrose khởi xướng vào năm 1959 khi bà cho rằng các nguồn lực bên trong doanh nghiệp chính là một trong những nguồn gốc tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp (Penrose, 1959).

Quan điểm này được tiếp nối bởi Wernerfelt (1984) và sau đó là Dierickx và Cool (1989), Barney (1991) và Wemerfelt (1995). Cốt lõi chính của RBV là đi tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số các doanh nghiệp lại có thể thu được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng ngành trên cơ sở phân tích các nguồn lực bên trong của doanh nghiệp (Wemerfelt, 1984; Barney, 1986a). Nguồn lực của doanh nghiệp được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Theo đó, nguồn lực của doanh nghiệp được chia thành ba loại chính sau: các nguồn lực vốn hữu hình (physical capital resources), nguồn lực vốn con người (human capital resources) và nguồn lực vốn tổ chức (organizational capital resources) (Barney, 1991). Trong đó, nguồn lực vốn hữu hình bao gồm nhà máy, xí nghiệp, vị trí và nguyên vật liệu; Nguồn lực vốn con người như tri thức, trực giác, khả năng phán đoán, kinh nghiệm và khả năng học hỏi của người lao động và nguồn lực vốn tổ chức bao gồm cấu trúc bộ máy tổ chức, hệ thống phối hợp trong tổ chức, các quan hệ phi chính thức bên trong doanh nghiệp và với bên ngoài doanh nghiệp (Barney, 1991).

Một cách tiếp cận khác, Grant (1991) đã chia nguồn lực doanh nghiệp thành 2 loại chính: nguồn lực hữu hình (tangible resource) và nguồn lực vô hình (intangible resource). Theo đó, nguồn lực hữu hình bao gồm các nguồn lực về tài chính như vốn tự có, khả năng huy động vốn; Nguồn lực vật chất hữu hình như qui mô sản xuất, vị trí nhà máy, sự tinh vi về sản xuất, nguyên liệu đầu vào hay tính linh hoạt, uyển chuyển của hệ thống nhà máy. Nguồn lực vô hình của doanh nghiệp như bí quyết công nghệ hay danh tiếng của doanh nghiệp. Theo đó, bí quyết công nghệ như sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế; Danh tiếng bao gồm các yếu tố như nhãn hiệu nổi tiếng, độ tin cậy, quan hệ tốt với nhà cung cấp, khách hàng, chính quyền; Nguồn lực về nhân sự như kiến thức, kỹ năng, lòng trung thành và khả năng thích hợp của nhân viên với doanh nghiệp. Như vậy có thể thấy cả Barney (1991) và Grant (1991) đều cho rằng quan hệ với nhà cung cấp chính là nguồn lực vô hình của doanh nghiệp.

Với giả định rằng các doanh nghiệp cùng ngành sẽ vận dụng các chiến lược kinh doanh khác nhau và không thể sao chép được do mỗi doanh nghiệp sẽ sở hữu các nguồn lực khác nhau, các tác giả của lý thuyết RBV đã thống nhất rằng nguồn lực của doanh nghiệp chính là nhân tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Wernerfelt (1984) còn cho rằng nếu doanh nghiệp tận dụng tốt một vài nguồn lực đặc biệt nào đó của doanh nghiệp thì có thể tạo ra được các rào cản về nguồn lực (resources position barriers) vốn dĩ sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được hiệu quả hoạt động của mình. Tuy nhiên không phải nguồn lực nào cũng có thể giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Chỉ có những nguồn lực nào hội đủ được 4 yếu tố: có giá trị, hiếm, không thể bắt chước được và không thể thay thế được (Dierickx và Cool, 1989; Barney, 1991) thì mới có khả năng tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Nghiên cứu về RBV cho thấy lý thuyết này giúp giải thích một câu hỏi rất quan trọng chính là tại sao doanh nghiệp mua lại tham gia vào hoạt động phát triển nhà cung cấp. Lý thuyết chuỗi cung ứng cho thấy, trong một chuỗi cung ứng, hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thành viên của chuỗi cung ứng đó và hiện nay cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đơn lẻ với nhau đã nhường chỗ cho cạnh tranh giữa các chuỗi cung ứng với nhau (Kannan và cộng sự, 2010).

Sự thật là nếu doanh nghiệp có một nhà cung cấp không thể cung cấp các yếu tố đầu vào đạt chuẩn chất lượng, giá cả hợp lý và giao hàng đúng hạn thì doanh nghiệp đó cũng không thể nào đáp ứng được mong đợi của khách hàng cuối cùng về chất lượng, giá cả hay khả năng giao hàng. Và trong trường hợp một thành viên nào đó trong chuỗi sở hữu một hay nhiều các nguồn lực đặc biệt có khả năng giúp gia tăng hiệu quả hoạt động hoặc lợi thế cạnh tranh và nếu nguồn lực này được chuyển giao cho các thành viên trong chuỗi thì hiệu quả hoạt động của cả chuỗi cung ứng sẽ nhanh chóng được cải thiện (Pamela, 2000).

Như vậy, có thể thấy rằng, doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có sở hữu một hoặc một số các nguồn lực đặc biệt trong một số lĩnh vực như sản xuất, chất lượng hay phát triển sản phẩm mới sẽ thu được nhiều lợi ích nếu có thể chuyển giao hay chia sẻ thành công các nguồn lực này với các nhà cung cấp của mình thông qua các hoạt động phát triển nhà cung cấp.

Ở một khía cạnh khác, việc các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động phát triển nhà cung cấp sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mua và nhà cung cấp có cơ hội tiếp cận lẫn nhau nhiều hơn, hiểu nhau nhiều hơn khi mà tần suất tương tác lẫn nhau tăng lên thông qua hoạt động phát triển nhà cung cấp. Và đây chính là nền tảng xây dựng nên quan hệ đối tác về thu mua giữa doanh nghiệp mua và nhà cung cấp (Ellram, 1990). Theo lý thuyết RBV, quan hệ này cũng là một dạng nguồn lực và với nguồn lực này doanh nghiệp mua có thể tận dụng hiệu quả các năng lực lõi của nhà cung cấp trong việc xây dựng nên lợi thế cạnh tranh.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Mối quan hệ giữa các hoạt động phát triển nhà cung cấp và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mua: Trường hợp các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh

Khái niệm và đặc trưng của nền kinh tế xanh

Thuật ngữ nền kinh tế xanh được đặt ra đầu tiên bởi nhà kinh tế môi trường David Pearce vào năm 1989, trong một nghiên cứu cho Chính phủ Anh về “Kế hoạch chi tiết cho nền kinh tế xanh” nhằm kiểm tra ý nghĩa của phát triển bền vững để đo lường tiến trình phát triển kinh tế. Kể từ năm 2008, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế – tài chính thế giới thì thuật ngữ nền KTX được đưa vào sử dụng rộng rãi hơn.

Một nền KTX có thể được coi là một nền kinh tế có lượng phát thải các-bon thấp, sử dụng tài nguyên hiệu quả và bao trùm toàn xã hội (UNEP, 2011). Nền kinh tế xanh nhằm mục đích cải thiện phúc lợi của con người và bình đẳng xã hội, trong khi giảm đáng kể rủi ro môi trường và sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên (UNEP, 2011).

Xét về mặt học thuật, “Nền kinh tế xanh” là “kinh tế môi trường” nhưng được nâng cấp lên, trong đó “nghiên cứu mối quan hệ tương tác, phụ thuộc và quy định lẫn nhau giữa kinh tế và môi trường nhằm bảo đảm một sự phát triển ổn định, hiệu quả, liên tục và bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường và lấy con người làm trung tâm”.

“Nền kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái” (Armand Kaszterlan, 2017).

“Nền kinh tế xanh là nền kinh tế tạo ra chất lượng cuộc sống tốt hơn cho tất cả mọi người trong giới hạn sinh thái của trái đất” (United Nations, 2012).

Tổ chức Sáng kiến nền KTX của Liên hợp quốc cho rằng “Tăng trưởng xanh hay xây dựng nền KTX là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để đạt được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng cho xã hội” (Liên Hợp quốc, 2007).

Như vậy, nền kinh tế xanh được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và về cơ bản nền kinh tế xanh là nền kinh tế giảm thiểu khí nhà kính, bảo vệ môi trường, kích thích sử dụng hiệu quả tài nguyên trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại hướng tới nâng cao đời sống cho con người. Trong nền KTX, tài nguyên – môi trường được xem là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, cải thiện chuỗi giá trị, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài.

Nguồn: Luận án tiến sĩ “Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Khái niệm về phát triển ngân hàng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển ngân hàng do có nhiều hướng tiếp cận về phát triển ngân hàng khác nhau. Cụ thể như sau:

Theo Rudar (2014), PTNH được định nghĩa là một quá trình cải tiến về số lượng, chất lượng và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng. Hay nói cách khác, phát triển ngành NH là một quá trình đánh dấu sự cải thiện về số lượng, chất lượng và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng có liên quan đến thu nhập quốc dân (GDP).

Mihail (2014), PTNH là một khái niệm phức tạp nên để xét phát triển NH thì xét trong mối tương quan đóng góp nhiều nhất với sự tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, theo ông phát triển NH là các biện pháp của hoạt động ngân hàng, quy mô ngân hàng và hiệu quả ngân hàng gắn với trưởng kinh tế.

Levine (2005), PTNH là sự cải thiện của hệ thống ngân hàng trong việc thực hiện các chức năng bao gồm: Tích lũy tiết kiệm; Phân bổ vốn cho đầu tư sản xuất; Giám sát các khoản đầu tư; Phân tán rủi ro và trao đổi hàng hóa và dịch vụ.

Hartmann (2007), PTNH là một quá trình đổi mới, cải thiện về thể chế và tổ chức trong hệ thống làm giảm thông tin bất đối xứng và tăng khả năng ký kết hợp đồng, giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng cạnh tranh.

Theo luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam (2010), ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ nghiên cứu PTNH ở góc độ NHTM mà NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam nhằm mục tiêu lợi nhuận (Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam).

Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận về định nghĩa phát triển NH trên, chúng ta có thể hiểu phát triển NH là các biện pháp để cải thiện về quy mô và hiệu quả của dịch vụ ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận nhưng gắn với tăng trưởng kinh tế.

Nguồn: Luận án Tài chính Ngân hàng “Nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế trong điều kiện độ mở thương mại và lạm phát: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

Khái niệm về phát triển ngân hàng