0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Khái niệm về văn hóa

Khái niệm về văn hóa

Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…

Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh 1995: 431].

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [UNESCO 1989: 5].

Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam. Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin – 1999 [tr. 1796] thì văn hóa là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai.

Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tao ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”.

Khái niệm về văn hóa

Tên đề tài luận văn cao học quản lý văn hóa

Tên đề tài luận văn cao học quản lý văn hóa

Luận văn A-Z tư vấn một số tên đề tài luận văn cao học quản lý văn hóa cho các anh chị đang chuẩn bị làm luận văn tham khảo.

Quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh AAA

Quản lý quần thể di tích AAA ở tỉnh AAA

Quản lý lễ hội ở quận AAA

Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở thành phố AAA

Xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Công ty AAA

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở AAA

Quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện AAA

Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở AAA

Múa dân gian Thái trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng (khảo sát ở xã AAA)

Văn hóa ứng xử trong cơ quan báo AAA

Phong tục cưới xin của người Hà Nhì ở xã AAA

Tiềm năng văn hóa trong phát triển du lịch tại huyện AAA

Ẩm thực của người Mường ở huyện AAA

Tang ma của người Dao đỏ ở xã AAA

Tiềm năng văn hóa trong phát triển du lịch tại huyện AAA

Nghề dệt thổ cẩm của người H’Mông xã AAA

Tìm hiểu phong tục tập quán, tín ngưỡng người Nùng ở huyện AAA

Sự thay đổi trong tổ chức tang ma của người Mường hiện nay (Trường hợp ở AAA).

Bảo tồn và phát huy Lễ cấp Sắc của người Dao Thanh Phán, huyện AAA.

Di sản văn hóa dân tộc Thái xã Đông Sang với phát triển du lịch sinh thái ở AAA

Văn hoá ẩm thực Việt tại một số nhà hàng ở AAA

Phong tục tập quán người Mông trắng bản AAA

Hát ru trong đời sống sinh hoạt văn hoá cư dân châu thổ sông Hồng

Tục lệ cưới xin của người Thái ở tỉnh AAA

Nghề dệt và sản phẩm nghề dệt của người Tày xã AAA

Khai thác và quản lý các chương trình truyền hình nước ngoài trên địa bàn AAA

Quản lý di tích, danh thắng gắn với phát triển du lịch tỉnh AAA

Quản lý di sản văn hoá vùng AAA

Quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời trên địa bàn tỉnh AAA

Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên trên địa bàn tỉnh AAA

Bảo tồn và phát huy giá trị của Hát Xoan

Bảo tồn và phát huy dân ca Phú Thọ

Quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện AAA

Quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa dân ca quan họ AAA

Xây dựng đời sống văn hóa của dân tộc Mông ở huyện AAA trong chương trình xây dựng nông thôn mới

Tên đề tài luận văn cao học quản lý văn hóa

Tóm tắt Sách “Vì sao các quốc gia thất bại”

Tóm tắt Sách “Vì sao các quốc gia thất bại”

Trong cuốn sách, Acemoglu và Robinson đã quyết tâm tập trung vào những câu hỏi vĩ mô rộng lớn nhất: các thể chế đương đại hình thành từ các thể chế thời thuộc địa như thế nào, và tại sao khu vực giàu có nhất của thế giới 1500 năm trước lại là khu vực nghèo khó nhất hiện nay, hoặc làm thế nào để thuyết phục thành phần tinh túy giàu có tái phân bổ của cải của họ cho xã hội. Trong cuốn “Tại sao có quốc gia thất bại”, Acemoglu và Robinson đã nhắc lại và phân tích rộng hơn những bài báo trước kia của họ như “The Colonial Origin of Institutions” và “Reversal of Fortune,” nhưng trái với các nghiên cứu học thuật đó, cuốn sách mới không bàn về hồi quy hay lý thuyết trò chơi, mà được viết bằng thứ tiếng Anh dễ hiểu cho quảng đại quần chúng.

Đầu cuốn sách, nhà xuất bản dành 4 trang để đăng 13 lời khen ngợi của các nhà kinh tế / chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới dành cho cuốn sách, tôi thích nhất 3 nhận xét dưới đây vì nó bao quát được những nội dung chính của cuốn sách với chỉ vài dòng ngắn gọn:

(1) “Trong cuốn sách có phạm vi hết sức rộng này, Acemoglu và Robinson hỏi một câu hỏi đơn giản nhưng quan trọng, vì sao một số quốc gia trở nên giàu có và các quốc gia khác vẫn nghèo? Câu trả lời của họ cũng đơn giản – bởi vì một số chính thể phát triển các thể chế chính trị bao gồm hơn”. Lời nhận xét của Steven Pincus giáo sư của Yale University.

(2) “Acemoglu và Robinson – hai chuyên gia hàng đầu thế giới về phát triển – tiết lộ vì sao không phải địa lý, bệnh tật, hay văn hóa là cái giải thích vì sao một số quốc gia giàu và một số nghèo, mà đúng hơn là vấn đề của các thể chế và chính trị.” Lời nhận xét của Francis Fukuyama.

(3) “Hai nhà kinh tế học giỏi nhất và uyên bác nhất thế giới, hướng vào vấn đề khó nhất của mọi vấn đề: vì sao một số quốc gia nghèo và số khác giàu? Được viết với một sự hiểu biết sâu sắc về kinh tế học và lịch sử chính trị, đây có lẽ là tuyên bố mạnh mẽ nhất từng được đưa ra cho đến nay rằng ‘thể chế là quan trọng'”. Lời nhận xét của của giáo sư Joel Mokyr thuộc Northwestern University.

Cuốn sách tìm câu trả lời cho câu một hỏi đơn giản nhưng đã làm cho nhiều học giả đau đầu trong nhiều thế kỷ qua: vì sao một số quốc gia giàu và nhiều quốc gia nghèo?

Bằng cái nhìn bao quát và thâm nhập lịch sử của nhiều quốc gia đông tây kim cổ, hai giáo sư Daron Acemoglu và James A. Robinson lập luận rằng những quốc gia thất bại là những đất nước bị cai trị bởi một nhóm quyền thế tập trung, và những nhóm này đã tổ chức xã hội để phục vụ quyền lợi riêng của họ trong khi đại đa số quần chúng nhân dân phải trả giá.

Daron Acemoglu và James Robinson đã đưa ra câu trả lời và chứng minh dứt khoát rằng chính những thể chế kinh tế và chính trị do con người tạo ra là nguyên nhân của sự thành công hay không thành công về kinh tế.

Tập sách là công trình nghiên cứu trong 15 năm của hai nhà kinh tế học xuất sắc và uyên bác. Ấn bản tại VN do Nguyễn Thị Kim Chi dịch cùng sự hợp tác của Hoàng Thạch Quân và Hoàng Ngọc Lan, Vũ Thành Tự Anh hiệu đính. Tựu trung, điều cuốn sách muốn nhắm đến là những thể chế nào có những điều chỉnh, cải cách để dung hợp được các lợi ích kinh tế – chính trị và tạo điều kiện cho người dân làm ăn sinh sống được tốt nhất sẽ thành công. Như sách đã chỉ ra, ngay như Trung Quốc khi họ giải quyết được phần nào đó sự dung hợp này, họ đã có sự tăng trưởng thần kỳ. Và giờ đây họ vẫn tiếp tục giải quyết bài toán hể chế dung hợp của họ.

Đã có nhiều lý thuyết (giả thuyết) tìm cách giải đáp cho câu hỏi này hay giải thích hiện tượng bất bình đẳng thế giới nhức nhối đó. Có các giả thuyết về địa lý, văn hóa, sự thiếu hiểu biết của các nhà lãnh đạo quốc gia, nhưng các lý thuyết này đều không trả lời được một cách thỏa đáng cho câu hỏi đơn giản nêu trên. Acemoglu và Robinson đưa ra giả thuyết về các thể chế chính trị là cái quyết định chứ không phải địa lý, văn hóa, hay sự thiếu hiểu biết.

Trong cuốn sách ta có thể tìm được 2 điểm chính rút ra. Đây là hai điểm mà bản thân người viết cho là quan trọng nhất.

1. Câu trả lời cho câu hỏi Tại sao các quốc gia thất bại hay cụ thể hơn: Tại sao có nước giàu, có nước cố mãi mà vẫn nghèo (như Việt Nam chúng ta chẳng hạn).

Giàu hay nghèo không do vị trí địa lý, không do văn hóa, cũng không phải do chúng ta không biết giúp các nước nghèo trở nên giàu có hơn. Câu trả lời, theo tác giả, là do thể chế, mà cụ thể ở đây là thể chế chính trị. Về cơ bản ,thể chế chính trị sẽ quyết định thể chế kinh tế, và thế chế kinh tế quyết định con đường mà đất nước đó sẽ đi – giàu hơn hay nghèo đi.

Và có hai loại thể chế kinh tế.

Inclusion economic institution (Tạm dịch: Thể chế kinh tế có tính dung nạp). Ví dụ điển hình là Mỹ và Hàn Quốc. Kiểu thể chế kinh tế này khuyến khích mọi thành phần trong xã hội tham gia vào các hoạt động kinh tế, cho họ cơ hội phát huy tài năng và cống hiến. Quyền lực được chia sẻ rộng rãi. Để làm được như vậy, xã hội cần phải đảm bảo quyền sở hữu, luật pháp không thiên vị, và cung cấp các dịch vụ công cho mọi tầng lớp để đảm bảo sự công bằng trong quá trình trao đổi, giao dịch. Ngoài ra, xã hội cũng cần khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp mới và cho mọi người cơ hội lựa chọn ngành nghề của họ.

Extractive economic institution (Tạm dịch: Thể chế kinh tế có tính bòn rút): Trái ngược với thể chế có tính dung nạp, thể chế có tính bòn rút (extractive) tập trung quyền lực vào một số ít người hoặc nhóm lợi ích. Điển hình là Bắc Triều Tiên, hay Congo. Các nhóm lợi ích này nắm phần lớn tài sản quốc gia và khai thác tài nguyên của đất nước. Điều đáng lưu ý là kiểu thể chế kinh tế có tính bòn rút này thường đi cùng với thể chế chính trị cũng thuộc tính tương tự. Các nhóm lợi ích trong môi trường thể chế này thường chống lại phát triển của các thể chế có tính dung nạp vì nó đe dọa sự tồn tại và lợi ích của họ. Đó cũng là lí do vì sao một khi kiểu thể chế này đã hình thành thì rất khó để thay đổi. Ai mà chẳng muốn bảo vệ lợi ích của mình ,nhất lại là khi lợi ích đó rất rất lớn.

Thực tế cũng cho thấy nỗ lực của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (the World Bank) hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) bơm tiền vào với hi vọng thay đổi thế chế chính trị của một quốc gia, cơ bản là thất bại. Vì những người có quyền lực họ biết sẽ dùng số tiền đó làm gì có lợi cho họ, hơn là cho sự phát triển chung của đất nước.

Tóm lại, Daron và Robinson kết luận một quốc gia không thể giàu mạnh lên được là vì thể chế chính trị của nó có tính bòn rút tài nguyên, tập trung quyền lực vào một số ít người, thay vì phân tán quyền lực đó cho đại đa số người dân.

Mở đầu tập sách, tác giả đặt vấn đề: “Tại sao vào thời điểm năm 1980, Việt Nam lại nghèo như vậy? Tại sao sau đó Việt Nam lại phát triển nhanh chóng?”. Sự phát triển này được ghi nhận: “Việt Nam là một trong những thành công về kinh tế trong 30 năm qua. Mặc dù hiện nay, với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 3.400 đôla theo sức mua tương đương, tuy chưa phải là một nước giàu, song Việt Nam đã đạt được những thành tích giảm nghèo nổi bật: chỉ trong vòng ba thập kỷ, biến một quốc gia trong đó tình trạng nghèo là phổ biến trở thành một quốc gia với tỷ lệ nghèo chỉ còn khoảng 10% theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới. Bản thân thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam đã tăng gấp 10 lần trong giai đoạn này”.

Nghiên cứu lịch sử Đông – Tây xưa nay đã diễn ra trên các châu lục, Daron Acemoglu và James A. Robinson lập luận rằng, những quốc gia thất bại là những đất nước bị cai trị bởi một nhóm quyền thế tập trung, và những nhóm này đã tổ chức xã hội để phục vụ cho quyền lợi riêng của họ trong khi đại đa số quần chúng nhân dân phải trả giá. Thế lực chính trị bị tập trung trong một nhóm nhỏ, được sử dụng để tạo ra tài sản khổng lồ cho những người nắm giữ quyền lực.

Trong khi đó, những nước trở nên giàu có là vì người dân nước đó lật đổ giới quyền thế, những người kiểm soát quyền lực, và tạo ra một xã hội trong đó các quyền chính trị được phân phối rộng rãi, trong đó chính phủ có trách nhiệm giải trình và phải đáp ứng trước công dân, và trong đó đại đa số quần chúng có thể tranh thủ các cơ hội kinh tế.

Trong tập sách này, Daron Acemoglu và James Robinson chứng minh một cách dứt khoát rằng, chính những thể chế kinh tế và chính trị do con người tạo ra là nguyên nhân căn bản của sự thành công (hay không thành công) về kinh tế. Thành công kinh tế được duy trì nhờ chính phủ có trách nhiệm giải trình và đáp ứng nhanh chóng trước đại đa số quần chúng. Thể chế nào có những điều chỉnh, cải cách để dung hợp được các lợi ích kinh tế – chính trị và tạo điều kiện cho người dân làm ăn sinh sống được tốt nhất sẽ thành công.

Vậy làm thế nào để thay đổi một thể chế kinh tế-chính trị theo hướng tích cực?

Về cơ bản, rất khó để thay đổi một thể chế chính trị từ trạng thái bòn rút sang dung nạp.

Chúng ta thường hay ngồi với nhau và than vãn về “nhân tình thế thái” của đất nước, hết đổ lỗi cho lịch sử, rồi quay ra ước có một anh hùng nào đó bỗng nhiên xuất hiện, thay đổi đất nước mình chỉ qua một đêm.

Cũng có thể nếu chúng ta đủ may mắn thì một ngày nào đó một nhà lãnh đạo xuất chúng như George Washington hay Lý Quang Diệu chẳng hạn, sẽ xuất hiện, nhưng nếu không thì sao?
Daron và Robinson cho rằng không có một công thức chung nào cả. Tuy vậy một trong những điều sẽ giúp thay đổi một thể chế chính trị theo hướng tích cực, dù có thể rất lâu, đó là trao quyền cho người dân (empowerment). Trong thời đại Internet ngày nay thì việc sử dụng các kênh truyền thông như Facebook, Blog, Website…rất hiệu quả trong việc chia sẻ thông tin kiến thức, giáo dục cho người dân và bày tỏ quan điểm.

Như vậy, thay vì dùng những lời lẽ đao to búa lớn, hay ngồi than vãn, mơ mộng…nếu mỗi người chúng ta bắt đầu bằng một việc nhỏ, đơn giản như dịch một cuốn sách, một bài báo để giúp những người không có khả năng đọc ngoại ngữ như chúng ta có cơ hội tiếp cận các kiến thức mới, là những việc làm thiết thực nhất mà ai cũng có thể làm được. Viết blog hay dùng Facebook để chia sẻ thông tin hữu ích là cách mà nhiều người đã sử dụng thành công. Chúng ta cũng có thể học tập cách mà người Mỹ phát triển các tổ chức dân sự (civic organizations) và tạo lập các nhóm công tác xã hội-cộng đồng để giải quyết các nhu cầu thực tiễn của người dân mà chính quyền không thể đáp ứng. Các ý tưởng này chẳng hẳn không có gì là mới với đa số chúng ta.

Cuốn Sách Vì sao các quốc gia thất bại là sự dàn trải của 15 chương trong đó mỗi chương nêu lên thực trạng của những vấn đề thời sự bao gồm :

Chương 1: Gần Thế mà vẫn rất khác nhau
Chương 2: Các lý thuyết không hoạt động
Chương 3: Tạo ra Thịnh vượng và Nghèo khó
Chương 4: Những Khác biệt Nhỏ và các Bước ngoặt
Chương 5: “Tôi đã thấy Tương lai, và Nó Hoạt động”
Chương 6: Trôi Xa nhau
Chương 7: Điểm Ngoặt
Chương 8: Không trên Lãnh thổ của Chúng tôi
Chương 9: Sự Phát triển Đảo ngược
Chương 10: Sự truyền bá Thịnh vượng
Chương 12: Vòng Luẩn quẩn
Chương 13: Vì sao các Quốc gia Thất bại Ngày nay
Chương 14: Phá vỡ Vòng kim cô
Chương 15: Hiểu sự Thịnh vượng và Nghèo khó

Daron Acemoglu và James Robinson chứng minh một cách dứt khoát rằng chính những thể chế kinh tế và chính trị do con người tạo ra là nguyên nhân căn bản của sự thành công (hay không thành công) về kinh tế. Chỉ cần đơn cử một trong những ví dụ thú vị: đất nước Triều Tiên có thành phần dân tộc đồng nhất rõ rệt, thế mà dân chúng Bắc Triều Tiên thuộc nhóm nghèo nhất thế giới trong khi những người anh em Nam Triều Tiên của họ lại nằm trong số những người giàu nhất. Miền nam đã hun đúc nên một xã hội tạo ra được các động cơ khuyến khích, ban thưởng cho sự đổi mới sáng tạo, và cho phép mọi người tham gia vào các cơ hội kinh tế. Thành công kinh tế này được duy trì nhờ chính phủ trở nên có trách nhiệm giải trình và đáp ứng nhanh chóng trước đại đa số quần chúng. Đáng buồn thay, người dân miền bắc phải chịu đựng hàng thập niên đói nghèo, đàn áp chính trị, và những thể chế kinh tế vô cùng khác biệt. Sự khác biệt giữa hai miền nam bắc là do hệ thống chính trị đã tạo ra các quỹ đạo thể chế hoàn toàn khác nhau.

Dựa vào mười lăm năm nghiên cứu sâu sắc, Acemoglu và Robinson đã sắp xếp những bằng chứng lịch sử phi thường từ Đế chế La Mã, các thành bang Maya, Venice thời Trung cổ, Liên Xô, châu Mỹ Latinh, nước Anh, châu Âu, Hoa Kỳ, và chàu Phi để xây dựng một lý thuyết mới về kinh tế chính trị rất thích hợp cho những câu hỏi lớn của ngày hôm nay như:

– Trung Quốc đã xây dựng một cỗ máy tăng trưởng có tính chuyên quyền. Liệu đất nước này có tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao như thế và sẽ chế ngự phương Tây?

– Phải chăng những năm tháng huy hoàng nhất của nước Mỹ đã lùi vào quá khứ? Phải chăng nước Mỹ đang chuyển từ một vòng xoáy đi lên, trong đó những nỗ lực của giới quyền thế nhằm củng cố sức mạnh đã bị kháng cự, sang một vòng xoáy đi xuống làm giàu và trao quyền cho một nhóm thiểu số ít ỏi?

– Đâu là con đường hữu hiệu nhất giúp đưa hàng triệu người thoát khỏi hố sâu đói nghèo và đi tới thịnh vượng? Phải chăng là bằng lòng nhân đạo nhiều hơn của các nước phương Tây giàu có? Hay là bằng cách học lấy bài học hóc búa từ những ý tưởng đột phá của Acemoglu và Robinson về sự tương tác giữa các thể chế kinh tế và chính trị có tính dung hợp?

Vì sao các quốc gia thất bại?

Đã có nhiều giả thuyết tìm cách giải đáp cho câu hỏi này. Có các giả thuyết về địa lý, về văn hóa, về sự thiếu hiểu biết của các nhà lãnh đạo quốc gia, nhưng các lý thuyết này đều không trả lời được một cách thỏa đáng cho câu hỏi đơn giản nêu trên.

Acemoglu và Robinson đưa ra giả thuyết: các thể chế chính trị là cái quyết định chứ không phải địa lý, văn hóa, hay sự thiếu hiểu biết.

Lập luận đại thể như sau: một quốc gia giàu nếu phần lớn công dân tham gia hoạt động kinh tế, tạo ra nhiều của cải, luôn tìm cách mới để thực hiện việc cũ hiệu quả hơn.

Nhưng cái gì khiến các tác nhân kinh tế làm như vậy? Đó là các khuyến khích (incentive). Không có các khuyến khích, không có động cơ người ta không tích cực làm việc.

Song cái gì định hình các khuyến khích? Đó là các thể chế kinh tế. Các tác giả phân ra hai loại thể chế kinh tế: thể chế kinh tế bao gồm (inclusive) và các thể chế kinh tế khai thác (extractive).

Các thể chế kinh tế bao gồm: các quyền tài sản an toàn; luật pháp và trật tự; các thị trường và nhà nước thân thiện với thị trường; dễ tham gia hoạt động kinh tế; tôn trọng hợp đồng; đa số nhân dân được tiếp cận đến giáo dục và đào tạo và các cơ hội.

Ngược lại là các thể chế kinh tế khai thác: thiếu luật pháp và trật tự; các quyền tài sản không an toàn; các rào cản tham gia và các quy chế cản trở hoạt động của các thị trường và sân chơi không bằng phẳng.

Cuối cùng, các thể chế kinh tế hình thành trên cơ sở nào? Các thể chế chính trị định hình các thể chế kinh tế. Các tác giả phân biệt hai loại thể chế chính trị: bao gồm và khai thác.

Các thể chế chính trị bao gồm: tạo điều kiện cho sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào chính trị qua các tổ chức của mình cạnh tranh với nhau, đặt ra các ràng buộc và kiểm soát đối với các chính trị gia; nền pháp trị; nhà nước tập trung ở mức đủ để thực thi luật pháp và trật tự.

Ngược lại, các thể chế chính trị khai thác: tập trung quyền lực chính trị vào tay một số ít người; không có các ràng buộc lên các chính trị gia hay sự kiểm soát và cân bằng hay thiếu nền pháp trị.
Các thể chế kinh tế bao gồm thúc đẩy tăng trưởng qua: khuyến khích đầu tư; tận dụng sức mạnh thị trường trong phân bổ nguồn lực, sự tham gia của các hãng hiệu quả hơn, có khả năng tài trợ vốn cho kinh doanh khởi nghiệp; tạo điều kiện cho sự tham gia rộng rãi qua tạo cơ hội bình đẳng, để các công dân có cơ hội giáo dục và đào tạo; và quan trọng nhất khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới và chấp nhận sự phá hủy sáng tạo. Như thế, các thể chế bao gồm tạo ra các khuyến khích để các tác nhân kinh tế hoạt động hiệu quả và như thế tạo ra tăng trưởng bền vững, sự giàu có của các quốc gia.

Tăng trưởng, tuy vậy luôn kéo theo kẻ thắng và người thua. Những người thua thường chống đối quyết liệt. Và đấy chính là logic của các thể chế khai thác: những người có quyền thế sợ sự mất quyền lực, sợ sự phá hủy sáng tạo, sợ bị trở thành kẻ thua, nên tìm cách cản trợ thay đổi, cố duy trì các thể chế khai thác, ưu tiên giữ ổn định chính trị, giữ hiện trạng có lợi cho họ.

Dưới các thể chế khai thác có thể có tăng trưởng. Tăng trưởng dưới các thể chế khai thác chủ yếu diễn ra theo hai kiểu: chuyển nguồn lực từ khu vực năng suất thấp (nông nghiệp) sang khu vực có năng suất cao hơn (công nghiệp); các thể chế kinh tế có một số yếu tố bao gồm trong khi các thể chế chính trị vẫn mang tính khai thác.

Có ái lực mạnh giữa các thể chế chính trị bao gồm và các thể chế kinh tế bao gồm; cũng vậy đối với các thể chế khai thác; chúng tăng cường lẫn nhau và tạo ra trạng thái tương đối ổn định. Sự kết hợp của các thể chế chính trị khai thác với các thể chế kinh tế bao gồm có thể tạo ra tăng trưởng, nhưng cuối cùng sẽ quay về hai trạng thái ổn định hơn nêu trên. Tương tự, trạng thái các thể chế chính trị bao gồm kết hợp với các thể chế kinh tế khai thác cũng là trạng thái bất ổn định.

Phần cốt lõi thứ hai của lý thuyết là động học của sự thay đổi thể chế. Các tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của: các xung đột luôn xảy ra trong xã hội; sự trôi dạt thể chế (các thể chế ban đầu như nhau theo thời gian sẽ trôi dạt xa nhau); và tạo ra những sự khác biệt nhỏ về thể chế nhưng lại có thể quan trọng trong các bước ngoặt; các bước ngoặt (critical juncture) là bất cứ sự kiện lớn nào ảnh hưởng đến xã hội như tai họa thiên nhiên, dịch bệnh, khám phá mới, hay các cuộc cách mạng; và sự tùy thuộc ngẫu nhiên. Các xung đột dẫn đến sự trôi dạt thể chế, tại các bước ngoặt do những khác biệt nhỏ và sự tùy thuộc ngẫu nhiên chúng rẽ nhánh theo những con đường rất khác nhau và tạo ra sự phân kỳ thể chế.

Lý thuyết về thay đổi thể chế cũng như sự đồng vận của các thể chế bao gồm và sự đồng vận của các thể chế khai thác là các công cụ hùng mạnh mà các tác giả dùng để tìm câu trả lời cho câu hỏi đơn giản và hết sức cơ bản mà cuốn sách đặt ra: vì sao có một số quốc gia giàu và nhiều quốc gia nghèo, vì sao các phương pháp xóa nghèo hiện hành thường thất bại.

Cuốn sách này giúp ta hiểu thế giới và hiểu chính ta kỹ hơn và giúp chúng ta hành động để làm cho quốc gia không thất bại.

Tóm tắt Sách “Vì sao các quốc gia thất bại”

Một số vấn đề xung quanh khái niệm văn hóa truyền thông

Một số vấn đề xung quanh khái niệm văn hóa truyền thông

TS. Nguyễn Đức Hạnh∗∗

1. Con người và toàn bộ đời sống của xã hội loài người vừa là sản phẩm của tiến trình phát triển theo quy luật tự nhiên đồng thời vừa là kết quả của quá trình mà nó tách khỏi giới tự nhiên, tác động vào thế giới tự nhiên và sáng tạo nên đời sống xã hội theo ý chí của nó. Trong lịch sử xã hội loài người, điều có ý nghĩa nhất và cũng trở thành vấn đề đáng quan tâm hàng đầu chính là nền văn hóa mà con người đã sáng tạo ra trải rộng dài theo không gian và thời gian. Chính nhờ có văn hóa, nhờ có sự sáng tạo nền văn hóa mà con người trở thành con người với tư cách là động vật tư duy hay cũng có thể nói, chính vì là động vật tư duy nên con người đã trở thành sinh vật duy nhất có khả năng sáng tạo văn hóa.

Nghiên cứu để hiểu được con người và xã hội loài người cũng như cách thức mà con người sáng tạo ra cuộc sống chính là đi tìm câu trả lời cho những động cơ văn hóa của nó. Chính bởi do những động cơ văn hóa mà con người có thể đạt được những thành tựu đáng tự hào trong tất cả các lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật… Có thể nói văn hóa bao trùm lên mọi mặt, mọi khía cạnh của đời sống con người. Tuy nhiên chúng ta lại không thể có một khái niệm văn hóa để có thể sử dụng trong mọi trường hợp. Trên cơ sở một quan niệm chung rằng văn hóa là tất cả những yếu tố mang tính người, là sản phẩm do nhu cầu của xã hội loài người sản sinh ra, người ta tìm cách định nghĩa khái niệm văn hóa theo từng góc độ tiếp cận khác nhau nhằm đạt được những nhận thức phù hợp với khía cạnh cần quan tâm vượt qua những trở ngại về sự thiển cận hoặc tính mơ hồ. Người ta có thể phân loại và phân cấp toàn bộ nền văn hóa của loài người theo nhiều hệ thống khác nhau bởi những góc độ tiếp cận khác nhau thành những hiện tượng văn hóa cụ thể. Từ hiện tượng các cộng đồng người tập hợp thành dân tộc sẽ cho ta văn hóa dân tộc Việt, văn hóa dân tộc Hoa, văn hóa dân tộc Chăm… Hiện tượng các cộng đồng người sinh sống trong cùng điều kiện sẽ tạo nên những mô hình văn hóa mà từ đó chúng ta có thể nói tới văn hóa du mục, văn hóa buôn sóc, văn hóa làng xã … Từ các cộng đồng tôn giáo sẽ tạo nên văn hóa Phật giáo, văn hóa Hồi giáo, văn hóa Thiên chúa giáo… Từ những hiện tượng xã hội thuộc mọi lĩnh vực khác nhau trong đời sống cũng tạo nên những hiện tượng văn hóa đặc thù như: văn hóa giao thương, văn hóa hôn nhân, văn hóa quân sự, văn hóa chính trị, văn hóa truyền thông…

Trong vô số những hiện tượng xã hội thì hoạt động truyền thông có một vai trò và vị trí đặc biệt. Nhờ có hoạt động truyền thông mà loài người có thể kết nối được giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa cá nhân với cộng đồng và giữa các cộng đồng xã hội với nhau. Nếu con người không có được những kết nối như vậy thì không có sơ sở để hình thành xã hội loài người với những thành tựu kỳ diệu và tiềm năng vô tận như chúng ta đang thấy ngày nay. Nếu chúng ta ví xã hội loài người cũng là một thực thể giống như trái đất trong vũ trụ thì hoạt động truyền thông chính là bầu khí quyển đối với nó. Với vai trò là bầu khí quyển của đời sống, hoạt động truyền thông đã góp phần quan trọng để tạo ra, duy trì và thúc đẩy sự sống của xã hội loài người không ngừng phát triển. Tuy nhiên, bản thân hoạt động truyền thông cũng chính là một hiện tượng xã hội do con người sản sinh ra và vì thế nó gắn liền với nền văn hóa của nhân loại. Trên thế giới, nhất là từ nửa sau của thế kỷ XX,
trong giới nghiên cứu đã hình thành khái niệm Văn hoá truyền thông (Media Culture) dùng để chỉ những hiện tượng của đời sống xã hội do phương tiện truyền thông (và cũng là hoạt động truyền thông) chi phối (hay thậm chí thống trị). Một loạt những tác động ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực của hệ thống báo chí, truyền hình, phim ảnh, quảng cáo, internet…làm thay đổi hành vi, quan điểm, lối sống của con người trong những cộng đồng khác nhau đã trở thành đề tài nghiên cứu thường xuyên của giới chuyên môn.

2. Khi con người thực hiện các hoạt động truyền thông để liên hệ, gắn kết với nhau trong quá trình duy trì và phát triển xã hội, cũng có nghĩa là nó đồng thời đang thực hiện các hoạt động sáng tạo văn hóa. Và trong toàn bộ hệ thống các hiện tượng xã hội, truyền thông được coi là một hoạt động văn hóa đặc thù. Nó vừa là kết quả của một quá trình văn hóa vừa có sự liên hệ tác động qua lại đối với các hiện tượng văn hóa khác. Như vậy, thuật ngữ văn hóa truyền thông trước hết xác định truyền thông là một hiện tượng văn hóa. Bất kỳ một hiện tượng văn hóa nào cũng vừa mang tính phổ biến đồng thời lại vừa là một hiện tượng đặc thù. Nói tới văn hóa truyền thông nghĩa là muốn nói tới những hoạt động do con người tiến hành xuất phát từ động cơ văn hóa thuộc tính người và chính vì thế hoạt động truyền thông là họat động phổ biến của xã hội loài người. Song hoạt động truyền thông lại tuân theo những nguyên tắc riêng và mô hình riêng so với mọi lĩnh vực hoạt động khác mặc dù bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của con người cũng đều có quan hệ với truyền thông.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng những cơ sở đầu tiên xuất hiện truyền thông chính là từ khi con người hình thành nên ngôn từ và chữ viết. Người ta đã coi ngôn từ và chữ viết chính là những “kỹ thuật đầu tiên” trong lịch sử truyền thông. Mặc dù vấn đề hoạt động truyền thông trong thực tế phức tạp hơn rất nhiều, bởi vì bên cạnh truyền thông bằng lời người ta còn có thể nói đến truyền thông không lời (tức giao tiếp phi ngôn từ). Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó có truyền thông bằng ngôn từ, truyền thông phi ngôn từ và truyền thông biểu tượng. Truyền thông phi ngôn từ được hiểu là việc thực hiện truyền thông qua cử chỉ, điệu bộ và nét mặt… Các tác giả Brook và Health khẳng định rằng: Con người giao tiếp bằng ngôn từ để chia sẻ những thông tin mang tính nhận thức và để truyền bá kiến thức, nhưng họ phụ thuộc rất nhiều vào giao tiếp phi ngôn từ để chia sẻ tình cảm, xúc cảm và thái độ (1). Một số nghiên cứu đã cho thấy khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và giọng nói. 7% còn lại là từ những ngôn từ mà chúng ta nghe được. Khi chúng ta truyền đạt thông điệp thông qua phương tiện lời nói tới người khác chính là việc thực hiện truyền thông bằng ngôn từ. Truyền thông biểu tượng được thực hiện thông qua những sự vật và ký hiệu trung gian được chúng ta qui ước, định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định, ví dụ như những logo nhãn hiệu của hàng hóa hay các biểu tượng biểu trưng cho doanh nghiệp.

Đề cập đến khái niệm văn hóa truyền thông và xem truyền thông như là một hiện tượng văn hóa, chúng ta cũng cần tham khảo những nội dung liên quan đến khái niệm văn hóa. Quan niệm truyền thông là một hiện tượng văn hóa (một hiện tượng văn hóa đặc thù) chứ không chỉ như là một mặt, một khía cạnh của văn hóa là có ý nghĩa rất quan trọng về mặt phương pháp luận. Dĩ nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể coi hoạt động truyền thông là một bộ phận cấu thành đối với tổng thể nền văn hóa, nhưng để nhấn mạnh đến những yếu tố đặc thù của một hiện tượng văn hóa thì phải xem xét nó như một chỉnh thể mà thông qua đó những quy luật chung của văn hóa được vận hành. Chúng ta cần biết rằng một khái niệm văn hóa dù rộng hay hẹp, dù bao quát hay chuyên biệt đều có một nhân lõi chung coi văn hóa là tiêu chí để phân biệt giữa con người và động vật. Những khía cạnh văn hóa liên quan đến thuật ngữ văn hóa truyền thông sẽ ít sử dụng tới những nội dung mà được coi như
là đối tượng chuyên biệt của ngành văn hóa học mặc dù ít nhiều chúng đều có liên hệ với nhau. Có bao nhiêu công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến văn hóa thì cũng có bấy nhiêu cách định nghĩa về văn hóa. Ở đây, chúng tôi cho rằng những cách hiểu và cách định nghĩa về văn hóa mà theo quan điểm nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực truyền thông phải là những định nghĩa hay cách hiểu mang tính phổ quát và như vậy nó gắn liền với những quan điểm về nhân học văn hóa. Trước hết, văn hóa bao gồm đặc điểm mang tính người được học và có thể học được, vì thế những đặc điểm này được trao truyền thông qua cơ chế tinh thần và xã hội mà hầu như ít chịu qui định bởi các yếu tố sinh học. Thứ hai, trong quan niệm đầy đủ, văn hóa phải được coi là một tổng thể phức hợp.

Nói chung, chúng ta cần hiểu rằng khái niệm về văn hóa ra đời phần nào do sự tiếp xúc lẫn nhau giữa các xã hội trên quy mô toàn cầu và do phản ứng nhân văn nhằm tạo ra một hệ thống kiến thức mà qua đó con người có thể dễ dàng chấp nhận, hiểu biết lẫn nhau. Bản chất xã hội của loài người xét cho cùng là vượt quá giới hạn theo quan điểm văn hóa đơn thuần. Tuy nhiên, con người ngay từ khi chào đời dường như đã được sở hữu những phẩm chất bẩm sinh mà chúng ta dễ dàng nhận thấy nhưng cũng rất khó giải thích: đó là một năng lực bẩm sinh cho các mối quan hệ xã hội. Năng lực này không ngừng vận động dưới tác động của các đối tượng xung quanh, chính điều này đã tạo nên một nền tảng cho sự hình thành “năng lực và thói quen văn hóa”, hay cũng có thể gọi là “nhu cầu văn hóa” mang thuộc tính của con người trong suốt quá trình phát triển.

Leslie Alvin White, nhà nhân chủng học người Mỹ nổi tiếng đã phân tích sự phát triển từ hành vi động vật đến hành vi người và đã đưa ra một quan điểm: Động vật, chỉ đến khi biết sử dụng biểu trưng, mới trở thành con người. Xuất phát từ đặc trưng cơ bản ấy, L.White đã định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là cơ chế của các hiện tượng, sự vật, hành động, tư tưởng, cảm xúc. Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu trưng hoặc phụ thuộc vào biểu trưng đó” (2).

Trên cơ sở những quan điểm của L. White, trong Từ điển danh mục tiêu đề về phát triển văn hóa, UNESCO đã đưa ra định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu trưng qui định thế ứng xử của con người và làm số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”(3). Ở một chỗ khác, tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26-7 đến 6-8-1982 tại Mêhicô đã ra Tuyên bố về những chính sách văn hóa, trong đó có nêu ra cách hiểu về văn hóa: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội”(4).

Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua đã có nhiều nhà nghiên cứu nỗ lực đi tìm lời giải cho những vấn đề văn hóa liên quan đến quá trình phát triển của đất nước nói riêng cũng như của thời đại nói chung. Tác giả Trần Ngọc Thêm sau khi xác định 4 đặc trưng cơ bản đã nêu lên một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (5). Đây là định nghĩa có tính bao quát và rất “trừu tượng”, chính vì thế khả năng ứng dụng của nó đối với những lĩnh vực nghiên cứu cụ thể cũng mang tính “trừu tượng”. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đưa ra định nghĩa sau: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác”(6). Định nghĩa này là định nghĩa có tính chất thao tác luận để nghiên cứu một mô hình văn hóa trong sự tương quan với các mô hình văn hóa khác. Tác giả Đoàn Văn Chúc trong cuốn Văn hoá học, sau khi quan niệm rằng “Văn hóa chỉ định toàn thể những sản phẩm mang tính biểu tượng do một xã hội sản xuất” đã đưa ra định nghĩa văn hóa thông qua “tác phẩm văn hóa”. Theo tác giả thì “tác phẩm văn hóa là một loại sản phẩm tinh thần mang tính biểu tượng, có chức năng xã hội cơ bản là phản ánh và điều chỉnh các quan hệ xã hội, được sản xuất và tiêu thụ chủ yếu trong thời giờ rỗi, dưới các hình thức của dấu hiệu ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, đồ thị, âm thanh, hình ảnh hoặc lai pha, được bảo tồn và truyền bá một cách lâu dài và thường trực bằng những thiết chế thích hợp”(7). Như vậy, tác giả cuốn sách này đã xem xét văn hóa không phải ở các giá trị trừu tượng mà tiếp cận văn hóa thông qua những “sản phẩm” cụ thể, tức là tiếp cận theo hình thái sự vật. Mặc dù các định nghĩa và nhận thức về văn hóa rất đa dạng với phạm vi rộng hẹp khác nhau, song điều cơ bản nhất khi chúng ta đặt vấn đề nghiên cứu những hoạt động truyền thông như một hiện tượng văn hóa chúng ta đều có thể liên hệ và vận dụng các tri thức về văn hóa để tìm hiểu các yếu tố trong toàn bộ quá trình hoạt động truyền thông của xã hội loài người.

3. Hiện nay trong một số công trình nghiên cứu về báo chí và truyền thông thường tồn tại nhiều cách hiểu và cách sử dụng khác nhau đối với hai thuật ngữ thông tin và truyền thông. Tác giả Claudia Mast (CHLB Đức), trong cuốn Truyền thông đại chúng, những kiến thức cơ bản, (Trần Hậu Thái chuyển dịch tiếng Việt), đã dùng khái niệm thông tin và phân biệt với khái niệm truyền thông. Tuy nhiên các nội dung gắn với khái niệm thông tin dường như trùng với các nội dung gắn với khái niệm truyền thông thường thấy trong cách sử dụng của một số tác giả khác. Trong cuốn sách của mình, Claudia Mast thường sử dụng khái niệm thông tin thay cho truyền thông và thông tin đại chúng thay cho truyền thông đại chúng. Có lẽ đối với tác giả, khái niệm truyền thông trực tiếp gắn với hành vi chứ không phải gắn với những vấn đề thuộc về nội dung. Ví dụ, tác giả viết: “Báo chí là thông tin và thông tin là sự liên hệ quan trọng giữa con người hoặc thông qua ngôn ngữ, gọi là thông tin
truyền khẩu hoặc qua các dấu hiệu khác như bắt chước và dùng điệu bộ, từ chuyên môn gọi là thông tin phi ngôn ngữ”(8). Thực ra trong tiếng Anh, sự phân biệt ý nghĩa giữa thông tin và truyền thông được thể hiện bằng hai từ khác nhau là Information (thông tin) và Communication (truyền thông). Ngày nay, thuật ngữ “thông tin” (information) được sử dụng khá phổ biến. Người ta hiểu Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội. Bản thân thông tin chưa phải là truyền thông, tự nó chưa tạo nên cái gọi là truyền thông. Chỉ khi nào có sự tham gia của ý chí con người và truyền đạt thông tin một cách có định hướng, có mục tiêu thì mới hình thành nên hiện tượng gọi là truyền thông. Ví dụ trong tế bào sinh vật có chứa đựng các phân tử acid deoxyribonucleic (ADN) mang thông tin di truyền mã hóa cho hoạt động sinh trưởng và phát triển của các dạng sống, nhưng tự bản thân những thông tin di truyền này không thể tạo nên hiện tượng truyền đạt và giải mã thông tin. Thông tin có thể được lưu trữ trên những dạng vật liệu khác nhau như được khắc trên đá, được ghi lại trên giấy, trên phim ảnh, trên băng từ, đĩa từ… Thông tin có thể được hiểu là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của hành vi. Con người luôn có nhu cầu thu thập thông tin bằng nhiều cách khác nhau. Trong xã hội hiện đại, người ta thu nhận thông tin bằng cách đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, giao tiếp với người khác… Trong khi đó, Truyền thông (communication) là một quá trình mà thông tin được chia sẻ và cũng là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng mô hình truyền thông đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, quá trình truyền đạt thông tin cũng là quá trình tạo nên sự trao đổi liên kết giữa người gửi và người nhận.

Từ điển Wikipedia định nghĩa: “Truyền thông không chỉ là quá trình chia sẻ thông tin. Trong phần lớn trường hợp, các quá trình truyền thông là sự tương tác bằng dấu hiệu trung gian và giải mã. Ba mức độ quy tắc tín hiệu học thống trị các quá trình truyền thông là: cú pháp, thực dụng và ngữ nghĩa. Thế nên, truyền thông phần nào là một loại tương tác xã giao có ít nhất hai tác nhân tương tác cùng chia sẻ chung một bộ các ký hiệu và chung một quy tắc tín hiệu học”.

Các tác giả trong cuốn Truyền thông đại chúng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển đã phân biệt danh từ Thông tin với tư cách là nội dung của truyền thông và động từ Thông tin với tư cách là hoạt động truyền thông. Từ đó, trên cơ sở của từ tiếng Anh ‘communication’ (nguyên gốc Latinh ‘communicare’) các tác giả đã nêu lên một cách hiểu về khái niệm Truyền thông là: “ một quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết, qua đó liên kết với nhau” (9). Các tác giả trong cuốn Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản sau khi giới thiệu hàng loạt định nghĩa về khái niệm truyền thông do các học giả nước ngoài (chủ yếu là các học giả phương Tây) nêu lên và sử dụng tương đối phổ biến trong thế kỷ 20, đã đưa ra một định nghĩa về truyền thông như sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng
cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội” (10).

Trong quá trình tiếp xúc với các tài liệu nước ngoài về lĩnh vực thông tin và truyền thông chúng ta thường gặp từ Media (tiếng Anh). Bản thân từ media có nhiều nghĩa và nhiều cách sử dụng, trong đó có nghĩa là vật trung gian, môi trường trung gian, vật môi giới và cũng có nghĩa là phương tiện. Trong những văn cảnh nội dung liên quan đến lĩnh vực thông tin và truyền thông, từ media thường được hiểu là phương tiện truyền thông (chính vì vậy từ multi-media đã được dịch ra tiếng Việt là ‘truyền thông đa phương tiện’).

Tác giả Jostenim Gripsrud, giáo sư nghiên cứu truyền thông người Na Uy, năm 2002 đã cho xuất bản cuốn Understanding Media Culture, (tạm dịch là: Hiểu biết về văn hóa truyền thông). Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu về toàn bộ cấu trúc của hoạt động truyền thông đại chúng về các phương diện chủ yếu như mối liên hệ giữa khán giả và phương tiện truyền thông đại chúng; Về các phương pháp tiếp cận văn bản truyền thông trong lịch sử; Về bối cảnh và các điều kiện xã hội, điều kiện công nghệ trong tương quan với lĩnh vực sản xuất truyền thông. Như tiêu đề của cuốn sách, tác giả gắn liến cấu trúc và quá trình của hoạt động truyền thông đại chúng như tổng thể một quá trình văn hóa, một hiện tượng văn hóa. Hiện tượng văn hóa này vừa là sản phẩm của môi trường văn hóa có tính lịch sử cụ thể vừa có sự liên hệ tương tác với các hiện tượng văn hóa khác và có tác động lên diện mạo của đời sống văn hóa, xã hội (11). Và theo những gì mà cuốn sách đề cập thì dường như thuật ngữ Media trong tiêu đề của tác phẩm, trong nhiều tình huống có thể được thay thế bởi thuật ngữ Communication. Tuy nhiên, với thuật ngữ Media các nhà nghiên cứu thường liên hệ đến một phương diện cụ thể của hoạt động truyền thông đó là các phương tiện thông tin đại chúng (Tiếng Anh: mass media).

Chúng ta biết rằng tương tự như con người, ở động vật cũng có những hiện tượng “trao đổi thông tin”, đó là những tiếng kêu gọi đàn, những tín hiệu chỉ dẫn nguồn thức ăn hay báo động nguy hiểm… Tuy nhiên các nhà nhân loại học đã coi sự phức tạp của năng lực và tập quán truyền thông như một thước đo những điểm khác biệt giữa loài người và các hình thái sống khác. Trong khi nhiều động vật là hiện thân của một hình thái trao đổi thông tin nào đó trong các hành vi cơ bản của chúng thì từ lâu người ta đã cho rằng chỉ có con người mới có khả năng sử dụng hình thức truyền thông phức tạp, đó là NGÔN NGỮ. Nhiều cuộc thử nghiệm được các nhà nghiên cứu tiến hành đã cho kết quả đáng tin cậy cho rằng không một loài nào có thể phát triển năng lực truyền thông với cấp độ phức tạp như con người. Bằng việc phát triển các lý thuyết của mình về chức năng các ký hiệu, nhà ký hiệu học, đồng thời là nhà ngôn ngữ học Ferdinand de Saussure và nhà triết học thực dụng Charles Peirce đã đưa ra nền tảng cho những nghiên cứu sau này về cơ cấu chung của truyền thông. Nhà nhân loại học Edward Sapir đã đưa ra một trong các công thức chung sớm nhất về một phương pháp tiếp cận truyền thông bằng hành vi, ông cho rằng “mỗi mô hình văn hóa và mỗi hành động đơn lẻ trong hành vi xã hội đều liên quan đến truyền thông xét cả về nghĩa đen hay nghĩa bóng” (12).

Nhân loại học đã cố gắng dùng tư liệu để chứng minh tính phức tạp của tập quán truyền thông trong tất cả các nền văn hóa. Trong những năm gần đây, các nhà nhân loại học đã chuyển sang các mô hình truyền thông lưu tâm tới tính sáng tạo của con người và tính bất định vốn có trong tất cả các họat động truyền thông. Các nghiên cứu về cấu trúc ẩn dụ trong truyền thông cho thấy cách thức con người cố gắng khắc phục tính không chính xác thông qua hình tượng. Để phân tích năng lực truyền thông của con người, các nhà nghiên cứu đã ưu tiên lựa chọn phương pháp được gọi là phân tích ngôn bản. Phương pháp tiếp cận này thừa nhận quá trình truyền thông mang tính hợp tác giữa hai hay nhiều người. Các phương pháp tiếp cận lấy ngôn bản làm trung tâm không coi truyền thông là một hệ thống các cách truyền thông điệp tách biệt từ người này sang người kia. Thay vào đó, các phương pháp này lại coi truyền thông là một quá trình nổi bật lên mà khi tiếp diễn nó liên
tục thay đổi hình thái và mục đích.

4. Vấn đề nghiên cứu văn hóa truyền thông trong những năm qua đã được nhiều học giả quan tâm ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên cách hiểu về khái niệm văn hóa truyền thông trong thực tế vấn còn chưa có sự thống nhất và thực sự vẫn còn đang là một đề tài mới mẻ với nhiều người. Trong chương trình giảng dạy tại các khoa báo chí và truyền thông thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền hay tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh mặc dù các sinh viên được trang bị đầy đủ kiến thức về các môn cơ bản, các môn cơ sở ngành và kiến thức chuyên ngành nhưng chưa có một chương trình trang bị kiến thức về văn hóa truyền thông như một môn học riêng biệt.

Trong đời sống hàng ngày và trên các phương tiện thông tin đại chúng, đây đó chúng ta bắt gặp nhiều người sử dụng cụm từ văn hóa truyền thông theo cách tự phát. Đây là cách hiểu đơn giản do ảnh hưởng thói quen ngôn ngữ hàng ngày, như chúng ta thường nói đến văn hóa công sở, văn hóa bãi tắm, văn hóa giao thông… Hiện nay, trong thực tế có những người hiểu một cách đơn giản rằng văn hóa truyền thông là những cách ứng xử “có văn hóa” của những người làm truyền thông đối với các đối tượng xã hội và ngược lại. Ví dụ: tháng 6 năm 2005, trên báo điện tử VIETNAMNET có đăng một bài báo với tiêu đề Văn hóa truyền thông có cần hội nhập? Bài báo này là sự phê bình thái độ coi thường các nhà báo của sở Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh khi sở này không tạo điều kiện cho các nhà báo tiếp cận các cuộc họp của đơn vị mình để đưa tin. Và bài báo nhận định: “Ý thức về vai trò truyền thông trong DN (doanh nghiệp) có thể do mỗi người cảm nhận khác nhau, song thật khó có DN nào thành công mà không có sự hợp tác tốt với phương tiện truyền thông đại chúng. Ông chủ thương hiệu cà phê Trung Nguyên, một DN rất trẻ nhưng đã có những thành công nhất định nhờ truyền thông tỏ vẻ rất ngạc nhiên khi biết có những DN cư xử với PV “hết sức cổ hủ” như vậy” (13). Dĩ nhiên, mối liên hệ và tương tác giữa những người hoạt động báo chí, truyền thông và các đối tượng kinh tế xã hội cũng là một khía cạnh biểu hiện của văn hóa truyền thông, nhưng nếu chỉ hiểu văn hóa truyền thông là như vậy thì chưa đủ. Một ví dụ khác, năm 2007 báo điện tử DANTRI của Hội khuyến học Việt Nam có đăng một bài báo mổ xẻ về Văn hóa bóng đá của người Việt Nam. Sau khi phân tích rất nhiều bất cập về Văn hóa, như văn hóa cầu thủ quá thấp, văn hóa người hâm mộ
quá cực đoan và nặng tính chất “a dua” dẫn đến hậu quả đáng tiếc là những tài năng bóng đá như cầu thủ Văn Quyến vi phạm pháp luật và buộc phải bị loại khỏi danh sách đội tuyển mà tác giả gọi là “cái chết” của danh thủ, tác giả bài báo đi đến kết tội và phê phán văn hóa truyền thông: “nói gì thì nói cũng không thể phủ nhận rằng trong “cái chết” của Quyến có một phần lỗi của truyền thông. Nếu những tờ báo không quá “lăng-xê” Quyến, nếu người ta không quá tâng bốc Quyến để đẩy một đứa trẻ thiếu hành trang đi tới chỗ tự tôn, ngộ nhận thì Quyến có “chết đau” như lúc này không?…”(14). Quả thực tất cả những vấn đề xảy ra trong hoạt động báo chí ở bất cứ đâu, tại bất cứ thời điểm nào cũng đều thuộc về hiện tượng văn hóa truyền thông. Nhưng văn hóa truyền thông hiểu một cách đầy đủ phải là một chỉnh thể, trong đó bao gồm cả những điều được coi là có giá trị và cả những điều chưa hoàn thiện có nguyên nhân sâu xa từ chính bản thân đời sống xã hội.
Năm 2008, tại hội thảo “Mỹ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” do trường ĐH Mỹ Thuật, Viện Mỹ Thuật tổ chức tại Hà Nội, tác giả Phạm Trung có bài nghiên cứu Ảnh hưởng của văn hóa truyền thông đối với mỹ cảm của giới trẻ Việt nam hiện nay. Trong bài này, tác giả đã nhìn nhận truyền thông như một hiện tượng văn hóa có tác động mạnh đến mỹ cảm của giới trẻ, cụ thể là trong thị hiếu nghệ thuật của giới trẻ. Tác giả nêu ra ở đây trường hợp thanh thiếu niên nhiệt tình tiếp nhận nhạc Hip Hop (âm nhạc và văn hóa đường phố của Mỹ) và Manga (Truyện tranh Nhật
Bản), từ đó lói sống sinh hoạt và thị hiếu của lớp trẻ có xu hướng thay đổi theo hướng thích nghi với sự tiêu dùng những sản phẩm văn hóa mới được du nhập. Ở đây tác giả nhấn mạnh đến những điều kiện của công nghệ thông tin hiện đại đã tạo nên sức mạnh ảnh hưởng to lớn của truyền thông đại chúng (15). Điều đáng chú ý ở đây là tác giả đã coi những hiện tượng văn hóa đại chúng là có liên hệ chặt chẽ với truyền thông đại chúng (nghĩa là nền văn hóa hiện đại trên một mức độ nào đó chính là sản phẩm của văn hóa truyền thông hiện đại).

Một số sách của các tác giả khác nghiên cứu về truyền thông đại chúng và ở những mức độ nhất định cũng đã đề cập đến những bình diện khác nhau của văn hóa truyền thông. Có thể kể tên một số tác phẩm có nội dung liên quan đến vấn đề này như: Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay của tác giả Trần Ngọc Tăng (16); Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa xã hội của tác giả Lê Thanh Bình(17); Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam của tác giả Bùi Hoài Sơn (18); Truyền thông đại chúng và phát triển
xã hội của tác giả Lê Thanh Bình(19); Cẩm nang đạo đức báo chí, do hai tác giả Tạ Ngọc Tấn và Đinh Thị Thúy Hằng biên soạn (20)… Tuy nhiên trong các công trình như chúng tôi đề cập trên đây không đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu toàn diện các vấn đề của văn hóa truyền thông. Có thể nói, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về văn hóa truyền thông một cách toàn diện tức là nghiên cứu truyền thông như một hiện tượng văn hóa và tìm ra trong đó những tiêu chí đặc thù để tiếp cận những vấn đề của truyền thông từ góc độ văn hóa một cách phù hợp và thích đáng nhất.

Một cách tiếp cận tương đối đầy đủ và hệ thống về lĩnh vực văn hóa truyền thông trước hết được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, nhất là trong giai đoạn những thập kỷ cuối của thế kỷ 20. Trong số những tác giả đáng chú ý, trước hết chúng tôi muốn nhắc đến Raymond Williams (1921 – 1988), là một nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình về chính trị, văn hóa và truyền thông đại chúng người xứ Wales. Các công trình của ông đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến các vấn đề văn hóa và chính trị. Công trình nghiên cứu mang tên Văn hóa và xã hội, xuất bản lần đầu tiên năm 1958 và sau đó được dịch và xuất bản tại các nước Italia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và CHLB Đức ngay lập tức làm cho tác giả trở nên nổi tiếng (21). Tác giả trở thành một học giả có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu chính trị, văn hóa xã hội và truyền thông ở Tây Âu từ nửa sau của thế kỷ 20. Năm 1974, Raymond Williams tiếp tục cho xuất bản cuốn sách Truyền hình: Công nghệ và hình thức văn hóa, nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực truyền hình, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò và ý nghĩa của sự phát triển công nghệ cũng như ảnh hưởng của truyền hình đối với nền tảng văn hóa của đời sống xã hội hiện đại (22).

Trong số những học giả có ảnh hưởng quan trọng đến giới nghiên cứu văn hóa truyền thông là Clifford James Geertz (1926–2006), nhà nhân học người Mỹ mà với những nghiên cứu thực địa ban đầu của ông tại Indonesia, nơi ông đã xây dựng nên khái niệm Negara giúp giải thích toàn bộ các hoạt động văn hóa và chính trị trong vùng Đông Nam Á. Một trong những công trình tiêu biểu của ông là cuốn The Interpretation of Cultures: Selected Essays (Tạm dịch là ‘Giải thích (học) về văn hóa – tuyển tập tiểu luận’ được xuất bản năm 1973. Với công trình này, ông được coi là người đã đóng góp lớn trong việc chuyển đổi tư duy trong các ngành xã hội và nhân văn, từ lối suy nghĩ tìm qui luật nhân quả sang tư duy xã hội học diễn giải (interpretative), đặt sự vật và hiện tượng trong hệ qui chiếu bản địa của ý thức địa phương. Nhìn xã hội qua văn hóa, và đặc biệt là những biểu tượng (symbol) phổ biến và đặc trưng trong nền văn hóa đó, Clifford cũng được coi là cha đẻ cho ngành nhân học biểu tượng và văn hóa học. Văn hóa được định nghĩa là “một hệ thống các khái niệm nối tiếp được diễn đạt thông qua các hình thức biểu tượng với các phương tiện mà người ta dùng để liên lạc, ghi nhớ và phát triển kiến thức và thái độ đối với cuộc sống” (23). Những vấn đề mà Clifford quan tâm và đặt ra những câu hỏi lớn về sự đa dạng của chủng tộc và bản chất khách quan của hệ thống trật tự xã hội đã góp phần quan trọng đối với các nghiên cứu văn hóa truyền thông với tư cách là một trong những lĩnh vực hoạt động có tính quyết định đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại.

Một trong những học giả nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết liên quan đến lĩnh vực văn hóa truyền thông là Robert Stam Giáo sư tại Đại học New York University. Ông là chuyên gia nghiên cứu và giảng dạy về văn học Pháp, văn học so sánh và về các vấn đề liên quan lý thuyết và lịch sử phim ảnh. Những công trình quan trọng của ông có liên quan đến văn hóa truyền thông là các cuốn Subversive Pleasures: Bakhtin, Cultural Criticism, and Film, (tạm dịch là ‘Người làm lật đổ thú vị: Bakhtin, phê bình văn hóa và phim ảnh’), xuất bản năm 1989 (24); và Unthinking Eurocentrism: Multiculturalism and the Media, (tạm dịch là ‘Phản thuyết Châu Âu là Trung tâm: Đa văn hóa và truyền thông’) viết chung với Ella Shohat, xuất bản năm 1994 (25). Trong các công trình này Robert dành sự quan tâm đặc biệt tới những vận động văn hóa gắn liền với các hình thức truyền thông đại chúng có ảnh hưởng rộng rãi đến đời sống tinh thần của công chúng hiện đại. Trong mấy chục năm trở lại đây, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến văn hóa truyền thông ngày càng tăng lên. Có thể bắt gặp rất nhiều những công trình nghiên cứu tập trung vào chủ đề văn hóa truyền thông trên rất nhiều khía cạnh và những cấp độ khác nhau. Năm 1995, Giáo sư người Mỹ Douglas Kellner cho xuất bản cuốn Văn hóa truyền thông (Media culture), trong đó tác giả đề cập đến những nội dung khác nhau liên quan đến các phương pháp tiếp cận mới về văn hóa, mối liên hệ giữa văn hóa truyền thông và đời sống chính trị xã hội, những vấn đề về chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong văn hóa, xã hội và truyền thông (26). Trước đó, năm 1989, Giáo sư Vincent Porter công bố trên tạp chí Văn hóa truyền thông và xã hội một bài viết nhan đề “Việc sắp đặt lại của truyền hình: tính đa nguyên, tính hợp pháp và thị trường tự do ở Mỹ, Tây Đức, Pháp và Vương quốc Liên hiệp Anh” đã chỉ rõ những tác động mạnh mẽ của hệ thống truyền thông (truyền hình) đối với toàn bộ đời sống văn hóa xã hội ở Tây Âu trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ 20 (27). Liên tiếp trong những thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ 20, nhiều công trình nghiên cứu tập trung về những vấn đề rất đa dạng của văn hóa truyền thông.

Chúng ta có thể kể một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: R.Collins, Truyền thông, văn hóa và xã hội, London, Sage Publications, 1986; David Morley, Truyền hình, khán giả và nghiên cứu văn hóa (‘Television, audiences and cultural studies’), London and New York: Routledge, 1992; M. Skovmand and K.C. Schroder, Văn hóa truyền thông: đánh giá về truyền thông đa quốc gia, London and New York: Routledge, 1992; McGuigan, Jim, Văn hóa và không gian công cộng (‘Culture and the Public Sphere’), London and New York: routledge, 1996; Jostenim Gripsrud, Nghề làm báo và văn hóa đại chúng London, Sage Publications, 1992; Cũng tác giả Jostenim Gripsrud có công trình đáng chú ý Hiểu biết về văn hóa truyền thông xuất bản năm 2002 mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên…
Từ những vấn đề của thực tiến và lý luận đã được nêu ra trên đây, chúng tôi thử đưa ra một định nghĩa có tính chất tổng quát theo cách hiểu của mình về văn hóa truyền thông như sau: Toàn bộ quá trình xuất hiện và biến đổi của hiện tượng truyền thông trong đời sống nhân loại cùng sự xác lập những mối tương tác của nó đối với các hiện tượng xã hội khác được gọi là Văn hóa truyền thông.

5. Bản thân khái niệm văn hoá truyền thông là một khái niệm được hình thành trên cơ sở những tác động qua lại có tính thực tiễn của hoạt động truyền thông lên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Cũng như nhiều hiện tượng xã hội khác, để có được một nhận thức khách quan đối với các vấn đề của hiện tượng Văn hoá truyền thông cần phải đồng thời có một quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể. Đây là một quá trình hoàn thiện nhận thức một cách có điều kiện và không phải nhất thành bất biến. Chính một quan điểm linh hoạt phù hợp với thực tiễn sẽ giúp điều chỉnh hoạt động truyền thông vào các mục tiêu phát triển xã hội phù hợp với đặc điểm văn hóa của dân tộc và thời đại đối với từng quốc gia, từng khu vực trong từng giai đoạn cụ thể.

Xã hội hiện đại là xã hội bùng nổ truyền thông, nếu không có kiến thức văn hóa truyền thông vững vàng con người không những không làm chủ được những thành quả của văn minh nhân loại mà có thể còn bị những tác động tiêu cực của truyền thông chi phối. Con người hiện đại là con người của môi trường truyền thông đa dạng và phong phú. Cùng với sự phát triển của xã hội, những kiến thức về văn hóa truyền thông cũng trở nên phong phú và ngày càng phức tạp, khó nắm bắt. Những kiến thức và nhận thức về văn hóa truyền thông sẽ giúp cho con người chủ động và trở nên tích cực trong môi trường sống. Tìm hiểu một số vấn đề xung quanh khái niệm văn hóa truyền thông, chúng tôi muốn thông tin, trao đổi tìm tiếng nói chung rộng rãi đối với những người quan tâm. Đồng thời hy vọng từ đó tiến tới đặt vấn đề trang bị kiến thức liên quan đến văn hóa truyền thông cho sinh viên các ngành báo chí hiện nay. Đối với lĩnh vực họat động báo chí, văn hóa truyền thông là một
trong những kiến thức nền tảng để các nhà báo mở rộng và nâng cao tri thức xã hội đồng thời biết phát huy tốt sức mạnh của vũ khí truyền thông trong hoạt động thực tiễn.

Tài liệu tham khảo
1. Dẫn theo Nguyễn Quang, Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, H, 2008.
2. White, Leslie Alvin, The Science of Culture: A study of man and civilization (Khoa học văn hoá: Nghiên cứu con người và nền văn minh), Farrar, Straus and Giroux, 1949.
3. Dẫn theo Hoàng Vinh Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta, Nxb. Văn hoá Thông tin, H, 1999, tr 18 -21; tr 36 – 37.
4. Dẫn theo Trần Quốc Vượng (chủ biên) Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, H,
2003, tr 23 -24.
5. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, H, 1997, tr 10.
6. Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, H, 2002, tr 19 – 20).
7. Đoàn Văn Chúc, Văn hoá học, Nxb Văn hoá Thông tin, H, 1997,tr. 56- 61.
8. Claudia Mast, Truyền thông đại chúng, những kiến thức cơ bản, Nxb Thông Tấn, Hà Nội, 2003, tr.8
9. Lưu Văn An (chủ biên) Truyền thông đại chúng trong hệ thông tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008, tr. 10.
10. Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006, tr. 14-15.
11. Jostenim Gripsrud Understanding Media Culture, (Hiểu biết về văn hóa truyền thông), Published house Arnold, London, 2002.
12. (Dẫn theo) Thomas Barfield (1997), The Dictionary of Anthropoligy (Từ điển Nhân học), Harvard.
13. www.vietnamnet.vn/ (2005)
14. www.dantri.com.vn/ (2007)
15. Phạm Trung, Ảnh hưởng của văn hóa truyền thông đối với mỹ cảm của giới trẻ Việt nam hiện nay, bài tham luận tại Hội thảo “Mỹ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” do trường ĐH Mỹ Thuật, Viện Mỹ Thuật tổ chức tại Hà Nội, 2008.
16. Trần Ngọc Tăng, Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2001
17. Lê Thanh Bình, Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa – Thông tin, H, 2005
18. Bùi Hoài Sơn, Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H, 2008
19. Lê Thanh Bình, Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2008
20. Tạ Ngọc Tấn, Đinh Thị Thúy Hằng – Cẩm năng đạo đức báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông và Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam xuất bản năm 2009
21. Williams,Raymond, Culture and Society (‘Văn hóa và xã hội’), London, Chatto and Windus, 1958. New edition with a new introduction, New York, Columbia University Press, 1963
22. Williams, Raymond, Television: Technology and Cultural form (‘Truyền hình: Công nghệ và hình thức văn hóa’), Technosphere Series, London, Collins, 1974
23. Clifford Geertz, The Interpretation of Cultures (‘Giải thích học về văn hóa’), New York: Basic Books, 1973
24. Stam, Robert, Subversive Pleasures: Bakhtin, Cultural Criticism, and Film ( ‘Người làm lật đổ thú vị: Bakhtin, phê bình văn hóa và phim ảnh’), Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1989
25. Stam, Robert (with Ella Shohat):Unthinking Eurocentrism: Multiculturalism and the Media (‘Phản thuyết Châu Âu là Trung tâm: Đa văn hóa và truyền thông’), Routledge, 1994
26. Kellner, Douglas, MEDIA CULTURE (Culture Studies; Identity and politics; Between the modern and the postmodern) First Published 1995 by Routledge
27. Porter, Vincent, “Việc sắp đặt lại của truyền hình: tính đa nguyên, tính hợp pháp và thị trường tự do ở Mỹ, Tây Đức, Pháp và Vương quốc Liên hiệp Anh”, Văn hóa truyền thông và xã hội 11 (1/1989), 5 -27

Một số vấn đề xung quanh khái niệm văn hóa truyền thông

Khái niệm vị thế xã hội và vai trò xã hội

Khái niệm vị thế xã hội và vai trò xã hội

1. Vị thế xã hội

+ Vị thế xã hội là vị trí xã hội với những trách nhiệm và quyền lợi gắn kèm theo (địa vị xã hội). Nói cách khác, vị thế xã hội chính là một khái niệm tổng hợp nhằm chỉ vị trí xã hội cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng.

+ Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau do đó họ cũng có thể có nhiều vị thế xã hội khác nhau. Khi vị trí xã hội của họ thay đổi thì vị thế cũng thay đổi. Mặc dầu có nhiều vị thế xã hội nhưng các cá nhân luôn có một vị thế chủ đạo xác định rõ chân dung xã hội của họ.

+ Các loại vị thế xã hội:
* Vị thế gán cho (vị thế người phụ nữ)
* Vị thế đạt được (từ một học sinh nghèo trở thành một giám đốc)
* Vị thế vừa gán cho vừa đạt được (vị thế của một giáo sư)
* Vị thế chủ yếu – vị thế thứ yếu

2. Vai trò xã hội

– Định nghĩa: Vai trò xã hội là chức năng xã hội, là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan bởi vị thế xã hội của cá nhân trong hệ thống các quan hệ xã hội hoặc hệ thống các quan hệ giữa các cá nhân. Hay nói cách khác vị thế là chỗ đứng của vài trò.

– Đặc trưng của vai trò xã hội:

+ Vai trò là sự kết hợp của khuôn mẫu tác phong bên ngoài (hành động) và tác phong tinh thần ở bên trong (kiến thức, sự suy nghĩ). Nó không phải bao giờ cũng là những cơ chế tác phong độc đoán, cứng rắn, thụ động (như các vai trò trong một số nghi thức tôn giáo) mà có tính co giãn (có thể lựa chọn, lầm lẫn…), chủ yếu chịu sự tác động từ phía chủ thể, phong cách thực hiện vai trò, mức độ tích cực, mức độ nhận thức về vai trò đó.

+ Vai trò xã hội mô tả các tác phong đồng nhất được xã hội chấp nhận. Nó xuất hiện từ những mối quan hệ xã hội, những mối quan hệ qua lại của những người cùng hoạt động. Vai trò xã hội bao hàm các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tới một nhiệm vụ nào đó.

+ Vai trò được thực hiện trong sự phù hợp với các chuẩn mực xã hội nói chung, với sự mong đợi của người xung quanh, không phụ thuộc vào cá nhân – người thực hiện vai trò.

+ Các cá nhân chấp nhận vai trò (vai trò chủ động, vai trò lựa chọn) chủ yếu dựa vào mức độ phù hợp của chúng với nhu cầu và lợi ích cá nhân trong sự tồn tại phát triển của mình. Khi nó không còn phù hợp nữa sẽ bị loại bỏ.

+ Một cá nhân có thể đóng nhiều vai trò. Trong tình huống ấy thường xảy ra sự xung đột vai trò. Vì vậy cần có sự điều chỉnh để vai trò này hoà hợp với vai trò khác (cha – con, chủ – thợ, thầy – trò…).

+ Các loại vai trò: Vai trò chủ yếu – thứ yếu, chính – phụ. Vai trò then chốt (là khi nó được giành nhiều thời gian, nỗ lực và đại diện cho giá trị cao cả nhất của xã hội), vai trò không then chốt.

3. Mối quan hệ giữa vị thế xã hội và vai trò xã hội là mối quan hệ đồng thuận

+ Vị thế là cơ sở xác định vai trò của cá nhân. Nhiều vị thế sẽ dẫn đến nhiều vai trò, vị thế càng cao vai trò càng quan trọng. Vị thế như thế nào thì vai trò như thế ấy. Vị thế quyết định vai trò, hay vị thế là chỗ đứng của vai trò. Khi vị thế thay đổi thì vai trò cũng thay đổi theo.

+ Việc thực hiện tốt hay không tốt vai trò đều có ảnh hưởng đến vị thế xã hội của các cá nhân. Nếu thực hiện tốt vai trò thì sẽ củng cố và thăng tiến vị thế, nếu không thực hiện tốt vai trò sẽ làm suy giảm vì thế.

Khái niệm vị thế xã hội và vai trò xã hội