0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển bền vững Ngân hàng thương mại

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển bền vững Ngân hàng thương mại

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bền vững của một số NHTM trên thế giới có thể rút ra các bài học sau: Thứ nhất: các NHTM Việt Nam cần chú trọng đến công tác quản trị rủi ro. Thứ hai: ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động ngân hàng. Thứ ba: nghiên cứu, triển khai và mở rộng các sản phẩm dịch vụ mới trên nền tảng công nghệ thông tin.Thứ tư: nâng cao năng lực quản trị cho đội ngũ cán bộ

1. Nâng cao năng lực quản trị

Về cơ cấu tổ chức: tất cả các ngân hàng nêu trên đều lựa chọn mô hình tổ chức hướng tới khách hàng. Cơ cấu tổ chức hướng tới khách hàng và hướng tới thị trường sẽ giúp ngân hàng nắm bắt tốt hơn nhu cầu của khách hàng, đồng thời cũng giúp ngân hàng tăng hiệu quả trong hoạt động

Về năng lực quản trị: tất cả các ngân hàng đều chú trọng công tác quản trị rủi ro để giảm khả năng xảy ra những tổn thất ảnh hưởng đến sự an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng. Đăc biệt, với đối tượng nghiên cứu của luận án là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Việt Nam, khách hàng chủ yếu là các hộ nông dân có hoạt động sản xuất kinh doanh bị tác động nhiều bởi các yếu tố thời tiết nên xác suất xảy ra rủi ro đối với khách hàng là rất lớn. Bên cạnh đó, công tác kiểm toán nội bộ cũng được chú trọng. Tại phần lớn các ngân hàng nông nghiệp trong khu vực đều có Ủy ban quản lý rủi ro và Ủy ban kiểm tra, kiểm toán độc lập hoàn toàn với các phòng ban, bộ phận khác và chịu sự quản lý trực tiếp của Hội đồng quản trị. Mô hình này nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong công tác quản lý rủi ro và tính độc lập công khai, minh bạch trong hoạt động kiểm tra, kiểm toán.

2. Mở rộng khách hàng là cá nhân

Hiện nay, khách hàng mà các NHTM Việt Nam cung ứng dịch vụ là các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp quốc doanh. Các dịch vụ cung ứng cho khách hàng cá nhân chỉ mới chỉ phát triển ở dịch vụ huy động tiền gửi từ dân cư Trong khi đó, thị trường của khu vực này còn nhiều tiềm năng. Nếu muốn mở rộng khách hàng, tăng độ tiếp cận để tăng doanh thu tăng lợi nhuận thì các NHTM Việt Nam cần phải chú trọng những dịch vụ như thẻ, séc, tài khoản cá nhân…để phục vụ thị trường này. Ngân hàng phải chủ động tạo ra các nhu cầu của thị trường này thôgn qua các chính sách của nhà nước như chính sách khuyến khích mở tài khoản cá nhân và thanh toán qua tài khoản…

3. Phát triển các dịch vụ mới trên nền tảng công nghệ hiện đại và phải dựa trên nhu cầu của từng đối tượng khách hàng

Tất cả các dịch vụ mới mà các ngân hàng trên triển khai trong thời gian gần đây đều dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong hệ thống ngân hàng đã gia tăng thêm tính năng và tiện ích của các sản phẩm dịch vụ.

Mặt khác, các ngân hàng trên phát triển dịch vụ xuất phát từ nhu cầu của khách hàng. Với mỗi loại đối tượng khách hàng họ có những dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng đó. Để hạn chế rủi ro, các ngân hàng có quy định cụ thể về điều kiện để được hưởng những dịch vụ. Nhưng tại Việt Nam, các quy định để để được ngân hàng cung ứng dịch vụ còn chung chung cho tất cả các đối tượng. Chính điều đó, các ngân hàng đã tự hạn chế quy mô thị trường của mình.

4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngân hàng

Trước khi tiến hành mở rộng hoạt động, đa dạng hóa dịch vụ và phát triển các sản phẩm dịch vụ, các ngân hàng trên đã đầu tư để phát triển năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ tác nghiệp. Vì chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ do ngân hàng cung ứng Với cùng một dịch vụ có tính năng giống nhau nhưng ngân hàng nào có nhân viên tận tình, có kinh nghiệm, có trình độ và tư vấn cho khách hàng tốt sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Đồng thời, dịch vụ ngân hàng có tính rủi ro cao, do vậy chất lượng nguồn nhân lực tốt là nhân tố giúp ngân hàng giảm rủi ro trong hoạt động Chính vì lý do này mà các ngân hàng đều quan tâm đến chất lượng nguồn ngân lực của ngân hàng mình.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển bền vững Ngân hàng thương mại

Kinh nghiệm phát triển bền vững của một số Ngân hàng thương mại trên thế giới

Kinh nghiệm phát triển bền vững của một số Ngân hàng thương mại trên thế giới

Trong luận án,  tác giả đã nghiên cứu Kinh nghiệm phát triển bền vững của 4 NHTM tiêu biểu trong khu vực để rút ra những bài học thành công sau khủng hoảng  tài chính tiền tệ của những ngân hàng này. Mặt khác tác giả cũng đề cập đến 3 ngân hàng nước ngoài có chi nhánh ở Việt Nam đã chú trọng việc nâng cao năng lực quản trị, hiện đại hóa công nghệ thôn và đa dạng hóa dịch vụ sản phẩm để phát triển bền vững.

1. Kinh nghiệm phát triển bền vững của Ngân hàng Nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp Thái Lan

Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã Nông nghiệp Thái Lan (BAAC) được thành lập năm 1966. Đây là một ngân hàng thương mại quốc doanh chíu sự quản lý trực tiếp của Bộ tài chính Thái Lan. BAAC có nhiệm vụ cho vay trực tiếp đến từng cá nhân hộ nông dân cũng như cho vay thông qua Hội nông dân, hỗ trợ trực tài chính để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. BAAC giúp các hộ nông dân gia tăng sản lượng và thu nhập. Bên cạnh đó, BAAC còn cung cấp các sản phẩm dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ nông dân.

Với đối tượng khách hàng chủ yếu là nông dân, địa bàn hoạt động là khu vực nông thôn nên các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng tập trung vào các nhóm dịch vụ truyền thống là huy động tiền gửi và cho vay là chủ yếu. Bên cạnh đó, BAAC cung cấp thêm dịch vụ kiểm đếm tiền mặt, chuyển tiền, bảo quản tài sản…Một sản phẩm dịch vụ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại cho các hộ nông dân, đặc biệt là những hộ nông dân ở vùng sâu vùng xa được ngân hàng triển khai rất có hiệu quả là dịch vụ thu hộ tiền điện, nước, chi phí bảo hiểm và các loại thuế.

Để triển khai được các dịch vụ trên một cách có hiệu quả, BAAC đã sử dụng các kênh phân phối là các hợp tác xã Marketing nông nghiệp tại các chi nhánh. Loại hợp tác xã này tạo ra kênh phân phối, tiêu thụ các sản phảm nông nghiệp của người nông dân cũng như đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý. Lợi ích đem lại cho các khách hàng nông dân là các sản phẩm nông nghiệp của họ được mua lại với mức giá phù hợp và đảm bảo các dịch vụ hậu mãi được tốt nhất.

Về mô hình tổ chức của BAAC được thiết kế theo chức năng nhiệm vụ. Việc thiết kế mô hình theo chức năng nhiệm vụ tạo ra những ưu điểm sau:

Thứ nhất: Ủy ban kiểm toán và Ủy ban quản quản lý rủi ro độc lập hoàn toàn với các phòng/ban, bộ phận khác nhau và chịu sự quản lý trực tiếp của Hội đồng quản trị. Do vậy, làm tăng tính độc lập và tính rõ ràng, minh bạch trong hoạt động kiểm tra kiểm toán cũng như quản trị rủi ro của ngân hàng.

Thứ hai: Các phòng ban phục vụ hoạt động tín dụng được phân tách riêng biệt giữa phòng tín dụng doanh nghiệp và phòng tín dụng cá nhân. Bên cạnh đó ngân hàng còn có Bộ phận phát triển nông nghiệp. Cùng với chức năng quản lý và thực hiện cho vay, bộ phận này có chức năng chuyên nghiên cứu các tác động, ảnh hưởng và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực nông thôn, cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của các hộ nông dân…

Thứ ba: Trong cơ cấu tổ chức của BAAC còn có một bộ phận được gọi là Ban quản lý chi nhánh. Bộ phận này chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động của các chi nhánh phân theo từng khu vực từ việc ban hành các quy chế hoạt động của chi nhánh, giao chỉ tiêu kế hoạch, kiểm tra kết quả hoạt động đến việc đánh giá xếp hạng…Với mô hình này, việc quản lý hoạt động của chi nhánh sẽ được tập trung và chuyên sâu hơn. Các chi nhánh sẽ thuận lợi hơn trong việc giải quyết các vấn đề còn vướng mắc, xử lý các công việc ngoài quyền phán quyết của chi nhánh

Thứ tư: Trong cơ cấu tổ chức còn có phòng chính sách và chiến lược vi chức năng phân tích, nghiên cứu tình hình kinh tế-xã hội, những tác động ảnh hưởng. Từ đó, để xuất, tham mưu cho Ban lãnh đạo đưa ra chiến lược phát triển, đường lối chính sách phù hợp với từng thời kỳ

2. Kinh nghiệm phát triển bền vững của Ngân hàng Bangkok – Thái Lan

Tại Thái Lan, ngân hàng Bangkok được coi là thành công nhất trong việc triển khai đồng bộ các dịch vụ ngân hang mới, hiện đại để cung cấp cho khách hàng một loạt những dịch vụ phù hợp với các đối tượng khách hàng đa dạng.

Phương thức thực hiện đa dạng hóa dịch vụ mà ngân hàng này lựa chọn là phát triển dịch vụ mới, hiện đại và hướng tới nhiều đối tượng khách hàng.

Từ năm 2002 đến nay ngân hàng đã không ngừng ứng dụng công nghệ hiện đại để cung ứng cho khách hàng các sản phẩm đa dạng như: cung cấp các dịch vụ cá nhân 24/24h, phát hành thẻ, thanh toán séc thông qua hệ thống điện tử.

Trong những năm qua ngân hàng Bangkok được đánh giá là ngân hàng hàng đầu ở Thái Lan. Năm 2006, cứ 6 người dân Thái Lan thì có một người ở tài khoản tại ngân hang Bangkok. Đến năm 2008, cứ 4 người dân thì có 1 người ở tài khoản tại ngân hàng này. Chính điều này đã giúp ngân hàng nâng cao được thu nhập từ các dịch vụ phi tín dụng trên tổng thu nhập, tránh các rủi ro xảy ra khi nền kinh tế Thái Lan có những biến động xấu ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.

Ngân hàng Bangkok cũng được đánh giá là ngân hàng có năng lực quản trị rủi ro tín dụng tốt. Trước đây, các bộ phận có liên quan đến quy trình tín dụng được gộp làm một thì hiện nay đã được tách hẳn thành hai bộ phận độc lập với nhau: bộ phận tiếp nhận và giải quyết hồ sơ và bộ phận thẩm định. Trong đó, bộ phận thẩm định phải có báo cáo thẩm định tín dụng, gồm: chiến lược và kế hoạch kinh doanh báo cáo xếp hạng rủi ro…Đây là một trong những thay đổi cơ bản của Bangkok Bank nhằm đảm bảo tính độc lập khách quan trong quá trình thực thi công việc.

3. Kinh nghiệm phát triển bền vững của Ngân hàng Union Philine- Philippin

Ngân hàng Union Philine được chọn là ngân hàng có dịch vụ bán lẻ tốt nhất tại Philippin. Đây  là một ngân hàng kinh doanh đa năng. Ngân hàng đã có sự chuyển đổi thành công từ ngân hàng kinh doanh các sản phẩm truyền thống là tiền gửi và tiền vay sang hoạt động của một ngân hàng đa dịch vụ và áp dụng công nghệ hiện đại.

Giải pháp đa dạng hóa dịch vụ của ngân hàng này là đã ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động nên có thể cung cấp cho khách hàng những sản phẩm có tiện ích cao như giao dịch qua Internet, tài khoản điện tử EON, thanh toán và giao nộp hóa đơn điện tử…Sự chuyển đổi hoạt động dựa trên những nguồn lực hạn chế hơn các ngân hàng khác đã mang đến thành công cho ngân hàng này.

4. Kinh nghiệm phát triển bền vững của Ngân hàng Standard Chartered tại Singapore

Từ năm 2001 đến nay, ngân hàng Standard Chartered được coi là ngân hàng có dịch vụ bán lẻ tốt nhất Singapore. Thu nhập từ các dịch vụ phi tín dụng chiếm

56% tổng thu nhập. Để đạt được kết quả trên, ngân hàng Standard Chartered đã không ngừng nghiên cứu thị trường để đưa ra những sản phẩm phù hợp với nhu của thị trường như: áp dụng các công nghệ cung ứng dịch vụ cho khách hàng tự động các dịch vụ 24/24h thông qua mạng lưới Internet, áp dụng đa dạng các dịch vụ tín dụng như thẻ tín dụng, thẻ tín dụng thông minh.

Đến nay, khách hàng của ngân hàng Standard Chartered là 300.000, chiếm 6% dân số Singapore. Tại Singapore, có 112 NHTM trong đó có 106 ngân hàng nước ngoài. Có rất nhiều ngân hàng lớn hoạt động như City Bank, ABM, AMRO TOKYO BANK…nhưng ngân hàng Standard Chartered được đánh giá là ngân hàng dẫn đầu trong việc cung ứng cho khách hàng một danh mục dịch vụ đa dạng, đầu đủ. Chính điều đó là động lực giúp ngân hàng này thành công khi hoạt động tại Singapore.

5. Kinh nghiệm phát triển bền vững của Ngân hàng Citibank

Citibank được thành lập vào năm 1812 tại Mỹ với hơn nửa vốn thuộc về Citicorp, hiện nay đã có trên 3.400 chi nhánh và trụ sở trên 100 nước. Citibank là một trong những tổ chức dịch vụ tài chính lớn nhất cung cấp việc làm cho hơn 160.000 người trên toàn thế giới, đồng thời là hãng phát hành thẻ tín dụng ngân hàng lớn nhất thế giới. Citibank là ngân hàng của Mỹ đầu tiên hoạt động tại Châu Á vào năm 1902 và hiện nay đa phát triển rộng nhất trong khu vực Châu Á ở lĩnh vực tài chính với hơn 200 chi nhánh tại 21 nước. Các sản phẩm đơn lẻ của Citibank được thiết kế rất sáng tạo, linh hoạt và hoàn toàn phù hợp với các nhu cầu cá nhân của khách hàng. Một ví dụ điển hình là Citibank’s Mortgage Power, hình thức vay tín dụng tuần hoàn đầu tiên của Australia giúp cho khách hàng có thể tăng lợi nhuận Citibank là ngân hàng tiên phong trong việc đổi mới ngân hàng với một tầm nhìn nhằm phát triển việc kinh doanh của khách hàng bằng việc hiểu được những vấn đề trong vùng hay toàn cầu thông qua mạng lưới khách hàng rộng lớn và liên kết với mạng lưới ngân hàng Châu Á Thái Bình Dương. Citibank có kế hoạch đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ đầy tính sáng tạo thu hút số lượng khách hàng đông đảo đảo làm cho Citibank trở thành một trong những ngân hàng nước ngoài hoạt động tại các nước trên khắp thế giới thành công. Cách tiếp cận của Citibank với hình thức kinh doanh ngân hàng đơn lẻ và tập đoàn luôn khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh Nhân viên tài năng tới từ rất nhiều lĩnh vực khác nhau, và những người quản lý thì luôn đảm bảo rằng họ tập trung vào việc cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất có thể.

Citibank cũng là ngân hàng đi đầu trong việc ứng dụng các công nghệ thông tin hiện đại vào hoạt động ngân hàng với việc phát triển mạnh hình thức ngân hàng điện tử. Phần lớn khách hàng của Citibank sử dụng hình thức giao dịch từ xa để đáp ứng nhu cầu của họ. Trong tương lai Citibank sẽ mở rộng ngân hàng tới bất cứ nơi nào có khách hàng. Citibank là ngân hàng đầu tiên có dịch vụ ngân hàng thông qua CitiPhone Banking, Citibank’s 24 giờ, ngân hàng điện thoại 7 ngày 1 tuần và CitiDirect, Citibank’s Internet Banking.

Về hoạt động quản trị rủi ro: Citibank thực hiện quản trị rủi ro theo các tiêu chuẩn và chính sách rủi ro và kiểm soát trên cơ sở tự đánh giá rủi ro. Hoạt động của các phòng ban, đơn vị kinh doanh được xác định, đánh giá thường xuyên; từ đó các quyết định điều chỉnh và sửa đổi hoạt động để giảm thiểu rủi ro được đưa ra. Các hoạt động này được tài liệu hóa và công bố trong ngân hàng. Các chỉ số đo lường rủi ro chính được xác định kỹ lưỡng và cụ thể.

6. Kinh nghiệm phát triển bền vững của Chi nhánh ngân hàng HSBC tại Việt Nam

Năm 1870, HSBC mở văn phòng đầu tiên tại Sài Gòn ( nay là TPHCM) Tháng 8 năm 1995, chi nhánh TPHCM được cấp phép hoạt  động và cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính ngân hàng. HSBC khai trương chi nhánh Hà Nội và thành lập Văn phòng Đại diện tại Cần Thơ vào năm 2005.

– Tháng 06 năm 2008, HSBC là ngân hàng nước ngoài đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước chính thức cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. HSBC đang hoàn tất những thủ tục đăng ký kinh doanh cuối cùng và hi vọng trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên chính thức đưa ngân hàng con vào hoạt động tại thị trường tài chính đang tăng trưởng rất nhanh của Việt Nam.

Với hơn 130 năm hoạt động tại Việt Nam HSBC cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính bao gồm:

– Dịch vụ Tài chính Doanh nghiệp.

– Dịch vụ Ngân hàng cho các Tập đoàn Đa quốc gia và Định chế Tài  chính.

– Dịch vụ Tiền tệ và Thị trường vốn Dịch vụ Thanh toán và Quản lý Tiền tệ

– Dịch vụ Thanh toán Quốc tế Dịch vụ Chứng Khoán Dịch vụ Tài chính Cá nhân.

7. Kinh nghiệm phát triển bền vững của Chi nhánh ngân hàng ANZ tại Việt Nam

ANZ Việt Nam được thành lập 14 năm trước đây, bí quyết thành công của ANZ Việt Nam chính là đào tạo các nhân viên địa phương nhằm cung cấp dịch vụ cho khách hàng một cách chuyên nghiệp và thân thiện. ANZ Việt Nam cũng nổi tiếng tại Việt Nam về sản phẩm dành cho cá nhân và chất lượng phục vụ khách hàng.- Để xây dựng cơ sở khách hàng tại Việt Nam, ANZ đa đào tạo đội ngũ nhân viên bản địa có khả năng sử dụng thành thạo cả tiếng Anh và tiếng Việt. Với hiểu biết về địa phương và khu vực, đội ngũ nhân viên này có khả năng thấu hiểu các khó khăn, nhu cầu của cả người Việt Nam và người nước ngoài sống, làm việc tại Việt Nam do đó họ có thể tư vấn, giúp đỡ các khách hàng này về hàng loạt các dịch vụ tài chính.

Kinh nghiệm phát triển bền vững của một số Ngân hàng thương mại trên thế giới

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững của Ngân hàng thương mại

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững của Ngân hàng thương mại

1. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng

Các nhân tố này hợp thành môi trường kinh doanh của NHTM. Môi trường kinh doanh của một NHTM là hoàn cảnh trong đó NHTM tồn tại và tiến hành các hoạt động và bị ảnh hưởng chi phối bởi nó. Môi trường kinh doanh của NHTM có thể được mô tả bằng hàng loạt các yếu tố được coi như những lực lượng tác động từ ngoài đến các hoạt động kinh doanh của NHTM. Tác động của mỗi yếu tố khác nhau về phương thức, chiều hướng và mức độ. Phần nhiều các yếu tố này và những tác động của chúng mang tính chất khách quan và ngân hàng khó kiểm soát được. Cách thức của ngân hàng là nhận biết đúng đắn, kịp thời để có thể thích nghi với chúng.

Môi trường kinh doanh bên ngoài của một NHTM có thể phân tích thành hai cấp độ:

+ Môi trường vĩ mô (môi trường tổng quát) bao gồm các yếu tố: kinh tế, chính trị, pháp luật, Chính phủ, văn hóa xã hội, dân số, tự nhiên, thế giới có ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh và tất cả các định chế tài chính khác không riêng gì đối với các ngân hàng. Khi những yếu tố này thay đổi sẽ tác động đến các hoạt động của ngân hàng thương mại buộc ngân hàng phải thích nghi để ổn định và phát triển bền vững

+ Môi trường vi mô (môi trường tác nghiệp) bao gồm: các đối thủ cạnh tranh hiện hữu, khách hàng, các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các thị trường tài chính thay thế. Đây là các yếu tố trong nội bộ ngành ngân hàng và liên quan đến tác nghiệp kinh doanh của một ngân hàng. Nó quyết định chất và mức độ cạnh tranh trong ngành đối với ngân hàng. Mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt sẽ ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triển của ngân hàng.

Tuy nhiên, sự phân định này về cơ bản chỉ mang ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc nhận rõ tầm quan trọng của các yếu tố có mức độ tác động khác nhau đến hoạt động của một NHTM

1.1. Môi trường vĩ mô (Môi trường chung)

1.1.1. Yếu tố quốc tế

Xu hường toàn cầu hóa dẫn đến sự hội nhập mạnh mẽ giữa các nền kinh tế trong khu vực và trên toàn thế giới. Đối với mỗi ngành kinh tế, hội nhập vừa mang đến những cơ hội đồng thời cũng gây ra nhiều thách thức. Hệ thống NHTM Việt Nam cũng vậy, các cơ hội đó là: công nghệ ngân hàng tiên tiến, kỹ năng quản lý ngân hàng hiện đại, giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ mới, đồng hành là những thách thức: năng lực tài chính yếu, trình độ cán bộ bất cập, quy trình hoạt động chưa tuân theo chuẩn mực chung, mức độ minh bạch hóa chưa cao…Do vậy, hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗi ngân hàng cần nghiên cứu, nắm bắt xu hướng phát triển của kinh tế thế giới, phát hiện các thị trường tiềm năng, tìm hiểu các diễn biến về kinh tế và chính trị, theo dõi và dự báo xu hướng vận động của hệ thống tài chính quốc tế, cập nhật chính sách tiền tê của các quốc gia lớn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính thế giới qua đó tận dụng tối đa các cơ hội và có chiến lược đối mặt với thách thức.

1.1.2. Yếu tố kinh tế

Những thay đổi về chu kỳ kinh tế (suy thoái, bão hòa hay tăng trưởng), tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, triển vọng của các ngành nghề kinh tế phải sử dụng vốn của NHTM, cơ cấu chuyển dịch giữa các khu vực kinh tế, mức độ ổn định của giá cả, lãi suất, tình trạng thất nghiệp, khả năng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, cán cân thanh toán và ngoại thương… đều có tác động mạnh đến hoạt động của NHTM. Việc nghiên cứu có hệ thống và theo dõi thường xuyên biến động của những yếu tố này cho phép các NTHM có những thích ứng phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh.

1.1.3. Yếu tố chính trị, pháp luật và chính sách của Chính phủ

Trong hoạt động kinh doanh của NHTM yếu tố này luôn phải được phân tích kỹ lưỡng vì bản chất của NHTM là một trung gian tài chính và hoạt động của nó có ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống tài chính quốc gia. Do đó, so với các ngành khác, Nhà nước có sự kiểm soát chặt chẽ hơn về phương diện pháp luật và chính sách trên nhiều lĩnh vực khác nhau như cạnh tranh, phá sản, sáp nhập, cơ cấu tổ chức ngân hàng, các quy định về cho vay, bảo hiểm tiền gửi, dự phòng rủi ro tín dụng, quy mô vốn tự có…được quy định trong Luật ngân hàng và các văn bản hướng dẫn thị hành Luật. Mặt khác, các chính sách tài chính, tiền tệ của chính sách lãi suất, tỷ giá, thuế quan, quản lý nợ của Chính phủ và các cơ quan hữu quan như Ngân hàng Trung ương, Bộ tài chính…cần phải được các NHTM thường xuyên cập nhật để có những điều chỉnh kịp thời trong hoạt động.

1.1.4. Yếu tố môi trường, văn hóa xã hội

Yếu tố này bao gồm nhiều vấn đề mang tính lâu dài và chậm thay đổi như văn hóa tiêu dùng, thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong đời sống, tập quán tiết kiệm, đầu tư, ứng xử trong quan hệ giao tiếp, kỳ vọng cuộc sống, cộng đồng tôn giáo, sắc tộc…Nắm bắt được các vấn đề này để tạo ra nhu cầu sử dụng sản phẩm các dịch vụ ngân hàng của dân cư, tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu thói quan của dân cư là giúp ngân hàng thích ứng với môi trường để phát triển.

1.1.5. Yếu tố công nghệ

Trong ngành công nghiệp ngân hàng, sự chuyển biến nhanh chóng của công nghệ thông tin tạo ra bước đột phá trong cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Do đó, mỗi ngân hàng cần phải nắm bắt xu hướng công nghệ mới để không bị lạc hậu và bị mất lợi thế trong cạnh tranh. Nhiều nhà phân tích kinh tế cho rằng: trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập như hiện nay, có ba nhân tố quyết định thành công của mỗi ngân hàng thương mại đó là: con người công nghệ và chiến lược hoạt động. Hơn bao giờ hết, yếu tố công nghệ khẳng định vị trí của mình. Ngân hàng nào nắm bắt, theo kịp và làm chủ được những thay đổi nhanh chóng của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin sẽ thành công trên thương trường.

1.1.6. Yếu tố dân số

Cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính, thu nhập , mức sống, tỷ lệ tăng dân số quy mô dân số giữa các khu vực kinh tế, giữa thành thị và nông thôn. Tất cả các nhân tố này đều phải được các ngân hàng quan tâm chăm sóc. Đây là nguồn khách hàng của ngân hàng, là người tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Tạo ra các sản phẩm dịch vụ thích ứng với từng nhóm khách hàng sẽ giúp ngân hàng bán hàng thành công, duy trì và gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Từ đó, giúp ngân hàng tồn tại và phát triển.

1.1.7. Yếu tố tự nhiên

Đây là sự khan hiếm của các nguồn tài nguyên, khả năng sản xuất hàng hóa trên các vùng tự nhiên khác nhau, vấn đề ô nhiễm môi trường, thiếu năng lượng hay lãng phí tài nguyên thiên nhiên có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hay cho vay của ngân hàng.

1.2. Môi trường vi mô

1.2.1. Khách hàng

Đây là bộ phận quyết định sự sống còn của một ngân hàng trong môi trường cạnh tranh. Tuy nhiên, trong hoạt động của ngân hàng, khách hàng không có sự đồng nhất và họ có thể vừa là người cung ứng nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng vừa có thể là người sử dụng nguồn vốn của ngân hàng, đồng thời sử dụng nhiều dịch vụ tài chính khác. Do vậy, ngân hàng phải xác định khách hàng của mình là ai?, khách hàng của ngân hàng là doanh nghiệp hay cá nhân, hay cả hai nhóm khách hàng trên?. Điều quan trọng trong hoạt động của một NHTM là xác định rõ tập khách hàng mục tiêu và đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Để làm tốt điều này ngân hàng cần phải phân tích khách hàng. Nôi dung phân tích khách hàng: sự tín nhiệm của khách hàng, năng lực thương lượng và trả giá của khách hàng, lịch sử quan hệ với ngân hàng của khách hàng, mức độ trung thành của khách hàng, thái độ của khách hàng đối với các dịch vụ của ngân hàng, kiến thức và sự thành thục trong việc ra các quyết định tài chính của khách hàng, sự am hiểu về quy trình dịch vụ của khách hàng, năng lực đầu tư, qui mô và sự ổn định trong thu nhập và kinh doanh của khách hàng, tính chất nhạy cảm với chất lượng dịch vụ hay lãi suất của khách hàng.

1.2.2. Các đối thủ cạnh tranh hiện hữu

Đây là các đối thủ luôn tranh đua và dùng các thủ thuật để tạo lợi thế cạnh tranh, xâm chiếm thị phần của nhau.

Đặc biệt xu hướng nới lỏng các quy định tạo sức ép cạnh tranh ngày càng lớn giữa các ngân hàng với nhau cũng như các định chế tài chính khác như bảo hiểm, các công ty tài chính, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí Mức độ cạnh tranh tùy thuộc vào số lượng các định chế tài chính tham gia vào thị trường, mức độ tăng trưởng của ngành, xu hướng chi phí và vị thế ngân hàng trong ngành.

Việc tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới đồng nghĩa với việc phải chia sẻ các nguồn lực, thị phần hiện có. Như một hệ quả, giá cả các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trên thị trường sẽ giảm hoặc chi phí tăng..
Do vậy, làm giảm khả năng sinh lời và có thể ảnh hưởng đến mức độ tự vững về hoạt động và tự vững về tài chính của ngân hàng.

Một ngân hàng muốn phát triển bền vững trước hết phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh do đó việc phân tích và dự báo mức độ cạnh tranh của ngân hàng là nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng.

1.2.3. Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Hiên tại rất khó phân biệt được hoạt động của một ngân hàng (trung gian tài chính ngân hàng) và các tổ chức tài chính phi ngân hàng.

Đây chính là các đối thủ cạnh tranh tiềm ần của ngân hàng. Đây là những đối thủ đang tranh đua và dùng các thủ thuật để tăng lợi thế cạnh tranh, xâm chiếm thị phần, thị trường.

Số lượng và quy mô các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn càng nhiều, thủ thuật cạnh tranh càng đa dạng thì mức độ cạnh tranh trên thị trường sẽ càng khốc liệt và do đó ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của mỗi ngân hàng.

1.2.4. Các thị trường tài chính thay thế

Trong kinh doanh ngân hàng, các dịch vụ thay thế là rất hiếm có. Nhưng khi thị trường tài chính ngày càng phát triển càng xuất hiện nhiều nhu cầu dịch vụ mới thay thế cho các sản phẩm, dịch vụ truyền thống như khuynh hướng khách hàng thay vì sử dụng các dịch vụ ngân hàng truyền thống như tiền gửi và cho vay là khuynh hướng đầu tư vào thị trường chứng khoán thay vì gửi tiền vào ngân hàng khuynh hướng đầu tư vào bất động sản, khuynh hướng tự tài trợ bằng phát hành cổ phiếu, trái phiếu thay vì đi vay ngân hàng (đối với khách hàng là doanh nghiệp) Các sản phẩm dịch vụ thay thế càng hấp dẫn, giá cả càng hợp lý bao nhiêu thì môi trường cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ngày càng khốc liệt hơn bấy nhiêu.

Hoạt động trên thị trường tài chính ở Việt Nam thời gian gần đây cho thấy do nhiều yếu tố tác động đến những người có vốn tiến tệ, bắt buộc họ phải suy nghĩ để lựa chọn một hướng đầu tư có lợi nhất. Những yếu tố tác động mạnh mẽ vừa qua như: tỷ lệ lạm phát tăng, giá vàng tăng cao đột biến… đã tác động đến nhiều người gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng thương mại. Họ có xu hướng rút tiền tiết kiệm để mua vàng và làm đảo lộn chiến lược nguồn vốn của NHTM.

Nói tóm lại, môi trường kinh doanh của ngân hàng bao gồm nhiều yếu tố và có tác động khác nhau đến hoạt động của ngân hàng. Muốn PTBV, các ngân hàng cần phải phân tích sự thay đổi của môi trường và điều chỉnh những hoạt động của ngân hàng sao cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường này ở hiện tại và tương lai để tạo sự ổn định, thích ứng từ đó tăng trưởng và phát triển. Đây chính là sự PTBV

2. Các nhân tố bên trong ngân hàng thương mại

Các nhân tố bên trong cấu thành nên một ngân hàng là: năng lực hoạch định chiến lược kinh doanh, năng lực quản trị và điều hành, công nghệ ngân hàng, nguồn nhân lực, các dịch vụ thích ứng với thị trường, Marketing, hệ thống phòng ngừa rủi ro, mạng lưới chi nhánh và năng lực tài chính. Tất cả các nhân tố trên đều có ảnh hưởng, tác động tích cực hay tiêu cực đến mục tiêu phát triển bền vững NHTM Tuy nhiên, Trong phạm vi luận án tác giả chỉ nghiên cứu 4 nhân tố bên trong ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững của NHTM là: nguồn nhân lực, năng lực quản trị, danh mục sản phẩm dịch vụ và công nghệ ngân hàng.

2.1. Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực của bất cứ ngân hàng nào là lợi thế so sánh quan trọng vì chính con người là yếu tố “động nhất” trong mọi quá trình sản xuất. Nguồn nhân lực của ngân hàng được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu là số lượng lao động và chất lượng nguồn nhân lực.

Số lượng lao động: là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh nguồn nhân lực của một ngân hàng..

Chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: trình độ học vấn, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng mềm như: khả năng giao tiếp, thuyết trình, năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh, tinh thần trách nhiệm, sự nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp…

Ngoài ra chính sách nhân sự bao gồm: công tác đào tạo, bố trí và xắp xếp cán bộ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra bộ máy đơn giản gọn nhẹ nhưng vẫn phát huy được năng lực của mỗi nhân viên từ đó nâng cao năng suất lao động.

Nếu ngân hàng có lực lượng lao động hợp lý ở mỗi chi nhánh, mỗi điểm giao dịch là điều kiện thuận lợi để mở rộng các hoạt động kinh doanh, gia tăng quy mô nguồn vốn và tài sản cho các chi nhánh và cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Ngân hàng có nhiều chi nhánh cũng làm tăng khả năng tiếp cận của ngân hàng.

Mặt khác, đặc điểm hoạt động của ngân hàng là cung cấp các sản phẩm dịch vụ nên chính đội ngũ nhân lực sẽ tạo ra những dịch vụ thoả mãn cả 6 tiêu chí: tính đúng thời gian, thái độ phục vụ, tính đồng nhất, sự thuận tiện để có được sản phẩm tính hoàn chỉnh của sản phẩm dịch vụ và tính chính xác, không sai sót.

Chính chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất tạo nên chất lượng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Ngân hàng nào tạo ra chất lượng cho sản phẩm dịch vụ của mình mới có khả năng cạnh tranh, thu hút, giành giật khách hàng để gia tăng lợi nhuận.

Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo và duy trì thu nhập cho ngân hàng. Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tác nghiệp cũng là yếu tố tạo nên tính an toàn trong hoạt động của mỗi ngân hàng.

2.2. Năng lực quản trị

Năng lực quản trị phản ánh năng lực điều hành của hội đồng quản trị cũng như ban giám đốc ngân hàng. Năng lực quản trị thể hiện thông qua các tiêu chí sau

– Khả năng hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách và quy trình kinh danh, quy trình quản trị rủi ro, kiểm toán và kiển soát nội bộ

– Sự phù hợp về cơ cấu tổ chức

Năng lực quản trị quyết định hiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng Một hội đồng quản trị, ban giám đốc yếu kém sẽ không có khả năng đưa ra những chiến lược, chính sách hợp lí, thích ứng với những thay đổi của thị trường… gây nên lãng phí nguồn lực, gia tăng chi phí hoạt động, giảm khả năng dự đoán và chống đỡ các rủi ro và làm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó, làm giảm khả năng phát triển bền vững của ngân hàng.

Do đó, năng lực quản trị là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời, tính an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Mặt khác, thông qua chiến lược phát triển của mỗi ngân hàng còn có thể đánh giá mức độ hoạt động vì cộng đồng, vì môi trường của ngân hàng đó

2.3. Danh mục sản phẩm dịch vụ

Dịch vụ ngân hàng bao hàm toàn bộ các hoạt động mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng thanh toán…thông qua các kênh phân phối khác nhau nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu dịch vụ tài chính của khách hàng mà pháp luật cho phép.

Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có đặc điểm là rất dễ bị bắt chước và khách hàng không thể biết được chất lượng của sản phẩm đó nếu không sử dụng sản phẩm này nên chu kỳ sống của một sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường là ngắn. Do vậy để có được lợi thế về sự khác biệt về sản phẩm và lợi thế của người đi trước ngân hàng luôn phải tìm hiểu, nghiên cứu thị trường nhằm đưa ra những sản phẩm mới Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng khác nhau là tập hợp những đặc điểm, tính năng khác nhau và có thể thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn đa dạng khác nhau của khách hàng. Danh mục sản phẩm dịch vụ của ngân hàng càng đa dạng,càng thỏa mãn nhiều nhu cầu của khách hàng, dễ dàng thu hút khách hàng. Từ đó, tăng mức độ tiếp cận của ngân hàng, tăng doanh thu tăng khả năng sinh lời giúp ngân hàng phát triển ổn định và bền vững.

2.4. Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại – chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.

Năng lực công nghệ của mỗi ngân hàng thể hiện ở: hạ tầng, công nghệ thông tin của ngân hàng, chiến lược sử dụng tối ưu nguồn vốn để đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống thông tin quản lý, nâng cao kỹ thuật công nghệ của ngân hàng.

Ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính, hầu hết các mảng hoạt động của khu vực ngân hàng đề gắn liền với việc tiếp nhận và xử lý thông tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và có hiệu quả của từng ngân hàng nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Những thay đổi của công nghệ thông tin nói chung và nền tảng công nghệ thông tin mà ngân hàng áp dụng đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh ngân hàng Công nghệ mới không chỉ cho phép ngân hàng đổi mới quy trình nghiệp vụ, đổi mới cách thức phân phối, đặc biệt là sự phát triển của sản phẩm, dịch vụ mới. Những thay đổi của công nghệ thông đã tác động tới cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ vủa dân cư. Nó cũng tạo ra những nhu cầu, đòi hỏi mới về dịch vụ ngân hàng và hoạt động ngân hàng. Công nghệ ngân hàng hiện đại góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ từ đó giúp ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh và gia tăng tính sinh lời.

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững của Ngân hàng thương mại

Quan điểm về phát triển bền vững của ngân hàng thương mại

Quan điểm về phát triển bền vững của ngân hàng thương mại

Các nhà kinh tế và các tổ chức tài chính quốc tế đã dựa trên quan điểm phát triển bền vững của Liên hiệp Quốc để xây dựng lý thuyết về phát triển bền vững của ngân hàng thương mại.

Sự phát triển bền vững của một ngân hàng thương mại trước hết là sự bền vững về tài chính. Đây là quan niệm của một số học giả Việt Nam được thể hiện trong hội thảo “Phát triển bền vững tài chính của ngân hàng thương mại Việt Nam” (2004) hầu như cũng tập trung và thống nhất nhấn mạnh vào vấn đề bền vững về tài chính của từng NHTM.

Theo Carl- Jonhan Lindgren, các ngân hàng thương mại được coi là tình trạng tài chính “lành mạnh” hay được coi là “phát triển bền vững” thường được dùng để chỉ khả năng tài chính và hoạt động đạt tới hiệu quả nhất định để có thể tồn tại, chịu đựng và chống đỡ các tác động bất lợi của môi trường bên ngoài. Như vậy, một ngân hàng lành mạnh hay bền vững là một ngân hàng thương mại có thể đảm bảo được khả năng thanh toán những khoản nợ tại mọi thời điểm xác định và không gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế và cộng đồng dù có những tác động từ các diễn biến bất lợi của nền kinh tế xã hội [73].

Theo Pau. R. Niven trong tác phẩm The Balance Scorecard thì phát triển bền vững là sự phát triển và cân bằng của bốn nhóm yếu tố cấu thành một doanh nghiệp hay bất cứ một tổ chức nào là: khách hàng, các quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển nhân viên và khía cạnh tài chính [53].

Khách hàng của Ngân hàng: đối với các tổ chức hoạt động kinh doanh thì khách hàng chính là nguồn tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Vì vậy, các tổ chức cần duy trì được mối quan hệ với khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng mới để ổn định và phát triển. Sự thỏa mãn của khách hàng đối với ngân hàng được đo lường thông qua các biến số: các sản phẩm dịch vụ thích ứng với thị trường, những giá trị gia tăng cho khách hàng, số lượng khách hàng và mức tăng trưởng của khách hàng đến với ngân hàng, nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng, phát triển thương hiệu của NHTM…

Thẻ điểm cân bằng giúp mỗi tổ chức trả lời ba câu hỏi quan trọng: nhóm khách hàng mục tiêu của tổ chức, giá trị của tổ chức trong việc phục vụ khách hàng và xác định những nhu cầu của khách hàng đối với tổ chức để thỏa mãn nhu cầu, tạo dựng lòng trung thành và giành khách hàng.

Các quy trình nội bộ: bao gồm hoạch định chiến lược kinh doanh tín dụng hoạch định chiến lược quản trị và điều hành kinh doanh hệ thống phòng ngừa rủi ro chiến lược quản lý tài sản, chiến lược Marketing… Các quy trình chính sách cần được cải tiến và phát triển nhằm cắt giảm chi phí, kiểm soát rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động cho ngân hàng.

Quy trình nội bộ trong thẻ điểm cân bằng đề cập đến sự điều hành: tối ưu các quy trình tiếp xúc với khách hàng, nâng cao giao tiếp cả trong lẫn ngoài; quy trình quản lý khách hàng: hiểu khách hàng của mình, xây dựng những mối quan hệ lâu dài; sự đổi mới: nghiên cứu và đánh giá các xu hướng, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, giám sát, đánh giá sự tuân thủ các luật và quy định, đảm bảo luôn có sự kiểm soát nội bộ hiệu quả; để giúp các tổ chức nhận diện các nhiệm vụ mà họ phải thực hiện tốt để gia tăng giá trị cho khách hàng và các cổ đông của tổ chức.

Quá trình đào tạo và phát triển nhân viên: Nguồn lực về con người của ngân hàng được đo lường qua các biến số: số lượng và chất lượng nguồn nhân lực (trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng tin học, trình độ ngoại ngữ). Nguồn lực thông tin thể hiện qua mức độ hiện đại của công nghệ mà ngân hàng áp dụng, mức độ hội nhập của công nghệ thông tin vào các quá trình, các hoạt động của ngân hàng. Nguồn lực tổ chức: năng lực quản lý của nhà lãnh đạo, văn hóa kinh doanh trong ngân hàng được cải tiến. nguồn nhân lực của mỗi tổ chức luôn là yếu tố quan trọng giúp tổ chức thực hiện tốt các quy trình nội bộ và làm thỏa mãn khách hàng Vì vậy, cần nâng cao công nghệ để thành công, cần thu hút, phát triển và gìn giữ tài năng, sự sẵn có của thông tin để họ luôn theo kịp với những công nghệ mới của tổ chức, luôn làm hài lòng khách hàng. Đảm bảo một môi trường làm việc tích cực lành mạnh.

Năng lực tài chính: các chỉ tiêu phản ánh sức mạng tài chính của một NHTM bao gồm: vốn tự có của ngân hàng (tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có CAR) chất lượng tài sản có: Nợ xấu/Tổng dư nợ, dự phòng rủi ro/nợ xấu, nợ quá hạn/tổng dư nợ, khả năng đảm bảo thanh toán và an toàn hệ thống: tỷ lệ tài sản có có thể thanh toán ngay/tài sản nợ phải thanh toán ngay, tốc độ tăng trưởng của tiền gửi/tốc độ tăng trưởng của hoạt động cho vay và cho thuê, khả năng sinh lời của vốn tự có ROE, khả năng sinh lời của tài sản ROA…

Thẻ điểm cân bằng đề cập đến khía cạnh tài chính như là một thành phần quan trọng nhất trong thế giới kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận đặc biệt là đối với các NHTM. Thẻ điểm cân bằng đặt ra các mục tiêu: tối thiểu hóa chi phí, nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản, tăng doanh thu để gia tăng giá trị cho cổ đông. Lợi nhuận đảm bảo là cơ sở để ổn định và phát triển bền vững.

Theo IFC, sự bền vững về tài chính được định nghĩa là việc cung cấp vốn và các giải pháp quản lý rủi ro cho các dự án cũng như là các hoạt động kinh doanh nhằm thúc đẩy hoặc không gây trở ngại đến sự thịnh vượng, bảo vệ môi trường và tạo sự công cho xã hội. Sự bền vững về ngân hàng được định nghĩa là quá trình tồn tại lâu dài với hoạt động cung cấp các dịch vụ và sản phẩm cho khách hàng nhưng phải đảm bảo thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, bảo vệ môi trường và tạo ra sự công bằng cho xã hội [75]

Theo SAS, Ngân hàng bền vững là một triết lý nền tảng của ngân hàng. Đây là một hệ thống giá trị cho rằng các hoạt động của NHTM không chỉ mang lại lợi nhuận cho nhân viên và các cổ đông của ngân hàng mà còn mang lại lợi nhuận cho khách hàng. Rộng hơn nữa, hoạt động của ngân hàng còn phải mang lại lợi ích cho nền kinh tế trong khi đồng thời phải ngăn chặn hoặc ít nhất là phải giảm thiểu bất kỳ tác động quá mức đến xã hội và môi trường. Nó cũng đòi hỏi, ngân hàng phải thực hiện các bước để cải thiện xã hội và môi trường. Như vậy, tính bền vững của ngân hàng được thể hiện trên nhiều giác độ: đó là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), trách nhiệm của doanh nghiệp (CR) và trách nhiệm với môi trường và xã hội (ESG). Ngoài ra, ngân hàng bền vững là quá trình liên tục, nó sẽ luôn luôn là một hành trình [78].

Theo ủy ban giám sát ngân hàng Basel, ngân hàng phát triển bền vững là ngân hàng duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp, Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về những loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này. Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường. Những thông tin mà các ngân hàng phải công khai là: cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này.
Một số học giả khác cho rằng: ngân hàng bền vững được sử dụng các nguồn lực tài chính với suy nghĩ có ý thức về những tác động đến môi trường, văn hóa và xã hội, và với sự hỗ trợ của bảo vệ và các nhà đầu tư, những người muốn tạo sự khác biệt, bằng cách đáp ứng nhu cầu ngày nay mà không ảnh hưởng đến những người của các thế hệ tương lai.

Tổng hợp các quan điểm trên, tác giả cho rằng một NHTM phát triển bền vững là một ngân hàng hoạt động để đạt được mức sinh lời theo yêu cầu của các chủ sở hữu trong trạng thái an toàn. Ngân hàng cần phải duy trì được sự cân bằng giữa khả năng sinh lời và mức độ an toàn trong một thời gian dài. Bên cạnh đó, hoạt động của ngân hàng cần phải phục vụ lợi ích của khách hàng, gia tăng lợi ích cho cộng đồng, xã hội và môi trường.

Như vậy, NHTM phát triển bền vững trước hết được phản ánh thông qua khả năng sinh lời. Một ngân hàng muốn tồn tại cần phải có lợi nhuận, có thu nhập. Mức sinh lời này phải đáp ứng được yêu cầu của các chủ sở hữu. Bên cạnh đó, ngân hàng cần cố gắng gia tăng khả năng sinh lời. Muốn gia tăng khả năng sinh lời cần có sự tăng trưởng hay sự phát triển nhất định của ngân hàng ở hiện tại. Sự tăng trưởng ở hiện tại của NHTM được đánh giá thông qua sự gia tăng về quy mô của ngân hàng Sự gia tăng về quy mô của ngân hàng là sự tăng trưởng của nguồn vốn, các hoạt động đầu tư và tín dụng với chất lượng tốt. Lợi nhuận của ngân hàng được gia tăng trên cơ sở sự mở rộng về quy mô và chất lượng các hoạt động kinh doanh. Sự gia tăng về khả năng sinh lời cũng là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, nếu sự tăng trưởng này là sự tăng trưởng quá nóng, thu nhập cao ở hiện tại nhưng lại trì trệ thua lỗ trong những năm tiếp theo thì không phải là phát triển bền vững. Rõ ràng, trong quá trình hoạt động kinh doanh, bên cạnh mục tiêu gia tăng lợi nhuận ngân hàng cần phải cố gắng duy trì sự tăng trưởng này một cách đều đặn trong một thời gian dài. Tức là cần đảm bảo tính ổn định trong hoạt động vì đây là điều kiện cần để ngân hàng phát triển bền vững

Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro đặc thù như: rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro tín dụng, rủi ro kỳ hạn bên cạnh các rủi ro chung (rủi ro quốc gia và rủi ro chính trị) Khi rủi ro xảy ra sẽ phát sinh chi phí làm giảm doanh thu và lợi nhuận. Hơn thế nữa giữa rủi ro và khả năng sinh lời kỳ vọng có mối quan hệ thuận chiều. Có những hoạt động kinh doanh khi rủi ro chưa hoặc không xảy ra có thể mang lại cho ngân hàng một mức lợi nhuận rất cao. Nhưng khi rủi ro xảy ra có thể làm ngân hàng phá sản chỉ trong giây lát. Do đó, nếu một ngân hàng chỉ lựa chọn mục tiêu lợi nhuận để phát triển thì sự phát triển đó là không ổn định và không bền vững. Tính bền vững của ngân hàng nhất thiết phải được đánh giá trên cơ sở khả năng chịu đựng, chống đỡ, xử lý để tồn tại an toàn và phát triển đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng trước những tác động tiêu cực của môi trường kinh doanh.

Mặt khác, khách hàng chính là nơi cung cấp vốn để ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh. Khách hàng cũng là người sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ phát sinh chi phí trong quá trình tìm kiếm khách hàng. Lợi ích của ngân hàng và khách hàng hầu hết là đối lập nhau. Nhưng về lâu dài, duy trì được lượng khách hàng lớn là điều kiện để tăng doanh thu ngân hàng. Ngân hàng nào càng có nhiều khách hàng, các khách hàng khác nhau tiếp cận được với dịch vụ ngân hàng ở mức độ khác nhau thì khả năng tồn tại và phát triển càng cao. Để thu hút được khách hàng, ban quản trị ngân hàng cần biết dung hòa giữa lợi ích của ngân hàng và lợi ích của khách hàng, đảm bảo cả ngân hàng và khách hàng đều phát triển.

Ngoài ra, một ngân hàng được xem là phát triển bền vững khi ngân hàng có các hoạt động tạo ra các hàng hóa công cộng như đường xá, cầu cống, các công trình thủy lợi, các dự án trồng rừng…nhằm gia tăng lợi ích cho cộng đồng và bảo vệ môi trường.

Sự phát triển bền vững của NHTM còn đảm bảo sự tương tác lành mạnh theo thời gian và không gian. Sự tương tác này được thể hiện trên ba khía cạnh sau:

Thứ nhất là bền vững về kinh tế: sự phát triển của NHTM phải đảm bảo rằng mọi hoạt động của NHTM phải được thiết lập và duy trì trên cơ sở đảm bảo sự lành mạnh của các tương tác kinh tế. Khi đó, các hoạt động của NHTM như huy động vốn, đầu tư, tín dụng…đều phải được đảm bảo sự phát triển cân bằng giữa ngắn hạn và dài hạn, giữa một bộ phận, một loại hình hoạt động với các bộ phận và các loại hình hoạt động khác của ngân hàng, giữa hệ thống NHTM trong nước, trong thị trường tài chính và đảm bảo sự bền vững của nền kinh tế. Nếu phá vỡ sự cân bằng lành mạnh này thì sẽ gây ra những bất ổn và thiếu bền vững của NHTM.

Thứ hai là bền vững về chính trị xã hội: sự phát triển của NHTM phải đảm bảo gây dựng lòng tin lâu dài của công chúng đầu tư. Công chúng đầu tư chỉ có lòng tin đối với ngân hàng khi ngân hàng đó hoạt động hiệu quả, có năng lực tài chính tốt, đảm bảo chi trả cho mọi nhu cầu rút tiền của khách hàng (tức là khả năng thanh khoản tốt). Bên cạnh đó, sự phát triển của ngân hàng còn phải phòng ngừa rủi ro khủng hoảng. Lịch sử phát triển của ngành ngân hàng nói riêng cho thấy khủng hoảng tài chính luôn gắn liền với những bất ổn về chính trị, xã hội, thất nghiệp và suy thoái kinh tế. Hệ thống tài chính nói chung và hệ thống NHTM nói riêng là một bộ phận nhạy cảm của nền kinh tế. Nếu khu vực này phát triển không lành mạnh sẽ tạo ra các tương tác tiêu cực đến các khu vực khác và có thể gây suy yếu toàn bộ nền kinh tế, đồng thời dẫn đến những bất ổn về chính trị và xã hội. Do đó, việc duy trì bền vững về chính trị, xã hội trong phát triển NHTM chính là việc phòng ngừa rủi ro gây khủng hoảng NHTM. Sự phát triển quá nóng hay quá ảm đạm của NHTM là những trạng thái phát triển không bền vững vì nó hàm chứa những rủi ro có thể gây ra khủng hoảng.

Thứ ba là sự bền vững về môi trường: ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt vì công cụ và đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ. Tiền tệ được xem là huyết mạch của nền kinh tế, còn ngân hàng là nơi tạo ra dự trữ và bơm máu. Chính vì vậy, hoạt động của NHTM có ảnh hưởng và tác động sâu rộng đến nhiều ngành nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế. Rõ ràng, khi một ngân hàng phát triển bền vững thì hoàn toàn có thể đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế cùng phát triển. Như vậy, các hoạt động của NHTM không chỉ tạo ra sự phát triển cho bản thân nó mà còn phải tạo ra hiệu ứng tích cực đến sự phát triển kinh tế nói chung (tức là phát triển bền vững môi trường kinh tế). Như vậy, các hoạt động của NHTM không chỉ tạo ra sự phát triển cho bản thân nó mà còn phải tạo ra hiệu ứng tích cực đến sự phát triển kinh tế nói chung. Sự phát triển về kinh tế không chỉ được đánh giá là sự tăng trưởng về lượng mà còn là sự thay đổi về chất (sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực). Các hoạt động của NHTM phải hỗ trợ cho nền kinh tế chuyển dịch đến một cơ cấu kinh tế hợp lý. Mặt khác, sự thay đổi của nền kinh tế sẽ có những tương tác trở lại đối với sự phát triển của NHTM. NHTM vẫn hoạt động hiệu quả có thể tồn tại chịu đựng và chống đỡ các tác động bất lợi của môi trường bên ngoài là ngân hàng phát triển bền vững.

Nói tóm lại, một ngân hàng sẽ phát triển bền vững khi đạt được hai sự cân bằng: thứ nhất là sự cân bằng giữa lợi nhuận kỳ vọng với mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận được. Thứ hai là sự cân bằng giữa lợi ích của ngân hàng và lợi ích của khách hàng. Thứ ba là gia tăng lợi ích cho cộng đồng và bảo vệ môi trường. Một yêu cầu khác đối với ngân hàng phát triển bền vững là ngân hàng cần phải duy trì hai sự cân bằng này trong một thời gian dài.

Quan điểm về phát triển bền vững của ngân hàng thương mại

Quan điểm về phát triển bền vững của Liên hiệp Quốc

Quan điểm về phát triển bền vững của Liên hiệp Quốc

Quan điểm phát triển bền vững đã từng bước được tìm kiếm. Năm 1972, thế giới đối mặt với tình trạng khan hiếm năng lượng và ô nhiễm môi trường nặng nề. Ngay cả với “thần kỳ kinh tế Nhật Bản” cũng nhận thấy ô nhiễm môi trường đô thị đã gây tác hại nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và phát triển đất nước. Trước thực tế đó và dưới sức ép của các nhà khoa học, Liên hiệp quốc đã tổ chức Hội nghị quốc tế về môi trường ở Stockhom Thụy Điển, thu hút sự tham gia của 113 quốc gia trên thế giới. Hội nghị này được coi là hội nghị đầu tiên của thế giới về vấn đề gắn phát triển với việc bảo vệ và cải thiện môi trường sống của con người. Hội nghị đã ra tuyên bố xác nhận hiện trạng môi trường toàn thế giới đang xấu đi nghiêm trọng và kêu gọi nhân loại hãy cứu lấy trái đất, cái nôi của sự sống. Hội nghị đã thúc đẩy vấn đề môi trường ở các quốc gia. Hội nghị là cơ sở để thành lập Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc UNEP và Công ước quốc tế về buôn bán động vật quý hiến CITES. Hội nghị đã ra tuyên bố Stockhom về môi trường con người gồm 7 điểm và 26 nguyên tắc.

Trên phạm vi toàn cầu, nhân loại đang tìm cách đối phó với tình trạng cuộc sống ngày càng xấu đi do sự gia tăng của nghèo đói, bệnh tật, thất học do sự cách biệt ngày càng sâu sắc giữa giàu và nghèo và đặc biệt do sự xuống cấp không ngừng của môi trường. Trong bối cảnh đó, Liên hiệp quốc đã thành lập Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển vào năm 1983.

Tuy nhiên, khái niệm phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundtland năm 1987 của Ủy ban môi trường và phát triển thế giới (WCED) – Báo cáo “Tương lai của chúng ta”. Trong báo cáo này, phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Báo cáo Brundtland lần đầu tiên công bố chính thức và định nghĩa thuật ngữ “Phát triển bền vững”. Báo cáo cũng đưa ra cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài.

Năm 1991, một ấn phẩm quan trọng liên quan đến phát triển bền vững là cuốn “Cứu lấy trái đất – Chiến lược cho cuộc sống bền vững”, đồng ấn phẩm của ÏUCN, UNEF WWF, đã được xuất bản. Cuốn sách được Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường dịch, làm tài liệu giảng dạy trong nhiều khóa đào tạo sau đại học về sinh thái môi trường và phát triển của mình. Chín chương đầu cuốn sách được xem là “Những nguyên tắc của một xã hội bền vững”, nhằm mục tiêu vừa cứu lấy trái đất vừa vì một xã hội bền vững. Chín nguyên tắc đó là: 1-Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng; 2- Cải thiện chất lượng cuộc sống con người; 3- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất; 4- Quản lí tài nguyên không tái tạo; 5- Tôn trọng khả năng chịu đựng của trái đất; 6- Thay đổi tập quán và thói quen cá nhân; 7- Để cho các cộng đồng tự quản lí lấy môi trường của mình; 8- Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho phát triển bền vững; 9- Xây dựng khối liên minh toàn cầu để bảo vệ môi trường..

Bước ngoặt quan trọng nhất có thể nói là Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường năm 1992. Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển đã được Liên hợp quốc tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) (Hội nghị Rio – 92). Đây là cuộc gặp gỡ lớn chưa từng thấy của các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới. Đã có 179 nguyên thủ của các quốc gia tham gia hội nghị này. Thành công lớn hơn cả của Hội nghị là đã đưa ra được hai 2 bản tuyên bố mang tính nguyên tắc đó. Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Tuyên bố các nguyên tắc quản lý bảo vệ và phát triển bền vững rừng. Hội nghị cũng đã ký kết hai công ước quốc tế là Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu toàn cầu và Công ước về đa dạng sinh học. Hội nghị cũng đưa ra chương trình nghị sự (Agenda 21) về các giải pháp phát triển chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Đây là văn kiện đồ sộ gồm 40 chương nên lên các công việc cần phải làm, các biện pháp cần thực hiện và kinh phí cần phải có để thực hiện các công việc đó. Trên cơ sở những văn kiện này, các quốc gia soạn thảo, hiệu chỉnh chiến lược phát triển của mình và định hướng hợp tác toàn cầu nhằm bảo vệ môi trường trên trái đất. Hội nghị này đã đánh dấu mốc quan trọng trong nhận thức và hành động của cộng đồng quốc tế về phát triển bền vững bằng việc thành lập ủy ban phát triển bền vững (Commission on Sustainable Development) và đưa ra định nghĩa về sự phát triển bền vững: “sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ mai sau”. Khái niệm về phát triển bền vững của Liên hợp quốc đưa ra được tất cả các nước chính thức thừa nhận và cam kết thực hiện.

Mười năm sau Hội nghị Rio, nhiều thành tực đã được ghi nhận nhưng cũng có những thách thức mới. Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về phát triển bền vững (WSSD) năm 2002 tại Johannesburg (Nam Phi) với sự tham gia của 166 quốc gia (Hội nghị Rio+ 10). Hội nghị lần này đã tiếp tục khẳng định các nguyên tắc và văn bản đã được thông qua ở Rio – 92. Hội nghị đã thông qua Bản tuyên bố Johannesburg và Bản kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững (Kế hoạch thực hiện Joha) ở cấp độ toàn cầu. Bản kế hoạch đã đưa ra các mục tiêu quan trọng như giảm một nửa số người không được hưởng các điều kiện nước sạch và vệ sinh môi trường vào năm 2015, phục hồi trữ lượng nguồn thủy sản nhằm bảo vệ đa dạng sinh học vào năm 2015, hoặc bỏ hóa chất độc hại vào năm 2005 và cam kết về tăng cường sử dụng năng lược tái tạo như là một vấn đề cấp bách. Để thực hiện các mục tiêu trên, đa số các biện pháp được nêu lên đều liên quan đến sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia nhất là giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển.

Cả hai hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 đều xác định “Phát triển bền vững ” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
“Phát triển bền vững” chính là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu ở hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau Quan điểm này của Liên hợp quốc cũng là quan điểm chung nhất, được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới ngày nay.

Đây cũng là một quan điểm mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hóa…Mục tiêu phát triển ngày nay phải là nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của loài người tạo nên cuộc sống cân bằng và bình đẳng giữa các thành viên. Quá trình thực hiện các mục tiêu của phát triển bền vững cũng chính là quá trình hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Như vậy, phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là duy trì sự phát triển một cách liên tục, ổn định, mà hơn thế nữa là sự nỗ lực nhằm đảm bảo được sự bền vững trên mọi lĩnh vực trong quá trình phát triển. Phát triển bền vững là quá trình duy trì sự cân bằng giữa những nhu cầu của con người với tính công bằng xã hội, sự phồn vinh, chất lượng cuộc sống và tính bền vững của môi trường.

Phát triển, tự thân nó là một quá trình, nên phát triển bền vững cũng là một quá trình Không thể có một cái đích duy nhất cho phát triển, vì đích hướng tới của phát triển sự cải thiện tốt hơn cái đang có, thỏa mãn những nhu cầu liên tục thay đổi, nâng cao của loài người. Khái niệm phát triển bền vững được diễn giải như là một nguyên tắc, một cách thức phát triển mang tính đạo đức; Phát triển, cải thiện được tình trạng của mình mà không làm cho tình trạng của các chủ thể phát triển khác bị xấu đi (Tối ưu Pareto) Khai thác tài nguyên mà không làm cho tài nguyên tái tạo bị cạn kiệt và sự cạn kiệt của tài nguyên không tái tạo không làm tổn thương nền kinh tế, tổn thương quá trình phát triển. Vì vậy, để định hướng quá trình phát triển bền vững, cần thiết lập được hệ thống các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững.

Trong một thời gian khá dài, người ta đặt mục tiêu kinh tế quá cao, xem sự tăng trưởng về kinh tế gần như là thước đo duy nhất của sự phát triển. Tuy nhiên sau một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế thế giới vào các năm 50 đến các năm 80 của thế kỷ 20, loài người nhận thức được rằng: chỉ riêng thước đo kinh tế không thể phản ánh được đầy đủ quan niệm về phát triển hiện đại – phát triển bền vững. Do vậy phải xem xét lại và đánh giá đúng đắn các mối quan hệ: con người- trái đất phát triển kinh tế- xã hội, văn hóa – bảo vệ tài nguyên, môi trường và cả các vấn đề xây dựng thể chế trong đó con người phải đóng vai trò trung tâm của sự phát triển Tài nguyên của trái đất không phải là vô tận, không thể khai thác hoặc thống trị theo ý mình, cần phải tính toán đến lợi ích chung của cộng đồng của các thế hệ tương lai và các chi phó môi trường cho sự phát triển,…Hiểu được tất cả các yêu cầu trên chính là hiểu được điều cốt yếu của định hướng về phát triển bền vững.

Ngân hàng thế giới, trong các nỗ lực để hướng hoạt động tài chính của mình tới sự đảm bảo phát phát triển bền vững tại các nước đang phát triển, cũng đề xuất ra “Mười nguyên tắc phát triển bền vững”. Đó là: 1- Xây dựng các định hướng ưu tiên phát triển một cách thận trọng; 2- Sử dụng công cụ kinh tế thị trường nếu có thể; 3- Tăng cường tiết kiệm; 4- Tinh giảm bộ máy quản lí điều hành; 5- Khai thác mọi cơ hội cùng có lợi để tạo ra “hiệu ứng số nhân”; 6- Tạo cơ hội cho khu vực tư nhân hoạt động môi trường; 7- Đầu tư vào hiệp hội môi trường; 8- Quản lí quan trọng hơn công nghệ; 9- Phòng bệnh hơn chữa bệnh; 10- Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.

Quan điểm về phát triển bền vững của Liên hiệp Quốc