0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Lý luận cạnh tranh của trường phái Tân cổ điển (Lý luận cạnh tranh hoàn hảo)

Lý luận cạnh tranh của trường phái Tân cổ điển (Lý luận cạnh tranh hoàn hảo)

Lý luận về cạnh tranh hoàn hảo của trường phái Tân cổ điển cuối thế kỷ XIX, đại biểu là W.S.Jevons (1835-1882), A. Mashall (1842-1924), L. Walras (1834-1910), giả thiết rằng thị trường không có độc quyền, không có sự cọ xát, điều chỉnh để cân đối, người tham gia thị trường có thông tin như nhau.

Cạnh tranh hoàn hảo thúc đẩy các ngành, doanh nghiệp điều chỉnh qui mô sản xuất tới điểm thấp nhất của chi phí bình quân. Kết quả họ đã cho ra đời tư tưởng về thể chế kinh tế cạnh tranh hoàn hảo lấy thị trường tự do hoặc chế độ trao đổi làm cốt lõi. Lý luận này chú ý đến vấn đề hiệu quả phân phối hoặc sử dụng một cách tối ưu nguồn tài nguyên kinh tế.
Trong mọi thể chế kinh tế, cho dù tính chất xã hội thế nào chăng nữa, một trong những vấn đề quan trọng là phân phối một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên hiện có để các ngành, doanh nghiệp muốn có hiệu quả và lợi nhuận tối đa thì phải bố trí sản xuất theo nguyên tắc giá thành cận biên gắn với lợi ích cận biên.

Lý luận cạnh tranh của trường phái Tân cổ điển (Lý luận cạnh tranh hoàn hảo)

Lý luận cạnh tranh Karl Marx

Lý luận cạnh tranh Karl Marx

Lý luận cạnh tranh của Karl Marx nằm trong học thuyết giá trị thặng dư. Qui luật cạnh tranh cùng tác động với qui luật thặng dư. Theo Marx, cạnh tranh trong nền kinh tế hàng hóa lấy qui luật giá trị làm tiền đề. Thông qua giá trị, cạnh tranh có vai trò điều tiết, phân phối các yếu tố sản xuất, kích thích lực lượng sản xuất phát triển.

Cạnh tranh thúc đẩy gia tăng giá trị thặng dư tương đối. Sản xuất giá trị thặng dư tương đối được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu, tiền đề nâng cao năng suất lao động xã hội. Trên thị trường, các doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận siêu ngạch làm gia tăng năng suất lao động xã hội. Nhờ đó cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ hơn.

Cạnh tranh là đặc điểm nổi bật của kinh tế thị trường. Marx đã nghiên cứu một cách tỉ mỉ cạnh tranh trong nội bộ một ngành và cạnh tranh giữa các ngành khác nhau, và kết quả của hai loại cạnh tranh đó, một đàng là hình thành giá trị xã hội của hàng hóa và một đàng là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Những nguyên lý này, ngày nay vẫn còn giá trị của nó, mặc dù trong thực tế có sự ngăn cản của các tổ chức độc quyền, kể cả của các tổ chức độc quyền đa quốc gia.

Lý luận cạnh tranh Karl Marx

Lý luận cạnh tranh cổ điển

Chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển ra đời ở Anh vào thế kỷ XVIII mà nhân vật đại biểu kiệt xuất là Adam Smith và David Ricardo. Trong tác phẩm “nghiên cứu tính chất và nguồn gốc của cải của quốc dân” hay còn gọi là “Quốc phú luận” đề cập đến năng lực cạnh tranh toàn cầu xuất bản năm 1776 với tư tưởng tự do kinh tế trong đó có tư tưởng tự do cạnh tranh.

Theo Smith “nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải làm công việc của mình một cách chính xác, “cạnh tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố lớn nào. Từ đó cho thấy David Ricardo đã đóng góp cho lý luận cạnh tranh bằng thuyết lợi thế so sánh. Theo đó mỗi quốc gia, mỗi ngành cạnh tranh trên thị trường quốc tế bằng lợi thế của mình thông qua giá so sánh. Mỗi nước chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng có chi phí rẻ hơn so với thế giới, nhờ đó năng suất lao động tăng lên.

Adam Smith và David Ricardo cũng cho rằng giá trị và giá trị sử dụng chứa đựng trong sản phẩm là yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Như vậy có thể thấy khái niệm năng lực cạnh tranh là khái niệm động được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô.

Các cấp năng lực cạnh tranh

Do các chủ thể cạnh tranh có thể khác nhau, nên việc phân biệt về quan niệm năng lực cạnh tranh cũng cần được phân chia thành các cấp khác nhau.

1. Năng lực cạnh tranh sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó trên thị trường là sự thể hiện ưu thế tương đối của nó cả về định tính và định lượng so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại khác. Mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người tiêu dùng đón nhận với các mức độ cao thấp khác nhau. Sự thừa nhận của người tiêu dùng thể hiện việc qua việc mua hay không mua sản phẩm đó, là biểu hiện cuối cùng về năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó. Để được người tiêu dùng thừa nhận và đánh giá cao, mỗi sản phẩm hoặc dịch vụ cần có lợi thế cạnh tranh so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại khác. Các lợi thế này có thể là ưu thế về giá (giá bán thấp hơn) hoặc ưu thế về giá trị cho khách hàng (tạo sự khác biệt so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, mang lại giá trị cao hơn cho khách hàng, và có thể bán với giá cao hơn).

Năng lực cạnh tranh sản phẩm thường được nhận biết thông qua (i) đánh giá trực tiếp từ thị trường (tăng trưởng doanh thu, thị phần), (ii) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, chất lượng, giá cả, tiện ích, mẫu mã, vv) và (iii) đánh giá từ ý kiến của khách hàng (mức độ thỏa mãn nhu cầu, mức độ nhận biết sản phẩm, mức độ trung thành với nhãn hiệu, vv).

Đối với sản phẩm xuất khẩu, ngoài các dấu hiệu nhận biết nêu trên, năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm còn có thể được đánh giá thông qua Hệ số cạnh tranh biểu hiện (RCA). Hệ số này phản ánh vị trí lợi thế so sánh đạt được của sản phẩm trên thị trường quốc tế trong tương quan với tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia.

2. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Năng cạnh tranh của một doanh nghiệp thể hiện khả năng của nó trong dài hạn. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh tốt khi nó đạt được các kết quả tốt hơn mức trung bình. Như vậy, đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua khả năng cạnh tranh về giá và năng lực cạnh tranh ngoài giá (thị phần, chất lượng sản phẩm, năng suất, vv).

Đối với doanh nghiệp có tham gia hoạt động ngoại thương, việc đánh giá năng lực cạnh tranh có thể thông qua tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ xuất khẩu (doanh thu xuất khẩu so với tổng doanh thu), thị phần cho từng vùng hay thị phần tổng thể.

Vị thế trên thị trường quốc tế cũng là một thước đo trực tiếp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực thương mại, năng lực cạnh tranh có nghĩa là sự duy trì được thành công trên thị trường quốc tế mà không cần có sự bảo hộ hoặc trợ cấp. Mặc dù chi phí vận chuyển có thể cho phép các doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn tại thị trường trong nước, nhưng năng lực cạnh tranh lại thường được tính đến nhiều hơn thông qua lợi thế có được nhờ năng suất cao hơn.

Trong lĩnh vực phi thương mại, năng lực cạnh tranh là khả năng theo kịp hoặc vượt qua doanh nghiệp tốt nhất trên thị trường về mặt chi phí và chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ. Đo lường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực phi thương mại thường khó khăn hơn và thường bao gồm các thước đo về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, chi phí và chất lượng. Với các ngành được đầu tư trực tiếp nước ngoài, thước đo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể là phần trăm doanh thu từ nước ngoài hoặc thị phần của doanh nghiệp trên thị trường vùng hoặc thị trường toàn cầu.

3. Năng lực cạnh tranh ngành

Đối với một ngành, năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp (của quốc gia) trong ngành so với các đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp [29].

Theo Liên Hiệp Quốc, năng lực cạnh tranh của một ngành có thể được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong ngành, cán cân ngoại thương của ngành, cán cân đầu tư nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài và đầu tư từ nước ngoài vào), và những thước đo trực tiếp về chi phí và chất lượng ở cấp ngành [49].

Năng lực cạnh trạnh cấp ngành thường được xem là dấu hiệu phù hợp về “sức khoẻ” của nền kinh tế đối với ngành lên quan hơn là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Sự thành công của một doanh nghiệp của một quốc gia có thể là nhờ sở hữu những yếu tố đặc thù của doanh nghiệp mà khó hoặc không thể nhân rộng. Ngược lại, sự thành công của một số doanh nghiệp trong một ngành thường được xem là bằng chứng thuyết phục về sự sở hữu những yếu tố đặc thù của quốc gia và có thể nhân rộng hoặc cải thiện được. Tổng cộng các năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp riêng lẻ không có nghĩa là năng lực cạnh tranh của cả một ngành.

4. Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh quốc gia được quan niệm và phản ánh qua một loạt các chỉ tiêu và được nghiên cứu ngày càng nhiều từ những năm 1970- 1980. Nổi tiếng nhất là những đóng góp của nhà nghiên cứu Michael Porter với nhiều công trình về cạnh tranh nói chung, cạnh tranh của doanh nghiệp, lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một số lĩnh vực của một số quốc gia quan trọng như Tây Âu, Mỹ, Nhật, vv.

Đối với một quốc gia, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất sản phẩm và dịch vụ, trong điều kiện một thị trường tự do và bình đẳng, phù hợp với yêu cầu của thị trường quốc tế đồng thời nâng cao thu nhập thực sự cho công dân của quốc gia đó.

Năng lực cạnh tranh của quốc gia được đánh giá thông qua mức độ và tốc độ tăng của mức sống, mức độ và tốc độ tăng của năng suất tổng thể, và khả năng thâm nhập của các doanh nghiệp vào các thị trường quốc tế thông qua xuất khẩu hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài [29].

Sự gia tăng mức sống của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn khi doanh nghiệp muốn có được lợi thế trong việc tiếp cận các cơ hội của thị trường thế giới, nhất là trong điều kiện mà thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế thế giới những năm vừa qua.

Năng lực cạnh tranh của các ngành tham gia thương mại quốc tế có thể trở thành một đòn bẩy quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Điều này đặc biệt đúng với các nước nhỏ, khi mà năng lực cạnh tranh tốt cho phép họ vượt qua được những hạn chế về quy mô thị trường trong nước để khai thác hết những tiềm năng của ngành.

Một nền kinh tế mạnh phải có những doanh nghiệp mạnh. Năng lực cạnh tranh cũng rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nước nhằm chống lại những đe doạ từ môi trường kinh tế quốc tế, vốn ngày càng trở lên khốc liệt hơn bao giờ hết. Sự cạnh tranh này đang tạo những sức ép rất lớn lên mọi chủ thể của nền kinh tế, từ các nhà quản lý, đến lực lượng lao động và chính phủ. Trong một môi trường mà mọi doanh nghiệp cần phải liên tục cải thiện năng lực của mình để vượt qua những thách thức từ đội ngũ đông đảo các đối thủ, mỗi yếu kém về quản lý, lao động hay chính quyền đều làm tăng nguy cơ thất bại và có thể trở thành thảm hoạ đối với doanh nghiệp.

Đối với cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh có nghĩa là khả năng đạt được các tiêu chuẩn sống cao hơn của người dân. Ở hầu hết các quốc gia, tiêu chuẩn sống được xác định bởi năng suất theo các nguồn lực được huy động, sản lượng của nền kinh tế theo đơn vị lao động hay đơn vị vốn sử dụng. Một mức sống cao cho mọi người dân của quốc gia có thể được duy trì nhờ sự nâng cao năng suất liên tục, nhờ có năng suất cao hơn trong các ngành hiện tại hoặc nhờ tham gia vào các ngành có năng suất cao hơn. Năng lực cạnh tranh của quốc gia có thể được đo lường thông qua mức độ và sự gia tăng của mức sống, mức độ và sự tăng trưởng của năng suất tổng thể, và khả năng thâm nhập thị trường thế giới của các doanh nghiệp trong nước thông qua xuất khẩu và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống, môi trường xã hội, kinh tế đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan tâm . Cạnh tranh kinh tế chính là những quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường, là sự ganh đua của các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy lợi ích (lợi nhuận) cao nhất trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và các lợi ích khác …. Theo nhà kinh tế học Mỹ, Michael Porter, Đại học Harvard Mỹ thì cạnh tranh kinh tế là sự giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tối đa hóa lợi nhuận. Cạnh tranh kinh tế ở cả 3 cấp độ: Nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm “kiến tạo” nên năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa vì nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hóa. Trong sản xuất hàng hóa, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển… nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hóa, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh.

Cạnh tranh kinh tế chính là những quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường, là sự ganh đua của các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy lợi ích (lợi nhuận) cao nhất trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và các lợi ích khác …. Theo nhà kinh tế học Mỹ, Michael Porter, Đại học Harvard Mỹ thì cạnh tranh kinh tế là sự giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tối đa hóa lợi nhuận. Cạnh tranh kinh tế ở cả 3 cấp độ: nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm “kiến tạo” nên năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Theo từ điển bách khoa của Việt Nam thì: Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.

Khái niệm năng lực cạnh tranh. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.

Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ: (1) Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia, (2) Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/sản phẩm, (3) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ba cấp độ này có mối liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, khi xem xét, đánh giá và đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung, của doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng cần thiết phải đặt vấn đề này trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh nêu trên.

Một mặt, tổng hợp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế. Trong đó, các cam kết quốc tế, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành/sản phẩm hàng hóa trong quốc gia đó.

UNCTAD thuộc Liên hợp quốc cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là:” Năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc, hoặc nó cũng có thể được định nghĩa là năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền đẹp, rẻ của doanh nghiệp, hoặc nó còn được định nghĩa là sức cạnh tranh bắt nguồn từ tỷ suất lợi nhuận”.

Cạnh tranh hiện nay là khái niệm chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, nơi cung cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản, là linh hồn của sức sống thị trường. Theo quan điểm của P. Samuelson thi: “ Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường. [25, Tr 687].

Hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh (Michael Porter, 1996).

Theo Bạch Thụ Cường [1], từ điển thuật ngữ chính sách thương mại lại quan niệm năng lực cạnh tranh là “năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”.

Theo Chủ tịch Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ [50]: “năng lực cạnh tranh là khả năng của một quốc gia, trong điều kiện thị trường tự do và lành mạnh, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường quốc tế”.

Diễn đàn Kinh tế thế giới [51] lại quan niệm “năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”.

Theo Nhóm tư vấn về năng lực cạnh tranh [31]: “Năng lực cạnh tranh liên quan đến các yếu tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lợi. Năng lực cạnh tranh là một phương tiện nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúc lợi xã hội. Xét trên bình diện toàn cầu, nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bối cảnh phân công lao động quốc tế, năng lực cạnh tranh tạo nền tảng cho việc tăng thu nhập thực tế của người dân”.

Tóm lại, tất cả các định nghĩa về cạnh tranh trên đây đều là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế theo đó các chủ thể, cá thể huy động hết tất cả nguồn lực của mình, trên cơ sợ sử dụng nhiều phương thức khác nhau để giành các ưu thế trên thương trường để đạt được mục đích kỳ vọng và mục tiêu kinh tế (thị phần, khách hàng, tiện ích và lợi nhuận).

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh thì thì khái niệm về năng lực cạnh tranh được đề cập và được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Trong luận án này chỉ tập trung vào năng lực cạnh tranh của ngành.

Năng lực cạnh tranh của ngành là thể hiện thực lực và lợi thế của ngành so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng để đạt doanh thu cao. Đây là yếu tố nội hàm của mỗi ngành không chỉ được tính bằng các tiêu chí về tài chính, công nghệ, nhân lực, tổ chức quản trị ngành, doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh hoạt động trong cùng một lĩnh vực.

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế, năng lực cạnh tranh được xem là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của các ngành kinh tế và của quốc gia cũng như các doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố tác động đến năng suất lao động của quốc gia đó và là nhân tố đảm bảo thu nhập, sự phát triển bền vững của quốc gia tăng trưởng ổn định và lâu dài của nền kinh tế.

Khái niệm về năng lực cạnh tranh