0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Khái niệm đầu tư

Khái niệm đầu tư

Đầu tư là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai. Tuy nhiên, trong phạm vi xem xét khác nhau, khái niệm về đầu tư cũng có những điểm khác nhau.

Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Theo khái niệm này, đã là đầu tư thì phải bỏ vốn, chính là các tài sản hữu hình và vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư được pháp luật cho phép, như vậy tất cả các nhà đầu tư đều được tham gia đầu tư vào tất các lĩnh vực trong nền kinh tế mà không vi phạm các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quan niệm này lại chưa phản ánh được mục tiêu của các nhà đầu tư là phải sinh lợi.
Cũng có quan điểm cho rằng đầu tư là “việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai”[16], với quan niệm này đã nhấn mạnh đến mục đích của đầu tư là thu được lợi ích trong tương lai nhưng lại chưa phản ánh chủ thể mong muốn thu được lợi ích trong tương lai. Xét trên góc độ kinh tế, đầu tư là hy sinh tiêu dùng hiện tại để hy vọng có được thu nhập cao hơn trong tương lai. Đối với từng chủ thể trong nền kinh tế, đó là tạo ra hoặc tăng thêm lợi ích, những giá trị riêng biệt cho các chủ thể. Đối với toàn bộ nền kinh tế, chính là tạo ra hoặc gia tăng giá trị tổng thể cho toàn xã hội. Đầu tư là phải ứng ra một lượng vốn nhất định và được sử dụng trong tương lai, do đó đầu tư luôn gắn với rủi ro.

Với phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả xin đưa ra quan điểm về đầu như như sau: đầu tư là quá trình ứng ra một lượng vốn nhất định (bằng tiền mặt, tài sản) ở hiện tại với mục đích là làm tăng thêm giá trị trong tương lai cho chủ thể bỏ vốn.

Khái niệm đầu tư

Khái niệm hộ gia đình

Khái niệm hộ gia đình

Hộ gia đình mà các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó; hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó.

Hộ gia đình bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung. Những người nầy có thể có hoặc không có quỹ thu, chi chung; có thể có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt.

Trong một nhà hay một căn hộ có thể có một hoặc nhiều hộ, mỗi hộ được coi là một đơn vị điều tra. Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất,  quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên trong gia đình thỏa thuận là tài sản chung của hộ.

Khái niệm hộ gia đình

Khái niệm chung về logistics

Khái niệm chung về logistics

Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về logistics. Sau đây là một vài định nghĩa tiêu biểu về logistics:

Trước những năm 1980, logistics được hiểu là “các hoạt động phân phối vật chất (PD) và quản lý kho bãi trong lưu thông thành phẩm và dịch vụ” [64,tr.2]. Đây là quan niệm logistics theo nghĩa hẹp (Outbound logistics), theo đó logistics chỉ gắn với các hoạt động liên quan đến quản lý đầu ra của sản xuất (những hàng hóa và dịch vụ cuối cùng) như vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý tồn kho, đóng gói, bao bì, phân loại, dán nhãn…

Năm 1988, Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC- The US. Logistics Administration Council) quan niệm “logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng” [82,tr.4]. Định nghĩa này đã liệt kê các hoạt động cơ bản của logistics, nhấn mạnh Logistics bao gồm một chuỗi các hoạt động liên hoàn từ khâu lên kế hoạch, đến khâu thực hiện và khâu kiểm soát dòng lưu trữ, vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và thông tin từ khi mua cho đến khi được tiêu dùng. Đồng thời, nó cũng nói được mục đích của logistics một cách khái quát nhất, đó là nhằm thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng.

Theo tài liệu giảng dạy của trường Đại học hàng hải thế giới thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” [93,tr.5]. Quan niệm này ngay từ đầu nhấn mạnh mục đích của các hoạt động logistics, bên cạnh việc liệt kê các hoạt động logistics cơ bản. Mục đích tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển là khác biệt cơ bản giữa hoạt động logistics và các hoạt động kinh tế khác, nên việc nhấn mạnh mục đích này là hợp lý khi định nghĩa logistics. Tuy nhiên, định nghĩa này không bao quát hết nội hàm của khái niệm logistics, nó mới chỉ liệt kê đến các hoạt động liên quan đến yếu tố đầu vào, tài nguyên mà chưa chỉ rõ được hoạt động lưu kho, vận chuyển hàng hóa và cả các yếu tố phi vật chất như thông tin qua từng khâu của quá trình sản xuất, lưu thông và đến với người tiêu dùng.

Chủ tịch học viện Nghiên cứu Logistics Georgia, Hoa Kỳ, ông Edward Frazelle thì cho rằng “Logistics là quá trình lưu chuyển của vật tư, thông tin và tiền tệ từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng” [75,tr.6]. Đây là một định nghĩa ngắn gọn, nhấn mạnh khía cạnh lưu chuyển thông tin và tiền tệ trong logistics, nhưng theo chúng tôi, định nghĩa như vậy chưa đầy đủ. Từ “vật tư” theo từ điển tiếng Việt được hiểu là các thứ vật liệu, máy móc, công cụ cần cho sản xuất, xây dựng nói chung, như vậy nó hẹp hơn đối tượng mà nội hàm hoạt động logistics tác động. Hơn nữa, định nghĩa này chưa nói được mục đích của hoạt động logistics.

Một định nghĩa về logistics được dùng tương đối phổ biến là “Logistics là có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất” [100,tr.6]. Mặc dù được dùng tương đối phổ biến, song đây không phải là một định nghĩa chuẩn bởi vì nó không nói được nội hàm, nội dung các hoạt động, nghiệp vụ của khái niệm này (định nghĩa này chỉ cho chúng ta thấy được mục đích của logistics mà thôi). Việc dùng định nghĩa này cũng là một trong các nguyên nhân làm cho logistics trở nên mơ hồ, dẫn đến sự thiếu hiểu biết hay nhầm lẫn về logistics.

Tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày 14/6/2005 đã thông qua Luật thương mại 2005, trong đó có qui định cụ thể khái niệm dịch vụ logistics. Tại điều 233 – Mục 4 – Chương VI của Luật Thương mại ngày 14/6/2005, Luật qui định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” [38,tr.58]. Như vậy, Luật Thương mại 2005 không định nghĩa logistics mà chỉ đề cập đến dịch vụ logistics và chưa coi logistics là một chuỗi các hoạt động liên hoàn trong chuỗi cung ứng.

Tóm lại, cho đến nay còn nhiều tranh cãi xung quanh việc định nghĩa khái niệm logistics. Sở dĩ có nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa khái niệm logistics là vì logistics không phải là một hoạt động mà gồm một chuỗi các hoạt động phục vụ cho quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông. Hơn thế nữa, theo thời gian, cùng với sự phát triển của sản xuất, của phân công lao động xã hội mà các hoạt động này ngày càng mở rộng và phát triển. Chính vì thế, nội hàm của khái niệm logistics thay đổi theo thời gian và không gian. Điều này dẫn đến sự xuất hiện các định nghĩa khác nhau về logistics ở những thời điểm và không gian khác nhau.

Theo chúng tôi, định nghĩa mới nhất mà Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals- CSCMP) Hoa Kỳ đưa ra năm 2001 là chính xác và toàn diện hơn cả, theo đó Logistics được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ,thông tinhai chiềugiữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùngnhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng[1]. [112]

Theo định nghĩa này, logistics gắn liền và là một bộ phận của chuỗi cung ứng (Supply Chain), liên quan đến các khâu của chuỗi cung ứng từ nhập nguyên, nhiên vật liệu qua các khâu của quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Trong mỗi khâu đó, hoạt động logistics bao gồm cả quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả cao. Trong định nghĩa này, góc độ “logistics ngược chiều” xuất hiện đã tiến thêm một bước mở rộng nội hàm của logistics so với các định nghĩa ở trên. Dịch vụ logistics ngược chiều dùng để chỉ hoạt động quản lý, lưu chuyển những dòng vật tư, phế phẩm, hàng trả lại quay trở lại quá trình sản xuất. Ngoài ra, logistics ngược chiều còn dùng để chỉ các hoạt động thu nhận, quản lý, xử lý nguồn thông tin phản hồi từ phía các khách hàng – một khâu ngày càng có vị trí quan trọng trong cạnh tranh.

Như vậy, có thể thấy một số đặc điểm cơ bản về logistics như sau:

* Logistics bao gồm hàng loạt các hoạt động liên hoàn từ lên kế hoạch, quản lý thực hiện và kiểm soát dòng lưu trữ, vận chuyển các tài nguyên (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa), tài chính, thông tin từ nơi cung cấp đến kho chứa, qua các nhà xưởng, các xí nghiệp, nhà máy, kho bãi, người bán buôn, người bán lẻ và đến tay người tiêu dùng. Để đưa hàng hóa và các yếu tố sản xuất từ nhà cung ứng đến người tiêu dùng một cách có hiệu quả, cần phải tổ chức thực hiện một chuỗi các hoạt động logistics liên tục có liên quan hữu cơ với nhau: từ nghiên cứu, lập kế hoạch, tổ chức, quản lý, kiểm tra, kiểm soát đến hoàn thiện các mục tiêu. Hoạt động quản lý logistics thường bao gồm việc tìm nguồn cung ứng và mua sắm, lập kế hoạch và lịch trình sản xuất, đóng gói, lắp ráp, quản lý vận tải trong và ngoài doanh nghiệp, quản lý đội tàu, kho bãi, xử lý vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản lý hàng tồn kho và dịch vụ khách hàng. Logistics liên quan đến tất cả các cấp lập kế hoạch, xây dựng chiến lược, hành động và chiến thuật.

Mỗi khâu của quá trình logistics lại có những đặc trưng cơ bản song các khâu có tác động qua lại, liên quan mật thiết với nhau, hiệu quả ở khâu này làm tiền đề cho việc triển khai hoạt động ở các khâu tiếp theo và ảnh hưởng đến hiệu quả chung của toàn bộ hệ thống. Trong toàn bộ quá trình ấy, vấn đề then chốt là lấy thỏa mãn khách hàng là mục tiêulấy lợi ích tổng thể của doanh nghiệp làm mục đích, coi trọng hiệu quả mọi mặt, nhưng trên hết là hiệu quả kinh tế.

* Đối tượng tác động của logistics: là các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất. Nó có thể là các yếu tố hữu hình như vật tư, hàng hóa, nguyên nhiên phụ liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hoặc hàng phế phẩm, hàng trả lại… và cũng có thể là các yếu tố vô hình như vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, thông tin.

* Bản chất của quá trình logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí (chọn và bố trí mạng lưới hạ tầng cơ sở) và tối ưu hóa các dòng vận động (hoạch định việc lưu chuyển các đối tượng tác động nêu trên nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tối ưu trong tương quan với tiềm lực của doanh nghiệp).

* Mục tiêu chung của logistics là có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất với chi phí thấp nhất có thể. Nói cách khác, mục tiêu của logistics là cung cấp đúng số lượng của đúng yếu tố, tại đúng địa điểm vào đúng thời gian quy định với chi phí tối ưu. Các yếu tố ở đây là các đối tượng của logistics đã đề cập.

* Logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng (Supply chain). Dây chuyền cung ứng là một mạng lưới lưu chuyển vật tư, hàng hóa, thông tin và tiền tệ giữa các tổ chức [75, tr.8]. Khi nói đến dây chuyền cung ứng, người ta đề cập đến một chuỗi các mắt xích có quan hệ mật thiết với nhau đó là các chủ thể tham gia vào quá trình lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ, mạng lưới hạ tầng cơ sở (như nhà xưởng, kho bãi, bến cảng, các trung tâm phân phối…) hệ thống phương tiện vận tải, hệ thống thông tin. Các mắt xích này được liên kết với nhau bởi quá trình mua bán, trao đổi các vật phẩm, dịch vụ. Logistics chính là các hoạt động, dịch vụ được triển khai để kích hoạt dây chuyền cung ứng đó, nó bao gồm các hoạt động để các mắt xích kia liên kết với nhau theo phương thức tối ưu nhất nhằm thỏa mãn khách hàng tốt nhất.

[1] Nguyên văn bằng tiếng Anh là: “Logistics management is that part of the Supply Chain Management process that plans, implements, and controls the efficient, effective forward and reverse flow and storage of goods, services, and related information between the point of origin and the point of consumption in order to meet customers’ requirements.”[112]

Khái niệm chung về logistics

Chia sẻ một số tên đề tài luận văn cao học ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình – Part 3

Chia sẻ một số tên đề tài luận văn cao học ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình – Part 3

Xem thêm : Part 1Part 2Part 3

Part 3 – Luận văn A-Z chia sẻ một số tên đề tài luận văn cao học ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình cho các anh chị đang chuẩn bị viết luận văn cao học, luận văn thạc sĩ tham khảo:

101 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự

102 Quyền và nghĩa vụ của tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

103 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong phiên tòa phúc thẩm dân sự

104 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam

105 Người tiến hành tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự

106 Hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát tại phiên tòa dân sự

107 Nghị án trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

108 Người tiến hành tố tụng của phiên tòa sơ thẩm dân sự

109 Giám định tư pháp theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

110 Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam

111 Người phiên dịch trong tố tụng dân sự Việt Nam

112 Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản trong thi hành án dân sự

113 Căn cứ phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam

114 Hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật

115 Quyền và nghĩa vụ của bị đơn trong tố tụng dân sự Việt Nam

116 Người làm chứng trong tố tụng dân sự Việt Nam

117 Thỏa thuận lựa chọn tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc dân sự theo pháp luật Việt Nam

118 Căn cứ hủy bản án trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

119 Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn trong tố tụng dân sự Việt Nam

120 Xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc dân sự

121 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

122 Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên

123 Thời hạn trong tố tụng dân sự

124 Đại diện giữa vợ và chồng theo pháp luật Việt Nam

125 Phiên họp giải quyết việc dân sự

126 Nhập và tách vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam

127 Tạm ngừng phiên tòa dân sự

128 Quyền yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự

129 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

130 Những vụ án dân sự không được hòa giải và không tiến hành hòa giải được

131 Ủy thác thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt Nam

132 Ủy thác thi hành án dân sự

133 Tố cáo và giải quyết tố cáo trong tố tụng dân sự

134 Xác định công sức đóng góp để phân chia tài sản chung vợ chồng

135 Thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng khi chấm dứt hôn nhân

136 Thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

137 Hòa giải tranh chấp đất đai ở cấp xã – điều kiện để khởi kiện vụ án dân sự

138 Nguyên đơn rút yêu cầu trong tố tụng dân sự

139 Xem xét, thẩm định tại chỗ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân

140 Hoạt động giám định chữ viết, chữ ký trong giải quyết vụ việc dân sự

141 Ủy thác tư pháp trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

142 Đại diện giữa vợ và chồng theo pháp luật Việt Nam

143 Thi hành án dân sự về cấp dưỡng

Chia sẻ một số tên đề tài luận văn cao học ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình – Part 3

Chia sẻ một số tên đề tài luận văn cao học ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình – Part 2

Chia sẻ một số tên đề tài luận văn cao học ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình – Part 2

Xem thêm : Part 1Part 2Part 3

Part 2 – Luận văn A-Z chia sẻ một số tên đề tài luận văn cao học ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình cho các anh chị đang chuẩn bị viết luận văn cao học, luận văn thạc sĩ tham khảo:

51 Tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam

52 Hoãn phiên tòa dân sự

53 Căn cứ ly hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

54 Hoạt động chứng minh của đương sự trong thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự

55 Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo thủ tục tố tụng dân sự

56 Thủ tục giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

57 Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam

58 Định giá trong tố tụng dân sự Việt Nam

59 Biện pháp buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định trong thi hành án dân sự

60 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

61 Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

62 Nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

63 Kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành án

64 Thủ tục thi hành án đối với trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành

65 Người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam

66 Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

67 Thẩm quyền thụ lý vụ án dân sự theo lãnh thổ

68 Thủ tục bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự

69 Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án

70 Quyền hủy bản án sơ thẩm của hội đồng xét xử phúc thẩm trong Pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam

71 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự

72 Kháng nghị giám đốc thẩm dân sự

73 Biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ trong tố tụng dân sự Việt Nam

74 Quyền khởi kiện vụ án dân sự

75 Hoạt động kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

76 Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

77 Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

78 Đương sự trong tố tụng dân sự

79 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự

80 Địa vị pháp lý của đương sự trong thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự

81 Phiên tòa phúc thẩm dân sự theo pháp luật Việt Nam

82 Hoạt động chứng minh của Tòa án nhân dân trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

83 Xác minh tài sản để thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam

84 Vấn đề mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam

85 Kê biên tài sản là bất động sản để thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam

86 Quyền và nghĩa vụ của tòa án cấp phúc thẩm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự

87 Giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

88 Xét xử vắng mặt đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

89 Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục phúc thẩm dân sự

90 Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

91 Cấp dưỡng trong pháp luật hôn nhân và gia đình

92 Người tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm dân sự

93 Quyền và nghĩa vụ của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự

94 Quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm nhân dân trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

95 Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

96 Thủ tục tố tụng áp dụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự

97 Thủ tục tố tụng áp dụng tại phiên tòa phúc thẩm dân sự

98 Địa vị pháp lý của Hội đồng xét xử sơ thẩm dân sự

99 Kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

100 Kê biên tài sản đang tranh chấp trong vụ án dân sự

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

Chia sẻ một số tên đề tài luận văn cao học ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình – Part 2