0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Sản phẩm du lịch đặc thù là những sản phẩm có được yếu tố hấp dẫn, độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) cho một lãnh thổ/điểm đến du lịch; với những dịch vụ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu/mong đợi của du khách mà còn tạo được ấn tượng bởi tính độc đáo và sáng tạo.

Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 đã xác định “Phát triển du lịch bền vững, theo định hướng du lịch sinh thái và du lịch văn hóa – lịch sử, đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, góp phần tích cực trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới”

Như vậy việc phát triển sản phẩm du lịch đặc thù đã được đặt ra như một nội dung chiến lược quan trọng của Du lịch Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập của Du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế.

Căn cứ đặc điểm tài nguyên du lịch – yếu tố quan trọng quyết định đối với phát triển sản phẩm du lịch – và các điều kiện có liên quan, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đã xác định định hướng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù cho từng vùng du lịch

– Vùng du lịch Bắc bộ: sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịch văn hóa trên nền văn minh lúa nước, du lịch sinh thái kết hợp với tham quan, nghiên cứu và nghỉ dưỡng.

– Vùng du lịch Bắc Trung bộ: sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịch thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển, tham quan các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng, đặc biệt là các di sản văn hóa thế giới, du lịch hang động và du lịch quá cảnh qua hành lang Đông Tây

– Vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ: các sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịch tham quan, nghỉ dưỡng biển và núi, du lịch sông nước, du lịch sinh thái đồng bằng sông Cửu Long

Mặc dù đã có được định hướng cho hoạt động phát triển sản phẩm du lịch đặc thù theo vùng miền nhằm góp phần nâng cao tính cạnh tranh của Du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập với khu vực và quốc tế, tuy nhiên trong thực tế việc phát triển các sản phẩm du lịch ở Việt Nam thời gian qua có những đặc điểm cơ bản sau:

– Phát triển sản phẩm mà thiếu những nghiên cứu cần thiết nhằm xác định cụ thể “tính hấp dẫn, độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện” của tài nguyên du lịch.

– Phát triển sản phẩm với mục tiêu kinh doanh ngắn hạn: nhằm giảm chi phí và tăng thu, nhiều công ty du lịch thay vì phải tiến hành điều tra khảo sát xây dựng chương trình tour, đánh giá “cung – cầu”… để xây dựng sản phẩm du lịch đã tiến hành việc “sao chép” sản phẩm du lịch của các công ty khác.

– Phát triển sản phẩm một cách thiếu sáng tạo, “rập khuôn” và “máy móc”: với quan niệm cần “học hỏi” để rút ngắn thời gian và chi phí cho việc phát triển sản phẩm du lịch, nhiều nhà đầu tư đã “copy” gần như toàn bộ mô hình những khu, điểm du lịch mà mình có điều kiện tham quan, khảo sát mà thiếu cân nhắc khi áp dụng trong những điều kiện không phù hợp về tự nhiên, văn hóa – xã hội cũng như quan hệ “cung – cầu”.

– Phát triển sản phẩm không đúng với bản chất do sự thiếu hiểu biết của các nhà đầu tư. Thể hiện điển hình nhất của tình trạng này là việc phát triển các sản phẩm “du lịch sinh thái”. Phần lớn các sản phẩm du lịch sinh thái hiện nay đều không đúng với bản chất đã được quy định, trong đó phổ biến là thiếu nội dung về “giáo dục môi trường”; “có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn”; và “có sự tham gia tích cực của cộng đồng”.

Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch ở Indonesia

Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch ở Indonesia

Đất nước và tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch Indonesia

* Vị trí địa lý: Indonesia là một quốc đảo với khoảng 17.500 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó phải kể đến một số đảo chính như: đảo Java, đảo Sumatra, đảo Kalimanta (phần lãnh thổ của Indonesia trên đảo Borneo, hòn đảo thuộc chủ quyền của 3 nước Indonesia, Malaysia và Brunei Darussalam), đảo Sulawesi (hay Celebes), quần đảo Moluccas, quần đảo Nusa Tenggara (hay quần đảo Sunda nhỏ, trong đó một nửa phía Tây thuộc Đông Timor và đảo Bali) và đảo Papua (trước đây có tên là Irian Jaya, là một phần của đảo New Guinea – phần còn lại thuộc quốc đảo Papua New Guinea).

Với tổng diện tích lên tới 1,9 triệu km2, Indonesia là nước lớn thứ 15 trên thế giới, trải dài khoảng 5.440km từ lục địa Đông Nam Á về phía đông Philippines và Australia, được bao quanh bởi ba vùng biển Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Biển Đông. Nằm trên một đường đứt gãy kiến tạo, Indonesia là khu vực chịu ảnh hưởng của động đất, núi lửa phun trào, bão lũ và hạn hán.

* Dân số: Theo báo cáo dân số thế giới của Ủy ban Xã hội thuộc Liên hợp quốc, năm 2012, dân số Indonesia vào khoảng 245 triệu dân, đứng thứ 4 trên thế giới với tỷ lệ 122 triệu nam giới (chiếm 49,8%) và 123 triệu nữ giới (chiếm 50,2%). Tổng dân số tăng 1,3%/năm trong giai đoạn 2000-2005 và 1,1%/năm giai đoạn 2005-2010, tương đương khoảng 2,5 triệu dân/năm. Mức tăng trưởng này dự báo sẽ giảm xuống 1,0% mỗi năm trong giai đoạn 2010-2015 và 0,8% giai đoạn 2015-2020.

* Ngôn ngữ: Ngôn ngữ chính thức là tiếng Indonesia (Bahasa Indonesia), có sự liên quan mật thiết với tiếng Mã Lai, nhưng bên cạnh đó có tới hơn 300 ngôn ngữ địa phương, trong đó quan trọng nhất là ngôn ngữ Java.  Tiếng Anh và tiếng Anh “bồi” được sử dụng rộng rãi ở các thành phố, tiếng Hà Lan ngày càng mất ảnh hưởng.

* Tôn giáo: Điều tra năm 2000 đã đưa ra số liệu thống kê dân số theo tôn giáo như sau: đạo Hồi chiếm 86%; đạo Tin Lành chiếm 6%; Công giáo La Mã chiếm 3%; đạo Hinđu chiếm 2%; còn lại 3% thuộc tôn giáo khác. Hầu hết người Indonesia cảm thấy thoải mái với đạo Hồi, nhưng ở một số khu vực cũng có những căng thẳng xã hội giữa người theo đạo Kitô và người theo đạo Hồi.

* Môi trường kinh tế: Trong những năm gần đây, Indonesia trở thành một trong những nước có nền kinh tế năng động hơn trên thế giới, và hiện nay là nền kinh tế lớn thứ 16 trên thế giới. Indonesia là một trong những thành viên sáng lập của tổ chức ASEAN và là thành viên của hội nghị G20 của các nền kinh tế lớn.

Năm 1997, kinh tế Indonesia bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nhưng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 thì nước này lại vượt qua tương đối dễ dàng. Năm 2009 Indonesia là một trong số ít các nước thành viên G20 đạt được tăng trưởng kinh tế tích cực. Hàng loạt lĩnh vực kinh tế đạt tăng trưởng tốt, được thúc đẩy bởi cả tăng trưởng xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong nước. Chính sách khôn ngoan của Chính phủ đã giúp duy trì thâm hụt ngân sách và nợ công ở mức vừa phải và lạm phát thấp so với trước đây.

* Chính sách du lịch: Vào cuối năm 2011, chính phủ Indonesia đã bổ nhiệm Tiến sĩ Mari Elka Pangestu, nguyên Bộ trưởng Thương mại – một người được đánh giá là có trình độ cao và rất năng động, để làm Bộ trưởng Bộ Du lịch (sau đó được đổi tên thành Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo). Điều này đã đã cho thấy sự chú trọng của chính phủ Indonesia tới vai trò của du lịch trong nền kinh tế đất nước.

Báo cáo năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2011 xếp Indonesia đứng thứ 13 trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và đứng thứ 74 trên thế giới – tăng 7 bậc so với vị trí trong Báo cáo năm 2009. Liên quan tới các chỉ số ảnh hưởng đến du lịch outbound, Indonesia đứng thứ 4 trên thế giới về cạnh tranh giá trong ngành du lịch và lữ hành, một phần do giá vé tham quan và lệ phí sân bay thấp (đứng thứ 16); xếp thứ 17 về tác động của thuế nói chung và thứ 19 về mức giá nhiên liệu ưu đãi. Ngoài ra, Indonesia còn xếp thứ 15 về mức độ ưu tiên quốc gia cho du lịch; xếp thứ 32 về mức độ cởi mở hợp tác song phương trong lĩnh vực dịch vụ hàng không và xếp thứ 37 về mạng lưới hàng không quốc tế.

Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy, những thế mạnh trên bị hạn chế bởi cơ sở hạ tầng trong nước kém phát triển, trong đó có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (đứng thứ 96) và mối lo ngại liên quan tới an toàn và an ninh, đặc biệt là sự thiếu tin tưởng vào dịch vụ cảnh sát và chi phí thiệt hại có thể xảy ra do khủng bố.

Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch của Indonesia

Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2015 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia.

Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế – xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD.

Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

Năm 2012, với sự hợp tác của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo Indonesia đã ban hành “Kế hoạch chiến lược Phát triển du lịch bền vững và Việc làm xanh cho Indonesia” với tầm nhìn “Nâng cao sự thịnh vượng và chất lượng cuộc sống cho người dân Indonesia thông qua phát triển du lịch và kinh tế sáng tạo”. Hiển nhiên, bền vững là yếu tố quan trọng nhất trong việc hiện thực hóa tầm nhìn này, bởi chất lượng cuộc sống không thể bảo đảm nếu thiếu sự bền vững. Kế hoạch này hình thành khung chiến lược cho hoạch định du lịch bền vững, đồng thời đưa ra những giải pháp chiến lược cùng phương cách thực hiện nhằm đạt được sự bền vững và việc làm xanh trong du lịch. Tiếp cận theo hướng này, Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo Indonesia hy vọng rằng ý tưởng về tính bền vững và việc làm xanh sẽ được lồng ghép trong mọi chính sách liên quan đến phát triển du lịch ở Indonesia.

* Định hướng của “Kế hoạch chiến lược Phát triển du lịch bền vững và Việc làm xanh cho Indonesia”:

– Thay đổi tư duy của tất cả các bên liên quan;

– Xây dựng và áp dụng các chỉ số đo lường du lịch bền vững;

– Làm quen với tư duy mới về Việc làm xanh và Du lịch bền vững;

– Ban hành cơ chế kiểm soát, quản lý chiến lược và thực thi chiến lược.

* Những giải pháp thực hiện:

– Thúc đẩy việc làm xanh thông qua phát triển du lịch bền vững: nhằm đạt được mục tiêu về hiệu suất làm việc trong khi bảo đảm sự tự do, công bằng, an toàn, phẩm giá con người và giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường, trong cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

– Ưu tiên giảm nghèo trong ngành du lịch: nhằm giảm nghèo cho cộng đồng địa phương, bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên, văn hóa và lối sống của người dân bản địa. Giảm nghèo trong du lịch liên quan tới các vấn đề: giám sát và đánh giá tác động môi trường của du lịch; hỗ trợ việc làm liên quan đến du lịch ở khu vực nông thôn như du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp; tăng cường phối hợp và trao đổi; giải quyết tình trạng thất nghiệp hiện tại.

– Nâng cao cơ hội việc làm cho thanh niên trong ngành du lịch và phát triển du lịch thanh niên: nhằm hỗ trợ thanh niên nhận thức được tầm quan trọng của tính bền vững trong các hoạt động du lịch của mình. Chính họ là những người có tiềm năng làm việc trong ngành du lịch với kỹ năng tốt và nhận thức đầy đủ về khái niệm bền vững trong quản lý, vận hành và xây dựng hệ thống du lịch trong tương lai.

– Bảo vệ phụ nữ và trẻ em chống lại những vấn đề về giới và trẻ em: mục tiêu ở đây là tạo cơ hội cho phụ nữ có việc làm được trả công tốt hơn, tương đương với những đồng nghiệp nam ở cùng vị trí, cùng trình độ kỹ năng, giúp họ có điều kiện làm việc tốt hơn. Đồng thời, loại bỏ mọi hình thức lao động trẻ em trong ngành.

– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tự nguyện trong du lịch bền vững: nhằm xây dựng bộ tiêu chuẩn về đạo đức trong ngành, xây dựng các tiêu chuẩn và chương trình chứng nhận trong du lịch bền vững. Đây sẽ là cơ sở vững chắc để phát triển du lịch, tạo cơ hội cho tất cả các bên liên quan trong ngành dễ dàng tương tác với nhau theo những chuẩn mực này.

– Coi đào tạo và nghiên cứu du lịch là một ưu tiên trong chiến lược đào tạo và nghiên cứu của đất nước: Du lịch nói chung và du lịch bền vững nói riêng là ngành đòi hỏi phải có kiến thức, do vậy cần có nguồn nhân lực có trình độ phù hợp ở cả khu vực nhà nước và tư nhân. Đào tạo cho nhân lực của tất cả các bên liên quan ở tất cả các cấp là một yêu cầu bắt buộc.

– Xác định những đối tác tiềm năng ở địa phương: Chiến lược phát triển du lịch bền vững tại địa phương cần được xây dựng phù hợp với tiềm năng, điều kiện và các ưu tiên chính sách của địa phương đó.

– Triển khai marketing sáng tạo và có lựa chọn: Để bảo đảm công tác marketing điểm đến được hiệu quả cần phân bổ ngân sách lớn và được sử dụng một cách khôn ngoan. Về dài hạn, cần phải đầu tư thích đáng vào nghiên cứu thị trường, qua đó xây dựng chiến lược marketing sáng tạo và hiệu quả về chi phí, cũng như tìm ra được những thị trường tiềm năng.

– Áp dụng cách tiếp cận bền vững trong hoạch định du lịch: Cách tiếp cận này đặt cộng đồng và con người là những đối tượng chính của du lịch, qua đó nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.

– Thành lập một cơ quan điều phối duy nhất cho phát triển du lịch bền vững: Vấn đề chính trong điều hành ở các cấp là các cơ quan du lịch thường thiếu năng lực trong phối hợp với các ngành liên quan. Do vậy, cần có một cơ quan điều phối đủ sức mạnh để chỉ đạo hoạt động của các bên liên quan. Cơ quan này cần được thành lập ở cả cấp tỉnh/thành phố và các địa phương.

Kết quả đạt được

Theo Cục thống kê Trung ương Indonesia (BPS), các điểm đến hàng đầu ở Indonesia là Bali, Tây Java, Trung Java, Đông Java, Jakarta, Bắc Sumatra, Lampung, Nam Sulawesi, Nam Sumatra, Banten và Tây Sumatra.

Như hầu hết các quốc gia khác, khách du lịch nội địa là phân khúc thị trường lớn nhất. Thời gian khách nội địa đi lại nhiều nhất là dịp lễ Eid ul-Fitr diễn ra trong thời gian 2 tuần sau tháng ăn chay Ramadan. Thời gian này rất nhiều người dân theo đạo Hồi đi lại thăm bà con ở quê. Giao thông trong nội đô thường xảy ra ùn tắc và có thể người tham gia giao thông sẽ bị tính thêm phí.

Trong giai đoạn 5 năm đầu thế kỷ 21, Indonesia đặt trọng tâm thu hút khách du lịch nội địa. Sự cạnh tranh giữa các hãng hàng không giá rẻ đã làm tăng lượng khách du lịch nội địa bằng đường hàng không trong cả nước. Gần đây, Bộ Lao động Indonesia đã có chính sách tạo ra các kỳ nghỉ cuối tuần dài hơn khi kết hợp với các kỳ nghỉ lễ quốc gia nếu rơi vào gần dịp cuối tuần, trừ trường hợp diễn ra các dịp lễ tôn giáo quan trọng. Trong những dịp nghỉ cuối tuần dài này, hầu hết các khách sạn tại các điểm đến nổi tiếng đều kín phòng.

Từ năm 2000, tính trung bình mỗi năm có khoảng 5 triệu khách quốc tế đến Indonesia, chi tiêu trung bình khoảng 100 USD/ngày, thời gian chuyến đi trung bình từ 9-12 ngày; mang lại nguồn thu ngoại tệ hàng năm khoảng 4,6 tỷ USD cho đất nước. Nguồn thu này đưa du lịch trở ngành quan trọng thứ ba trong nền kinh tế Indonesia sau ngành gỗ và dệt may (không tính các ngành dầu khí và gas).

Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản và Úc để trở thành thị trường nguồn lớn thứ ba của Indonesia, đạt mức tăng trưởng hàng năm khoảng 30,42%. Theo số liệu trong quý 1 năm 2014, những quốc gia thị trường nguồn hàng đầu của Indonesia đến từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó Singapore (tăng 15,7%), Malaysia (14,0%), Trung Quốc (11,0), Úc và Nhật Bản. Vương quốc Anh, Pháp và Đức là những thị trường nguồn lớn nhất từ châu Âu. Mặc dù khách Hà Lan quan tâm đến tìm hiểu quan hệ lịch sử giữa hai nước, nhưng phần lớn khách châu Âu ưa thích các bãi biển khí hậu nhiệt đới ở Bali.

Trong tổng số du khách quốc tế đến Indonesia, khoảng 59% vì mục đích nghỉ dưỡng, 38% vì mục đích công việc. Năm 2012, theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới, du lịch và lữ hành đóng góp khoảng 8,9% GDP và tạo ra 8% trong tổng số việc làm của đất nước.

Ở Indonesia, tự nhiên và văn hóa là hai yếu tố nền tảng tạo dựng nên hệ thống sản phẩm du lịch. Các chiến dịch quảng bá du lịch tập trung mạnh vào xúc tiến các điểm đến nhiệt đới với biển xanh, cát trắng và các thắng cảnh văn hóa. Các khu nghỉ dưỡng và khách sạn ven biển đã được phát triển ở một số điểm đến nổi tiếng, đặc biệt là đảo Bali. Trong khi đó, du lịch văn hóa được xem là một phần không thể tách rời của ngành du lịch Indonesia. Ngược lại, phát triển du lịch sẽ góp phần phát huy và bảo tồn di sản văn hóa. Với tiềm năng và chính sách nhất quán như vậy, Indonesia tập trung phát triển những loại hình sản phẩm du lịch sau:

* Về du lịch tự nhiên, Indonesia sở hữu hệ sinh thái và rừng mưa đa dạng, phong phú được bảo vệ tốt, bao phủ khoảng 57% diện tích đất liền Indonesia, trong đó khoảng 2% là rừng đước. Một trong những nguyên nhân khiến hệ sinh thái tự nhiên ở Indonesia được bảo vệ tốt là do chỉ có 6.000 trong tổng số 17.000 hòn đảo của đất nước này là có người sinh sống thường xuyên. Những khu rừng ở Sumantra và Java là những điểm du lịch rất nổi tiếng. Hơn nữa, Indonesia có đường bờ biển vào hàng dài nhất trên thế giới (khoảng 54.000km), với rất nhiều bãi biển và khu nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, hầu hết các bãi biển còn nguyên sơ nằm tại những khu vực biệt lập và kém phát triển như  các đảo Karimunjawa, Togian, Banda.

– Lặn biển: Indonesia là một điểm đến đầy tiềm năng cho loại hình du lịch lặn biển với hơn 17.000 hòn đảo, trên 3.000 loài cá khác nhau, 600 loài san hô, các luồng nước sâu, miệng núi lửa dưới đáy biển, xác tàu chiến từ thời chiến tranh thế giới thứ 2 và thế giới sinh vật đa dạng. Du lịch lặn biển ở đây được đánh giá là tuyệt hảo và không hề đắt đỏ.

– Lướt sóng: cũng là một loại hình du lịch phổ biến ở Indonesia và được xem là có đẳng cấp quốc tế. Hầu hết các điểm lướt sóng nổi tiếng nằm ở phía nam Indonesia, chẳng hạn như khu vực biển phía Ấn Độ Dương, ngoài ra có thể thưởng ngoạn ở  các khu vực dọc theo Sumatra, xuống Nusa Tenggara, trong đó có Aceh, Bali, Banten, Java, Lombok, đảo Mentawai, và Sumbawa. Phần lớn người lướt sóng đến từ Úc và Mỹ.

– Du lịch vườn quốc gia: Vườn quốc gia Bogor được thành lập năm 1817 và Vườn quốc gia Cibodas được thành lập năm 1862 là hai trong số những vườn quốc gia lâu đời nhất ở châu Á. Với sự đa dạng của các loài cây nhiệt đới, những vườn quốc gia này vừa là trung tâm nghiên cứu sinh vật cảnh, vừa là điểm du lịch thu hút khách. Có 50 vườn quốc gia ở Indonesia, trong đó 6 vườn quốc gia là Di sản thiên nhiên thế giới (bao vườn quốc gia Gunung Leuser, Kerinci Seblat Bukit Barisan Selatan ở Sumatra, vườn quốc gia Lorentz ở Papua, vườn quốc gia Komodo ở đảo Lesser Sunda, và vườn quốc gia Ujung Kulon ở Tây Java). Cần chú ý rằng, những vườn quốc gia khác nhau có đa dạng sinh học khác nhau bởi Indonesia là một đất nước rộng lớn, thế giới tự nhiên ở đây được chia thành hai khu vực: khu vực phía Tây gồm Sumantra, Java và Kalimantan có cùng đặc điểm động thực vật như lục địa châu Á; trong khi khu vực phía Đông có đặc điểm tương tự lục địa châu Úc.

– Du lịch núi lửa: du lịch leo núi và cắm trại là những loại hình du lịch mạo hiểm phổ biến ở Indonesia. Một số ngọn núi còn có mạch sông, phù hợp cho hoạt động thể thao chèo bè, mảng trên sông. Mặc dù các ngọn núi lửa có thể gây nguy hiểm nhưng chúng đã trở thành những điểm đến nổi tiếng. Những ngọn núi lửa còn hoạt động nổi tiếng là ngọn Bromo cao 2.329m ở Đông Java, ngọn Tangkuban Perahu có hình chiếc thuyền nằm úp, ngọn Merapi gần Yogyakarta và ngọn Krakatau  huyền thoại. Ngọn Gede Pangrango ở Tây Java cũng là điểm leo núi được ưa thích, đặc biệt là đối với người dân trong nước.

* Về du lịch văn hóa, Indonesia có 300 nhóm dân tộc, tạo nên một sự đa dạng về văn hóa, cộng thêm ảnh hưởng của đạo Hindu, đạo Phật, đạo Hồi và văn hóa thời thực dân châu Âu. Mặc dù chịu ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài, nhưng văn hóa bản địa Indonesia vẫn duy trì được những nét độc đáo riêng có. Ví dụ ở  Yogyakarta, du lịch văn hóa là một phần rất quan trọng, đây là một tỉnh được coi là trung tâm văn hóa và mỹ thuật truyền thống Java. Sự thăng trầm của các vương quốc Hindu, Phật giáo và Hồi giáo ở Trung Java đã biến Yogyakarta thành một nơi hòa trộn các nền văn hóa Indonesia. Hầu hết các thành phố lớn ở Indonesia đều có các bảo tàng nhà nước, mặc dù quy mô trưng bày còn hạn chế. Bảo tàng lớn nhất giới thiệu lịch sử và văn hóa Indonesia từ thời kỳ tiền sử cho tới thời kỳ thuộc địa là Bảo tàng Quốc gia Indonesia nằm ở thủ đô Jakarta.

– Du lịch đền thờ cổ: Từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 15, đạo Hindu và đạo Phật định hình văn hóa Indonesia. Thời kỳ này các vương quốc nổi lên và suy tàn như Medang, Srivijaya, Kediri, Singhasari và Majapahit, đã để lại nhiều đền thờ và di tích gọi là candi. Đền thờ Phật giáo được bảo tồn tốt nhất là Đền Borobudur ở Trung Java, được xây dựng vào triều đại Sailendra thế kỷ thứ 8. Cách đó vài km về phía đông nam là đền Prambanan, ngôi đền Hindu lớn nhất Indonesia, được xây dựng vào triều đại Mataram đệ nhị. Ngôi đền thờ Shiva, Vishnu và Brahma – ba vị thần tối cao trong đạo Hindu. Cả đền Borobudur và Prambanan đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1991. Ngoài ra ở quanh Yogyakarta, có thể tìm thấy rất nhiều đền thờ cổ, tuy không lớn và nổi tiếng như hai ngôi đền trên, nhưng cũng thể hiện được đặc trưng văn hóa cổ Indonesia và kiến trúc đền đài cổ Java.

– Du lịch di sản Hồi giáo: Hồi giáo có đóng góp rất lớn trong hình thành xã hội văn hóa ở Indonesia. 88% người dân Indonesia là theo đạo Hồi. Văn hóa đạo Hồi rất phổ biến ở Sumantra. Du lịch di sản Hồi giáo rất phổ biến ở Indonesia, đặc biệt là đối với người theo đạo Hồi ở Indonesia và những nước láng giềng như Malaysia, Singapore và Brunei vốn có cùng nền văn hóa Hồi giáo Đông Nam Á. Đối với du khách khi đến tham quan các di tích Hồi giáo, dù là người dân địa phương hay người nước ngoài, theo đạo Hồi hay không, thì cũng phải tuân thủ các quy định về trang phục và hành xử. Hầu hết các thành phố lớn ở Indonesia đều có các đền thờ Hồi giáo, vừa là biểu tượng của thành phố, vừa là điểm quan quan cho khách du lịch.

– Du lịch di sản thuộc địa: Loại hình du lịch này chủ yếu tập trung vào khám phá lịch sử Indonesia, chẳng hạn như kiến trúc thuộc địa thời kỳ Đông Ấn Hà Lan vốn thu hút đối tượng khách du lịch đến từ Hà Lan cung như là những người yêu thích lịch sử thuộc địa Indonesia ở trong và ngoài nước. Du lịch thuộc địa bao gồm cả các hoạt động khác như thăm bảo tàng, nhà thờ, pháo đài, và các tòa nhà thuộc địa, hay ngủ lại các khách sạn thuộc địa. Các điểm du lịch thuộc địa nổi tiếng là Kota – trung tâm của Jakarta cổ với bảo tàng hàng hải, cầu nâng Kota Intan, bảo tàng Wayang, bảo tàng mỹ thuật gốm sứ, bảo tàng Ngân hàng Indonesia, khu Chinatown ở Indonesia…

– Du lịch đô thị: bao gồm các hoạt động như mua sắm, tham quan ngắm cảnh tại các thành phố lớn, tận hưởng các hoạt động vui chơi giải trí ở các công viên chủ đề, khu nghỉ dưỡng, spa, hoạt động về đêm… Ở mức độ nào đó, du lịch đô thị cũng bao gồm cả du lịch di sản và văn hóa đô thị, chẳng hạn như thăm thú các bảo tàng ở thành phố hoặc các thị trấn thuộc địa.  Khu Ancol Dreamland với công viên chủ đề Dunia Fantasi và công viên nước Atlantis nằm ở thủ đô Jakarta được xây dựng theo phong cách Disneyland. Một số công viên tương tự cũng được xây dựng tại các thành phố khác. Thủ đô Jakarta cũng là nơi có rất nhiều trung tâm mua sắm phục vụ du khách. Khu Mal Kelapa Gading là trung tâm mua sắm lớn nhất với diện tích 130 km2. Bên cạnh những trung tâm mua sắm cao cấp với các sản phẩm hàng hiệu, Indonesia cũng là điểm đến nổi tiếng với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du khách mua hàng lưu niệm. Các sản phẩm lụa và thời trang của Indonesia được biết đến với chất lượng tốt và giá cả hợp lý. Bandung là trung tâm mua sắm hàng thời trang nổi tiếng đối với du khách Malaysia và Singapore. Một hoạt động du lịch khác là chơi golf – một môn thể thao được ưa chuộng trong giới thượng lưu Indonesia và người nước ngoài.

– Du lịch ẩm thực: Indonesia có nền ẩm thực truyền thống độc đáo và đặc sắc vào hàng bậc nhất trên thế giới, ví dụ món rendang gần đây được bầu chọn là món ngon nhất trong danh sách “50 món ăn ngon nhất thế giới” do hãng tin CNN công bố. Ẩm thực Indonesia phong phú và rất khác nhau tùy theo các vùng. Du lịch ẩm thực Indonesia là một hoạt động rất thú vị khi được thưởng thức sự đa dạng trong văn hóa bản địa. Một số món như nasi goreng, sate và soto có thể tìm thấy ở mọi nơi trên đất nước Indonesia và được coi là những món ăn đại diện cho đất nước. Du khách có thể thưởng thức ẩm thực Indonesia ở nhiều nơi khác nhau, từ các xe bán hàng nhỏ trên phố cho tới các nhà hàng sang trọng. Hầu hết các trung tâm mua sắm ở các thành phố lớn đều dành riêng một tầng phục vụ du khách ăn uống với rất nhiều món ăn truyền thống Indonesia.

Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch ở Indonesia

Tổng quan về nhà hàng và kinh doanh nhà hàng

Tổng quan về nhà hàng và kinh doanh nhà hàng

Khái niệm nhà hàng

Cùng với sự phát triển của kinh tế và đời sống của con người ngày càng cao thì hoạt động du lịch trong đó có hoạt động kinh doanh nhà hàng cũng không ngừng phát triển, các khái niệm về nhà hàng cũng ngày càng được hoàn thiện hơn. Vậy có thể hiểu khái niệm nhà hàng như sau:

“Nhà hàng là loại hình kinh doanh các sản phẩm ăn uống nhằm thu hút lợi nhuận, phục vụ nhiều đối tượng khách khác nhau và phục vụ theo nhu cầu của khách với nhiều loại hình khác nhau”.(Nguồn: Giáo trình Quản lý kinh doanh nhà hàng – Trường ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội)

Đặc điểm kinh doanh của nhà hàng.

– Sản phẩm kinh doanh của nhà hàng gồm 2 loại:

+ Sản phẩm tự chế là do nhà hàng tự chế biến

+ Hàng hóa chuyển bán là hàng hóa mua sẵn về để bán cho khách như rượu bia, nước khoáng, bánh kẹo…

– Nhà hàng phục vụ khách thường từ 6 giờ đến 24 giờ có loại nhà hàng phục vụ 24/24 giờ.

– Ở nhà hàng lao động thủ công là chủ yếu, nhưng có tay nghề cao đặc biệt là khâu chế biến.

– Doanh thu của nhà hàng phụ thuộc vào nhu cầu ăn uống của từng khách hàng, của từng bữa ăn, nên doanh thu thường thấp hơn so với loại hình kinh doanh khác.

Các loại hình tổ chức kinh doanh của nhà hàng.

Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển kinh doanh ăn uống và các loại hình kinh doanh ăn uống hình thành và phát triển. Phân loại các loại hình kinh doanh ăn uống theo các tiêu thức sau:

– Căn cứ vào nhu cầu ăn uống đa dạng, tổ chức kinh doanh ăn uống bao gồm các loại hình sau:

+ Công ty nhà hàng chuyên kinh doanh ăn uống, đây là loại hình khá phổ biến ở Việt Nam, phục vụ nhân dân ở địa phương

+ Các nhà hàng ăn uống nằm trong khách sạn phục vụ chủ yếu là khách du lịch, khách dự các hội nghị, khách vãng lai nghỉ ở khách sạn, phục vụ các tiệc cưới, liên hoan.

+ Nhà hàng ăn uống trong các siêu thị hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường.

+ Nhà hàng ăn uống trong các xí nghiệp công nghiệp, trường học, cơ quan hành chính, loại hình này chủ yếu phục vụ là công nhân và viên chức nhà nước. Kinh doanh loại hình này không lấy lãi chi phí và có sự hỗ trợ của xí nghiệp và cơ quan.

+ Các nhà hàng phục vụ ăn uống hành khách trên các phương tiện giao thông như đường sắt, tàu thủy và máy bay.

– Căn cứ vào mức độ chuyên môn hóa kinh doanh, các loại hình kinh doanh ăn uống phân ra hai loại

+ Hình thức tổ chức kinh doanh tổng hợp, loại hình kinh doanh này kinh doanh các nhóm hàng, nhiều loại hàng, nhiều bữa ăn. Loại hình này phục vụ nhiều đối tượng khách.

+ Hình thức tổ chức chuyên doanh, loại hình này chuyên doanh một số loại hàng hoặc chuyên doanh các bữa ăn.

– Căn cứ vào đối tượng khách, cơ cấu và chất lượng các sản phẩm và mức độ trang bị nhà hàng, nhà hàng ăn uống phân ra hai loại.

+ Nhà hàng đặc sản, kinh doanh các món ăn cao cấp có nhiều chất dinh dưỡng và các món ăn đặc sản ở địa phương. Nhà hàng này được trang bị đầy đủ, các trang thiết bị phục vụ, đối tượng phục vụ là các khách sang và có thu nhập cao.
+ Nhà hàng ăn uống bình dân kinh doanh những món ăn thức uống thông thường hàng ngày, phục vụ các bữa ăn trong ngày, đối tượng phục vụ chủ yếu khách có thu nhập trung bình và thấp.

Những nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh của nhà hàng

Phát triển kinh doanh nhà hàng phụ thuộc vào các nhân tố sau:

– Phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội

+ Cơ cấu nền kinh tế biến đổi, đặc biệt sự phát triển ngành công nghiệp thực phẩm là chủ yếu kích thích nhu cầu ăn uống và thay đổi cơ cấu bữa ăn phương thức tổ chức ăn uống.

+ Phân công lao động xã hội theo chiều hướng ngày càng sâu hơn, chi tiết hơn hướng vào chuyên môn hóa trong sản xuất và dịch vụ xã hội nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm dịch vụ ngày càng tốt hơn để đáp ứng nhu cầu xã hội.

– Sự phát triển ngành du lịch, ngành du lịch laị phụ thuộc vào các điều kiện:

+ Các tài nguyên du lịch

+ Nhu cầu du lịch

+ Cơ sở hạ tầng xã hội.

– Sự phát triển nhu cầu ăn uống của xã hội, nhu cầu sẽ tăng lên do những yếu tố sau:

+ Trình độ dân trí của nhân dân ảnh hưởng trực tiếp đến mức ăn, cơ cấu bữa ăn, phong cách bữa ăn.

+ Sản xuất phát triển, nhu cầu thu nhập dân cư tăng, nhu cầu ăn uống tăng.

+ Phong tục tập quán của dân cư, tâm sinh lý, điều kiện tự nhiên và môi trường là những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu và thay đổi tập quán.

Vai trò cuả nhà hàng đối với phát triển kinh tế – xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng.

Phát triển nhà hàng giữ vị trí củng cố và phát triển giao lưu tình đoàn kết dân tộc.

– Đáp ứng nhu cầu ăn uống xã hội ngày càng tăng

Kinh doanh nhà hàng giữ vị trí quan trọng thỏa mãn nhu cầu ăn uống của xã hội tăng lên. Dẫn đến sản xuất xã hội tăng thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi cách sống của con người, tổ chức bữa ăn cho gia đình dần dần nhường chỗ cho tổ chức ăn uống cho xã hội đảm nhận, có nghĩa là kinh doanh nhà hàng hình thành và phát triển.

– Phát triền nhà hàng kinh doanh ăn uống chính là nơi hội tụ dòng tộc và giao lưu các cộng đồng dân cư nhằm tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc.

– Nhà hàng có vị trí quan trọng để phát triển ngành du lịch.

+ Nhà hàng là một bộ phận cấu thành của khách sạn, không có nhà hàng thì hoạt động của khách sạn cũng bị tê liệt.

+ Một trong những nhu cầu quan trọng của khách du lịch thực hiện các chuyến đi là thưởng thức các món ăn đặc sản dân tộc nơi đến. Nhà hàng sẽ thỏa mãn nhu cầu này.

+ Phát triển nhà hàng góp phần khai thác mọi tiềm năng của địa phương vào kinh doanh, đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở địa phương.

+ Thúc đẩy sản xuất ở địa phương phát triển, đặc biệt sản xuất nông nghiệp.

+ Tạo cơ hội cho người lao động ở địa phương có việc làm và tăng thu nhập dân cư ở địa phương.

– Phát triển nhà hàng góp phần giữ gìn, khôi phục và phát triển bản sắc văn hóa xã hội.

+ Như chúng ta đều biết ăn uống là văn hóa ẩm thực

+ Ăn uống thể hiện phong tục tập quán dân tộc

+ Xu hướng chung, kinh doanh ăn uống không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà nảy sinh từ nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật.

Tổng quan về nhà hàng và kinh doanh nhà hàng

Chương trình du lịch và các đặc trưng của chương trình du lịch

Chương trình du lịch và các đặc trưng của chương trình du lịch

Khái niệm về chương trình du lịch

Theo Luật Du lịch Việt Nam có hiệu lực từ 01-01-2006, tại mục 13 Điều 4 giải thích từ ngữ:

“Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi”

Theo nhóm tác giả Bộ môn Du lịch, Đại học Kinh tế Quốc dân trong giáo trình “Quản trị kinh doanh lữ hành” thì định nghĩa chương trình du lịch được định nghĩa như sau:

“ Chương trình du lịch trọn gói là những nguyên mẫu để căn cứ vào đó, người ta tổ chức các chuyến du lịch đã được xác định trước. Nội dung của chương trình du lịch thể lịch trình thực hiện chi tiết các hoạt động từ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí tới tham quan… Mức giá của chuyến bao gồm giá của hầu hết các dịch vụ và hàng hóa phát sinh trong quá trình thực hiện du lịch”.

(Nguồn: TS.Nguyễn Văn Mạnh, TS Phạm Hồng Chương – Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành – NXB Đại học Kinh tế quốc dân,Hà Nội, 2006; trang168,169,170)

Đặc điểm của sản phẩm là chương trình du lịch

Chương trình du lịch như là một dịch vụ mang tính tổng hợp, trọn vẹn được tạo nên từ các dịch vụ riêng lẻ của các nhà cung cấp khác nhau. Do vậy, chương trình du lịch có những đặc điểm vốn có của sản phẩm là dịch vụ. Các đặc điểm đó là:

– Tính vô hình của chương trình du lịch biểu hiện ở chỗ nó không phải là thức có thể cân đong đo đếm, sờ nếm thử để kiểm tra, lựa chọn trước khi mua giống như người ta bước vào một cửa hàng, mà người ta phải đi du lịch theo chuyến, phải tiêu dùng nó thì mới có được sự cảm nhận về nó. Kết quả của chương trình du lịch là sự trải nghiệm về nó, chứ không phải là sở hữu nó.

– Tính không đồng nhất của chương trình du lịch biểu hiện ở chỗ nó không giống nhau, không lặp lại về chất lượng ở những chuyến đi khác nhau. Vì nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố mà bản thân các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành không kiểm soát được.

– Tính phụ thuộc vào uy tín của các nhà cung cấp. Các dịch vụ có trong chương trình du lịch gắn liền với các nhà cung cấp. Cũng dịch vụ đó nếu không phải đúng các nhà cung cấp có uy tín tạo ra thì sẽ không có sức hấp dẫn đối với khách. Mặt khác, chất lượng của chương trình du lịch không có sự bảo hành về thời gian, không thể hoặc trả lại dịch vụ vì tính vô hình của chúng.

– Tính dễ bị sao chép và bắt chước là do kinh doanh chương trình du lịch không đòi hỏi kỹ thuật tinh vi, khoa học tiên tiến hiện đại, dung lượng vốn ban đầu thấp

– Tính thời vụ cao và luôn luôn bị biến động, bởi vì tiêu dùng và sản suất du lịch phụ thuộc nhiều và rất nhạy cảm với những thay đổi của các yếu tố trong môi trường vĩ mô.

– Tính khó bán của chương trình du lịch là kết quả của các đặc tính nói trên. Tính khó bán do cảm nhận rủi ro của khách khi mua chương trình du lịch như rủi ro về sản phẩm, thân thể, tài chính, tâm lý, thời gian…

(Nguồn: TS.Nguyễn Văn Mạnh, TS Phạm Hồng Chương – Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành – NXB Đại học Kinh tế quốc dân,Hà Nội, 2006; trang172,173)

Chương trình du lịch và các đặc trưng của chương trình du lịch

Đặc điểm của kinh doanh khách sạn

Đặc điểm của kinh doanh khách sạn

–  Đặc điểm về sản phẩm: Sản phẩm của kinh doanh khách sạn chủ yếu là các dịch vụ, tồn tại dưới dạng vô hình. Quá trình sản xuất ra sản phẩm và quá trình bán sản phẩm diễn ra đồng thời, trong quá trình đó, người tiêu dùng tự tìm đến sản phẩm. Do khoảng cách giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng là rất “ngắn” nên yếu tố tâm lý con người có vai trò rất lớn trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm.

Thực tế, quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của khách sạn được diễn ra gần như đồng thời nên các sản phẩm đó phải được hoàn thiện ở mức độ cao nhất, không có phế phẩm và cũng không có sản phẩm lưu kho, khả năng tiếp nhận của khách sạn quyết định đến doanh thu và hiệu quả kinh doanh của đơn vị.

Một đặc điểm nữa, đặc trưng cho sản phẩm của khách sạn là tính cao cấp. Khách của khách sạn chủ yếu là khách du lịch. Họ là những người có khả năng thanh toán và khả năng chi trả cao hơn mức tiêu dùng bình thường. Vì thế, yêu cầu đòi hỏi về chất lượng sản phẩm mà họ bỏ tiền ra mua trong suốt thời gian đi du lịch là rất cao. Để đáp ứng tốt khách hàng, các khách sạn chắc chắn phải tổ chức cung ứng các sản phẩm có chất lượng cao. Hay nói cách khác, khách sạn muốn tồn tại và phát triển thì phải dựa trên cở sở cung ứng những sản phẩm có chất lượng cao mà thôi.

Đặc điểm về đối tượng phục vụ: Đối tượng phục vụ của khách sạn là rất đa dạng và phong phú, thuộc nhiều tầng lớp địa vị xã hội, quốc tịch, tuổi tác và giới tính khác nhau… Vì thế, người quản lý khách sạn phải nắm bắt được đặc điểm tâm lý, nhu cầu của từng đối tượng, đảm bảo cho việc phục vụ được tốt hơn.

Xuất phát từ đặc điểm này, vấn đề đặt ra cho mỗi khách sạn là không thể đáp ứng tốt nhu cầu của  tất cả các đối tượng khách hàng  mà phải lựa chọn cho mình một đối tượng phục vụ phổ biến nhất, có khả năng mang lại lợi nhuận cao – Đó chính là quá trình xác định khách hàng mục tiêu

Đặc điểm về việc sử dụng các yếu tố nguồn lực trong kinh doanh khách sạn: Hoạt động kinh kinh doanh khách sạn chỉ thành công khi biết khai thác một cách hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch là yếu tố thúc đẩy con người đi du lịch, đây là yếu tố quyết định nguồn khách của khách sạn. Ngoài ra, khả năng tiếp nhận tài nguyên du lịch ở mỗi điểm du lịch sẽ quyết định quy mô và thứ hạng của khách sạn. Rõ ràng, trong kinh doanh khách sạn, tài nguyên du lịch đóng một vài trò then chốt, xác lập số lượng và đối tượng khách đến khách sạn đồng thời nó cũng quyết định đến quy mô, thứ hạng và hiệu quả kinh doanh của khách sạn.

Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu tương đối cao. Đặc điểm này xuất phát từ tính chất cao cấp của các sản phẩm khách sạn, đòi hỏi các yếu tố thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn cũng phải cao cấp tương ứng. Sự sang trọng của các trang thiết bị lắp đặt bên trong khách sạn chính là một trong những nguyên nhân chính đẩy chi phí đầu tư khách sạn lên cao.

Việc sử dụng nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn có ý nghĩa rất quan trọng và cũng là một yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh. Chất lượng sản phẩm của khách sạn được đo bằng cảm nhận của khách hàng, do vậy, các hiểu biết về văn hoá ứng xử, tâm lý hành vi… phải được đặc biệt chú trọng trong quá trình tuyển dụng nhân viên cho khách sạn.

Ngoài ra, do các khâu trong quá trình cung ứng các sản phẩm của khách sạn đều phải được thực hiện bằng chính bàn tay của con người, khó có thể thực hiện cơ khí hoá, nên lực lượng lao động trực tiếp trong kinh doanh khách sạn thường là rất lớn. Đây là một đặc điểm nổi bật về nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn.

Tính quy luật trong kinh doanh khách sạn: Kinh doanh khách sạn chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế- xã hội, quy luật về tâm lý của con người.

Tác động của các quy luật, đặc biệt là các quy luật tự nhiên như thời tiết, khí hậu… của một khu vực có tác động đáng kể đến khả năng khai thác các tài nguyên du lịch trong vùng và hình thành nên tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch. Tác động của các quy luật kinh tế xã hội, văn hoá, thói quen từ những địa phương khác nhau hình thành nên tính đa dạng và khác biệt về nhu cầu của những đối tượng khách hàng – đây là cơ sở để các khách sạn đa dạng hoá sản phẩm và đối tượng phục vụ của mình [16].

Việc nghiên cứu kỹ các quy luật và sự tác động của chúng đến kết quả kinh doanh sẽ giúp các khách sạn chủ động đề ra những giải pháp và phương án kinh doanh hiệu quả.

Đặc điểm của kinh doanh khách sạn