0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Khái niệm hộ sản xuất kinh doanh

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cho đến nay, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Cùng với sự phát triển của các nghành kinh tế, hơn hai mươi năm qua sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã có sự chuyển biến lớn. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của hộ sản xuất, coi hộ sản xuất kinh doanh như một nền tảng vững chắc cho sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá Đất nước.

Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần thấy rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên Thế giới. Chúng ta có thể xem xét một số quan niệm khác nhau về hộ sản xuất kinh doanh như sau:

­ Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ IV về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980, đưa ra khái niệm: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”

­ Trên góc độ Ngân hàng: “Hộ sản xuất kinh doanh ” là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ. Hiện nay, trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, hộ được xem như một chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung. Một số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuật ngữ “hộ sản xuất” là “hộ”, “hộ gia đình”.

Như vậy, hộ sản xuất kinh doanh là một tổ chức kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh, tự tổ chức sản xuất kinh doanh theo định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, của địa phương và theo quy định của pháp luật. Hộ sản xuất kinh doanh không chỉ độc lập tự chủ về kinh doanh mà còn tự chủ trong quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Do đó họ luôn luôn tích cực khai thác tiềm năng trí tuệ và năng lực sản xuất của mình để tổ chức hoạt động kinh tế một cách phong phú và đa dạng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, từng bước nâng cao đời sống, mở rộng sản xuất, tăng tích lũy chính cho bản thân mình và xã hội

“Chiến lược nào” cho con cá tra, cá basa ?

“Chiến lược nào” cho con cá tra, cá basa ?

Mỹ là một trong những thị trường nhập khẩu cá tra, cá basa lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, những “triệu chứng khó ở” của thị trường này đã không ít lần khiến cho các công ty chế biến, xuất khẩu mặt hàng này gặp không ít lao đao, trong đó có công ty cổ phần thủy sản Bình An.

Tháng 5/2002, Tổng thống Mỹ đã ký ban hành đạo luật An ninh trang trại và Đầu tư nông thôn, gọi tắt là đạo luật H.R. 2646, trong đó có điều khoản 10806 quy định chỉ có giống cá da trơn có tên khoa học là Ictaluridae nuôi trồng ở Mỹ mới được dùng chữ catfish để ghi nhãn mác, còn các loại cá da trơn khác không được ghi chữ catfish trên nhãn mác, bao bì tạo điều kiện để ngư dân Mỹ cản trở cá của Việt Nam vào thị trường nước này. Chính điều này đã khiến các công ty xuất khẩu cá da trơn Việt Nam sẽ phải chịu thiệt hại đáng kể do phải thay đổi thương hiệu và bao bì, tổ chức lại các hoạt động chiêu thị, … Sau đó, các công ty xuất khẩu Việt Nam phải sử dụng tên cá tra, cá ba sa cho sản phẩm của mình. Để có thể tạo dựng được một thương hiệu cá tra, cá basa như hôm nay, các công ty xuất khẩu Việt Nam đã phải mất rất nhiều công sức và tiền bạc để giải thích cho người tiêu dùng hiểu cá tra, cá ba sa Việt Nam có chất lượng và giá cả hoàn toàn vượt trội. Tuy nhiên, thật bất ngờ khi đến tháng 6/2009, Bộ Nông nghiệp Mỹ đang soạn thảo lần cuối các quy định mới theo đó cá tra và ba sa của Việt Nam sẽ có thể được góp chung vào danh mục cá da trơn, hay còn gọi là catfish. Nếu quyết định này được áp dụng vào tháng 12/2009 như dự kiến thì cá tra và cá ba sa của chúng ta nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ phải chịu những kiểm tra đặc biệt áp dụng cho cá da trơn và phải chịu nhập khẩu vào Mỹ theo một kênh riêng dành cho cá catfish. Dĩ nhiên tiêu chuẩn kiểm tra sẽ ngặt ngèo hơn. Vấn đề này sẽ gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu trong nước. Rõ ràng số phận của loại thủy sản của Việt Nam có ưu thế trên thị trường Mỹ thật long đong, xuất phát từ sự cạnh tranh không lành mạnh và trong sâu xa là chính sách bảo hộ của Hoa Kỳ.

Ngày 28.6.2002, một số các công ty chế biến cá da trơn tại Mỹ đệ đơn yêu cầu mở điều tra AD về một số mặt hàng phi-lê cá đông lạnh từ Việt Nam, với lý do là các mặt hàng này, vì được nhập vào Mỹ dưới giá hợp lý, là mối đe doạ cho ngành sản xuất nội địa Mỹ và qua sự cạnh tranh bất chính này đã chiếm 20% thị trường của Mỹ, một thị trường trị giá 590 triệu đô la. Ngày 27.1.2003, DOC (Bộ thương mại Mỹ) đưa ra phán quyết sơ bộ là các công ty Việt Nam bán phá giá cá tra tại Mỹ, và ấn định các biên độ dumping từ 37.94% đến 61,88 % cho các công ty này, tùy theo công ty, và một mức chung 63,88% cho toàn Việt Nam. Ngày 24.7.2003, ITC đưa ra phán quyết cuối cùng, khẳng định các công ty Việt Nam đã bán với giá thấp hơn giá thành và gây tổn hại cho ngành sản xuất của Mỹ, và ấn định mức thuế suất bán phá giá từ 36,84 đến 63,88%. Ngày 15/6/2009, Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC) quyết định về việc tiếp tục áp thuế chống bán phá giá đối với cá tra, basa của Việt Nam thêm 5 năm nữa.

Qua các số liệu phân tích trên đây, có thể thấy rằng vấn đề xuất khẩu trong xu thế tự do thương mại không chóng thì chầy cũng sẽ vấp phải những chuyện đại loại như rào cản kỹ thuật hay thuế bán phá giá hàng xuất khẩu. Bởi một khi các nước đã chấp nhận cuộc chơi toàn cầu hóa thì việc họ sử dụng các thủ thuật bảo hộ cho các công ty trong nước trước tình trạng tự do thương mại là điều dễ hiểu. Đặc biệt là các mặt hàng thủy sản của các nước đang phát triển, cụ thể là con cá tra, cá basa của Việt Nam.

Các thủ thuật thương mại của Mỹ lợi hại nhưng không phải là không có cách thắng được nó, nếu không thì còn ai dám làm ăn với Mỹ. Bằng chứng là công ty Bình An đã rất thành công khi làm ăn với Mỹ. Chiến lược của Chủ tịch Hôi động quản trị (bà Nguyễn Thị Diệu Hiền) và các nhà quản trị cấp cao của công ty là gì:

Phải tham gia và kiên trì tới cùng: Những công ty nào không tham gia thủ tục là mất cơ hội đưa ra các chứng cứ, dữ liệu thuận lợi cho mình, và sẽ phải chịu biên độ dumping và mức thuế do DOC ấn định theo các con số do nguyên đơn đề nghị, tức là cao nhất, áp dụng chung cho một danh sách “hổ lốn” gọi là “all others“.

Liên kết với các công ty nhập khẩu của Mỹ: Các công ty nhập khẩu Mỹ là đồng minh tất yếu của các công ty xuất khẩu ngoại quốc vì cùng chung một quyền lợi: người này muốn bán thì người kia muốn mua. Do đó liên kết với nhau để thoát khỏi thuế dumping là đương nhiên. Vả lại những thuyết trình của các công ty nhập khẩu đã thuyết phục ITC quyết định là không có tổn hại. Mặt khác, các công ty nhập khẩu cũng có thể tranh thủ sự ủng hộ của các công ty tiêu thụ (end users), Nói tóm lại, bộ máy AD của Mỹ cũng vẫn để cho các công ty ngoại quốc vài khả năng thắng kiện, hay ít ra cứu vãn được phần nào tình thế. Tham gia vào thủ tục thì còn có cơ may thành công, chứ không tham gia là cầm chắc cái thất bại.

Đấu tranh phải trên cơ sở khoa học chứ không phải cãi lý với “anh chàng nhà giàu Mỹ “: Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm từ con giống đến sản phẩm cuối cùng, các quy trình sản xuất kinh doanh phải đăng ký tiêu chuẩn, đăng ký từ hộ nuôi để cấp mã vạch, để truy xuất nguồn nuôi khi có vấn đề về sản phẩm.

Thành lập hiệp hội: Chẳng hạn, hiệp hội chung cho cả chuỗi sản xuất – tiêu thụ cá tra, cá basa, không phân biệt nhóm người nuôi – chế biến – xuất khẩu và dịch vụ nhằm đảm bảo chất lượng toàn diện cho con cá tra, cá basa khi xuất khẩu.

Sau hơn 5 năm theo đuổi chiến lược này, Bình An đã gặt hái được khá nhiều thành tựu: Bình An hiện là công ty xuất khẩu thủy sản (cá tra, basa) lớn nhất cả nước. Không những vậy, năm 2009 Bình An nhận huy chương Bảng vàng danh dự thị trường Berveley Hill, California, Mỹ trao tặng, cũng trong năm này Bình An thành lập 1 chi nhánh công ty tại bang California. Gần đây, Bình An đã liên kết trong một dự án kinh doanh với tập đoàn quốc tế CarlGill chuyên kinh doanh về thực phẩm. Những thành tựu của Bình An sẽ thuyết phục bạn hơn nếu bạn một lần được đến công ty Bình An để tận mắt chứng kiến cuộc sống vật chất, tinh thần dồi dào của công nhân công ty: Bạn đã từng được ngâm chân trong hồ để các chú cá massage chân cho chưa ?

“Chiến lược nào” cho con cá tra, cá basa ?

Thực trạng hệ thống lưu thông, phân phối thuốc của Việt Nam

Thực trạng hệ thống lưu thông, phân phối thuốc của Việt Nam

Hệ thống cung ứng và phân phối thuốc của Việt Nam đã có những đóng góp rất lớn thực hiện thành công 2 mục tiêu cơ bản của Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam:

– Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng cho công tác phòng và chữa bệnh cho nhân dân. Với tính xã hội hóa cao, với sự tham gia của các thành phần kinh tế, mạng lưới phân phối thuốc phát triển mạnh mẽ trên toàn quốc, đảm bảo đủ thuốc cho nhu cầu điều trị, người dân có thể dễ dàng tiếp cận cơ sở bán lẻ thuốc.

– Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, có hiệu quả: Bộ Y tế  tích cực và cương quyết triển khai Chính sách quản lý chất lượng toàn diện, đảm bảo chất lượng thuốc từ sản xuất đến tận tay người tiêu dùng, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý an toàn.

Hệ thống sản xuất, kiểm tra chất lượng, tồn trữ bảo quản, lưu thông phân phối thuốc không ngừng được tiêu chuẩn hoá theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tiêu chuẩn quốc tế. Việc triển khai áp dụng GDP, GPP từ tháng 01/2007 bước đầu đạt những kết quả, đặc biệt trong việc thay đổi nhận thức của các đối tượng là nhà quản lý, người hành nghề và người bệnh.

Qua thực trạng cho thấy, thuốc sản xuất tại Việt Nam có chất lượng đạt tiêu chuẩn của WHO về tương đương sinh học và hiệu quả điều trị tốt, nhiều nhóm thuốc và vắc xin của Việt Nam được các nước trong khu vực và thế giới đánh giá đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và đáp ứng … phần trăm nhu cầu sử dụng thuốc trong nước.

Tuy nhiên, sau hơn 20 năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, ngành Dược đang có những bước tiến nhất định nhưng ngành Dược Việt Nam vẫn còn được đánh giá là khá non trẻ về “tuổi đời” lẫn kinh nghiệm so với một số nước phát triển trên thế giới, hiện nay cả nước mới có 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc, trong đó có 98 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược, 80 doanh nghiệp sản xuất thuốc đông dược, ngoài ra có trên 300 cơ sở sản xuất thuốc đông dược.

Thuốc sản xuất tại Việt Nam đã đa dạng về chủng loại và số lượng như các nhóm: thuốc dung dịch tiêm truyền, thuốc tiêm, thuốc kháng sinh, các nhóm vitamin và các thuốc khác, đăc biệt cả nước có 8 cơ sở sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế và đã sản xuất được cả 3 loại theo phân loại vắc xin của Tổ chức Y tế Thế giới, trong đó có 4 cơ sở có dây truyền đạt tiêu chuẩn GMP. Năng lực sản xuất thuốc trong nước hiện nay đáp ứng khoảng 50% nhu cầu phục vụ công tác chữa bệnh. Thuốc sản xuất tại Việt Nam hiện nay cũng đang xuất khẩu sang một số thị trường như Bangladesh, Pakistan, Lào, Campuchia, Singapore… nhưng trên thực tế hiện nay tại các cơ sở điều trị công lập và tư nhân cũng như trên thị trường thuốc sản xuất tại Việt Nam, tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam còn rất thấp. Tỷ lệ sử dụng tiền thuốc sản xuất tại Việt Nam tại các bệnh viện tuyến Trung ương chỉ đạt 11,9% , tuyến tỉnh 33,9%, tuyến huyện 61,5% trong tổng số tiền thuốc điều trị.

Mặt khác, người dân nói chung và không ít thầy thuốc nói riêng vẫn còn có quen dùng thuốc ngoại đắt tiền để chữa bệnh trong khi hiệu quả so với thuốc sản xuất tại Việt Nam là tương đương. Chính những thói quen này gây tốn kém, lãng phí kinh phí cho chữa bệnh rất lớn, vì thuốc nhập ngoại thường có giá thành đắt hơn nhiều trong khi đó thuốc sản xuất tại Việt Nam thì được sử dụng rất thấp.

Bên cạnh đó, hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành trong lĩnh vực dược cũng còn khá nhiều những bất cập, cần được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp như những vấn đề liên quan đến quản lý giá thuốc, quy định về đấu thầu thuốc trong các cơ sở y tế, đấu thầu quốc gia trong lĩnh vực dược, quy định về tương đương điều trị, tương đương sinh học, nhượng quyền, chuyển giao thương hiệu, thương quyền trong lĩnh vực dược, quyền xuất nhập khẩu, phân phối của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, điều kiện hoạt động kinh doanh thuốc, quản lý dược liệu và thuốc từ dược liệu, chợ dược liệu, trung tâm phân phối dược phẩm/dược liệu, thử thuốc trên lâm sàng, thanh tra chuyên ngành dược…, chính sách sử dụng thuốc y học cổ truyền, chính sách ưu đãi cho sản xuất tại Việt Nam, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, sự vào cuộc của các cơ quan thông tin đại chúng chưa thực sự mạnh mẽ, góp phần tác động thúc đẩy làm thay đổi chính sách, pháp luật, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cũng còn nhiều bất cập, lực lượng mỏng, hệ thống văn bản về XPVPHC còn hạn chế nhất định, đặc biệt còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu, khảo sát đánh giá tổng thể về hệ thống quản lý, phân phối, lưu thông thuốc trong nước…

Từ những bất cập, tồn tại nêu trên cho thấy, rất nhiều nội dung cần được chỉnh sửa, quy định trong hệ thống pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về y tế nói chung và trong lĩnh vực dược nói riêng vừa để góp phần tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cản trở, níu kéo sự phát triển của ngành dược, vừa tạo nên công cụ quản lý hiệu quả, đồng bộ và thúc đẩy ngành dược phát triển mạnh mẽ.

Hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, với mục tiêu nhằm tiết kiệm chi phí trong khám, chữa bệnh góp phần đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển công nghiệp Dược Việt Nam tương đương với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần xây dựng phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta.

Đề án Vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” giai đoạn 2012 – 2020 là cuộc vận động rộng khắp, huy động tổng lực các ngành, các cấp và toàn thể mọi người dân Việt Nam tham gia, hưởng ứng và thay đổi nhận thức, có hành vi thói quen trong việc ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam trong chữa bệnh là biểu hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc.

 Thực trạng hệ thống lưu thông, phân phối thuốc của Việt Nam

Hiện trạng quản lý rác thải

Hiện trạng quản lý rác thải

Các quốc gia, cùng với xu hướng phát triển nhanh và khả năng tiêu thụ hàng hóa nhiều hơn, đang sản sinh ra một lượng rác thải lớn chưa từng có.

Trong khi đó, hầu hết các nước đều chưa chú trọng các giải pháp và công nghệ xử lý rác thải. Nước ta sau hơn 15 năm đổi mới, cùng với sự tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế, tốc độ tăng GDP 7 – 8%, khối lượng chất thải rắn tại các khu công nghiệp tăng lên không ngừng theo tốc độ đô thị hóa, phát triển công nghiệp, cũng như mức tăng dân số.

Tình trạng thu gom và xử lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp ở nước ta mặc dù đã được cải thiện đáng kể, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị hiện nay. Hầu hết rác thải không được phân loại nguồn thu mà thu lẫn lộn tỷ lệ thu gom chất thải rắn tính chung toàn quốc vào khoảng 70%. Thực trạng này cùng với sự thiếu ý thức của người dân đang gây ra những thảm họa sinh thái. Hà Nội, cùng với sự bùng nổ nhanh về kinh tế, đang phải đương đầu với những thách thức thực sự về môi trường. Hiện trung bình một cư dân Hà Nội thải ra khoảng 0.85kg rác mỗi ngày. Con số này dự tính sẽ lên tới 1.3kg khi thị trường tiêu thụ của thủ đô còn phát triển nhanh hơn nữa cho đến cuối thập niên này. Bãi rác chính Nam Sơn của Hà Nội mới được đưa vào sử dụng 7 năm nay nhưng đã phải mở rộng tới 43ha để có thể chứa được số lượng rác khổng lồ của thủ đô. Trong tổng số 900.000 tấn rác thải hàng năm của Hà Nội, chỉ có 50.000 tấn được tái chế. Còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi người dân thải ra trung bình tới 1kg rác mỗi ngày, 10% trong số này được quẳng xuống các kênh rạch trên địa bàn.

Qúa trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh, vượt trước dự báo, không theo quy hoạch và do quản lý không tốt nên môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề, lượng rác thải ngày một tăng. Tùy vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường… của từng địa phương để lựa chọn mô hình tổ chức quản lý cho phù hợp vừa đảm bảo phát triển kinh tế, vừa đảm bảo sức khỏe cộng đồng đồng thời giảm chi từ ngân sách của Nhà nước tăng nguồn đóng góp, hỗ trợ trong dân. Để có thể thực hiện tốt được xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường cần phải quản lý tốt các khâu thu gom rác, vận chuyển rác, xử lý rác.

– Ở các nước đang phát triển khi mà nền kinh tế còn nghèo, tùy vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường…. của từng địa phương mà việc thu gom rác được tiến hành bằng các phương tiện khác nhau như các xe xúc vật kéo, các xe có động cơ… phương pháp thu gom rác phổ biến hiện nay ở Việt Nam là thu gom rác bằng xe đẩy tay, đây là loại hình lao động chân tay rất vất vả, không hợp vệ sinh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của công nhân thu gom rác.

– Công đoạn thực hiện tiếp theo sau khi thu gom rác là vận chuyển. Rác sau khi được chôn lấp lên xe sẽ được chuyển từ địa điểm thu gom đến bãi chôn lấp hoặc qua các trạm trung chuyển. Công đoạn này đuợc thực hiện bằng các phương tiện cơ giới chủ yếu là ô tô có trọng tải lớn, các xe ép rác để vận chuyển một khối lượng rác cùng lúc làm giảm chi phí vận chuyển. Ngoài ra các xe tải nhỏ, xe tải nhẹ cũng được sử dụng để thu gom và vận chuyển rác từ các khu phố, ngõ hẹp, ngõ xóm để đưa rác ra các trạm trung chuyển. Ở trạm trung chuyển rác thải có thể được chôn lấp, xử lý, phân loại và tái sinh, các doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia hoạt động ngay tại đây trong các khâu như thu gom, phân loại rác, tái chế. Từ các trạm trung chuyển rác thải được chuyển từ thiết bị sức chứa nhỏ sang thiết bị có sức chứa lớn hơn và được vận chuyển đến các bãi rác.

– Tùy vào điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên, môi trường…. của từng quốc gia, địa phương và tùy vào thành phần rác thải mà có sự kết hợp các biện pháp xử lý sao cho thích hợp nhất đảm bảo tính vệ sinh cao, giảm bớt chi phí…

Hiện trạng quản lý rác thải

Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

– Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.

– Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư.

– Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).

– Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị – xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.

Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới