0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Thông Tin Chuyên Ngành

Khái niệm đầu tư

Khái niệm đầu tư

Đầu tư là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai. Tuy nhiên, trong phạm vi xem xét khác nhau, khái niệm về đầu tư cũng có những điểm khác nhau.

Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Theo khái niệm này, đã là đầu tư thì phải bỏ vốn, chính là các tài sản hữu hình và vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư được pháp luật cho phép, như vậy tất cả các nhà đầu tư đều được tham gia đầu tư vào tất các lĩnh vực trong nền kinh tế mà không vi phạm các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quan niệm này lại chưa phản ánh được mục tiêu của các nhà đầu tư là phải sinh lợi.
Cũng có quan điểm cho rằng đầu tư là “việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai”[16], với quan niệm này đã nhấn mạnh đến mục đích của đầu tư là thu được lợi ích trong tương lai nhưng lại chưa phản ánh chủ thể mong muốn thu được lợi ích trong tương lai. Xét trên góc độ kinh tế, đầu tư là hy sinh tiêu dùng hiện tại để hy vọng có được thu nhập cao hơn trong tương lai. Đối với từng chủ thể trong nền kinh tế, đó là tạo ra hoặc tăng thêm lợi ích, những giá trị riêng biệt cho các chủ thể. Đối với toàn bộ nền kinh tế, chính là tạo ra hoặc gia tăng giá trị tổng thể cho toàn xã hội. Đầu tư là phải ứng ra một lượng vốn nhất định và được sử dụng trong tương lai, do đó đầu tư luôn gắn với rủi ro.

Với phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả xin đưa ra quan điểm về đầu như như sau: đầu tư là quá trình ứng ra một lượng vốn nhất định (bằng tiền mặt, tài sản) ở hiện tại với mục đích là làm tăng thêm giá trị trong tương lai cho chủ thể bỏ vốn.

Khái niệm đầu tư

Khái niệm hộ gia đình

Khái niệm hộ gia đình

Hộ gia đình mà các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó; hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó.

Hộ gia đình bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung. Những người nầy có thể có hoặc không có quỹ thu, chi chung; có thể có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt.

Trong một nhà hay một căn hộ có thể có một hoặc nhiều hộ, mỗi hộ được coi là một đơn vị điều tra. Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất,  quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên trong gia đình thỏa thuận là tài sản chung của hộ.

Khái niệm hộ gia đình

Giải pháp tái cơ cấu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân Hàng Thương Mại Nhà Nước Việt Nam

Giải pháp tái cơ cấu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân Hàng Thương Mại  Nhà Nước Việt Nam

1. Nhóm giải pháp về tài chính

1.1. Tăng quy mô vốn chủ sở hữu

Thực trạng cho thấy quy mô vốn chủ sở hữu nói chung và vốn điều lệ nói riêng của các NHTMNN còn thấp. Do vậy, để bảo đảm an toàn và tạo điều kiện mở rộng quy mô hoạt động, việc tăng cường vốn điều lệ cho các NHTMNN Việt Nam là rất cần thiết.

Các NHTMNN cần xác định nhu cầu và có kế hoạch trung dài hạn cũng như hàng năm về vốn chủ sở hữu gắn với mục tiêu tăng tổng tài sản có và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo chuẩn mực Việt Nam (tối thiểu 9%), tiến tới theo chuẩn mực quốc tế mà trong giai đoạn 2016-2018 là Basel II.

Vốn điều lệ là cấu phần quan trọng của vốn chủ sở hữu và là cơ sở để xác định một số giới hạn hoạt động của NHTM (đầu tư tài sản cố định, đầu tư góp vốn…). Ở thời điểm hiện nay, nếu không tăng vốn điều lệ, một số NHTMNN sẽ không được phép đầu tư TSCĐ do vi phạm giới hạn (vd: Agribank, Vietcombank), điều này sẽ cản trở các NHTMNNN trong đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng hoạt động kinh doanh. Do đó, các NHTMNN cần chú trọng tăng vốn điều lệ, coi đó là giải pháp cơ bản để tăng vốn chủ sở hữu. Việc tăng vốn điều lệ có thể được thực hiện thông qua: phát hành thêm cổ phiếu, trả cổ tức bằng cổ phiếu thay vì bằng tiền mặt, hợp nhất sáp nhập…

Để thực hiện được các giải pháp này, bên cạnh sự nỗ lực của các NHTMNN, cần có sự hỗ trợ về chính sách của NHNN và các Bộ ngành liên quan.

Về lộ trình, trong năm 2016 các NHTMNN cần tăng vốn (ước tính tối thiểu khoảng 15 ngàn tỷ đồng) để đảm bảo hệ số CAR (mức độ tiêu chuẩn theo Basel II) đạt 8%; những năm tiếp theo cần tăng vốn (ước tính khỏang 70 ngàn tỷ đồng) để đảm bảo tuân thủ Basel II ở mức độ đầy đủ vào năm 2018.

1.2. Nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và tích cực xử lý nợ xấu

Nợ xấu thực tế của NHTMNN Việt Nam mặc dù đã được xử lý tích cực trong giai đoạn vừa qua nhưng hiện vẫn ở mức cao. Trong thời gian tới cần phải cơ bản làm sạch bảng tổng kết tài sản của các NHTMNN Việt Nam theo các tiêu chuẩn, phương pháp quốc tế và điều kiện cụ thể của Việt Nam bằng việc phân loại nợ xấu một cách chính xác, minh bạch theo quy định của NHNN.

Các NHTMNN phải rà soát, xác định số nợ xấu có TSĐB và nợ không còn TSĐB; đánh giá khả năng trả nợ và có biện pháp xử lý thu hồi nợ phù hợp theo từng nhóm: xử lý tài sản đảm bảo, bán nợ cho VAMC, miễn giảm lãi để thu hồi nợ, khởi kiện, sử dụng DPRR để xoá nợ… Mặt khác, để ngăn chặn nợ xấu phát sinh trong tương lai, các NHTMNN cần xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm khách hàng đồng bộ, hữu hiệu và áp dụng phân loại nợ theo định tính theo chuẩn quốc tế. Trên sơ sở phân loại này, ngân hàng có thể nâng cao chất lượng hoạt động thông qua việc đánh giá rõ ràng mức độ rủi ro của mỗi khoản tín dụng một cách tương đối chính xác để chủ động trích lập dự phòng rủi ro khi nợ xấu phát sinh.

Để thực hiện các giải pháp trên, các NHTMNN phải áp dụng một cách đầy đủ và triệt để các nội dung quy định tại Thông tư 02. Phân công trong Ban điều hành trực tiếp đôn đốc, chỉ đạo các Chi nhánh có nợ tồn đọng lớn, thành lập Ban xử lý nợ tại những Chi nhánh này. Xây dựng phương án xử lý nợ cụ thể đối với từng khoản nợ. Thực hiện rà soát, đánh giá lại đúng thực trạng khách hàng có nợ tồn đọng, tình hình tài chính, TSBĐ, nguồn thu nợ, khả năng thu nợ. Trên cơ sở đó áp dụng đồng bộ các biện pháp xử lý thu hồi nợ

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu thành lập Công ty mua bán nợ (AMC) thuộc NHTMNN để mua lại các khoản nợ đóng băng có TSĐB từ chính các NHTM như kinh nghiệm của một số quốc gia khác.

Đối với các khoản nợ khoanh, nợ tồn đọng, Nhà nước cần cấp nguồn xử lý xoá nợ cho ngân hàng, đây chính là hình thức xoá nợ cho khách hàng thông qua ngân hàng.

Về lộ trình thực hiện, ngay trong năm 2016 cần phải cơ bản làm sạch bảng tổng kết tài sản của các NHTMNN Việt Nam theo các tiêu chuẩn, phương pháp quốc tế và điều kiện cụ thể của Việt Nam, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 2,5% và dưới 2% trong các năm tiếp theo.

2. Nhóm các giải pháp nâng cao năng lực hoạt động

Qua phân tích thực trạng cho thấy năng lực hoạt động của các NHTMNN còn nhiều hạn chế, còn có khoảng cách lớn so với các ngân hàng trong khu vực. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMNN cần phải tiếp tục thực hiện tái cơ cấu hoạt động nhằm củng cố hoạt động kinh doanh chính, nâng cao hiệu quả huy động vốn, tăng trưởng tín dụng, chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa cơ cấu thu nhập và nâng cao các chỉ số sinh lời.

2.1. Rà soát, củng cố các hoạt động kinh doanh chính, cơ cấu lại các hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh lõi (core business)

Thường xuyên tiến hành rà soát, củng cố các hoạt động kinh doanh chính; giảm các hoạt động kinh doanh ngoài ngành, tiềm ẩn nhiều rủi ro, không hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại, chuyển đổi hình thức sở hữu, củng cố hoạt động các công ty con theo hướng minh bạch, hiệu quả.

2.2. Đa dạng hoá hình thức và cơ cấu huy động vốn, kiểm soát tăng trưởng tín dụng phù hợp

Phát triển và tăng cường quản lý tài sản có, tài sản nợ.

Thứ nhất, Phát triển tài sản có

Cải tiến các quy trình nội bộ về thẩm định tín dụng, phân định rõ chức năng bán hàng với chức năng thẩm định tín dụng để tăng cường tính độc lập và nâng cao chất lượng thẩm định tạo điều kiện mở rộng tín dụng có trọng tâm, trọng điểm, gắn với chiến lược phát triển tín dụng. Chú trọng chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tăng tỷ trọng cho vay khu vực tư nhân, chú trọng cho vay tiêu dùng.

Thứ hai, xây dựng chiến lược huy động vốn nhằm phát triển mạnh tài sản nợ với mục tiêu là đẩy mạnh huy động vốn nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng về sử dụng vốn và bảo đảm các tỷ lệ an toàn theo quy định

Tiếp tục đẩy mạnh mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn trong nền kinh tế với nhiều sản phẩm tiền gửi khác nhau. Chú trọng tăng tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn, thay đổi cơ cấu nguồn vốn nhằm thay đổi cơ cấu tín dụng về kỳ hạn.

Tăng cường quan hệ quốc tế với các ngân hàng đại lý, ngân hàng nước ngoài để tranh thủ thêm nguồn vốn từ bên ngoài.

Thứ ba, tăng cường quản lý tài sản có, tài sản nợ

Quản lý tài sản có, tài sản nợ nhằm giám sát và quản lý rủi ro thông qua các cơ chế, chính sách (xác định các hạn mức và giới hạn an tòan; thiết lập các mức độ thanh khoản và trạng thái cần thiết; phân định rõ sổ kinh doanh và sổ ngân hàng,…) nhằm tối ưu hoá hiệu quả của bảng tổng kết tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

2.3. Đẩy mạnh việc ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ mới vào hoạt động, nâng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ của các Ngân hàng thương mại Nhà nước

Các NHTMNN Việt Nam cần tích cực nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có; phát triển các loại dịch vụ, sản phẩm mới của ngân hàng nhằm nâng cao tỷ trọng thu dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu thu nhập của ngân hàng theo hướng bền vững.

2.4. Hiện đại hoá hệ thống công nghệ tạo điều kiện phát triển dịch vụ ngân hàng mới, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng và hỗ trợ quản trị ngân hàng một cách hiệu quả

Các NHTMNN cần triển khai việc thay thế hệ thống công nghệ lõi (Core banking) với khả năng đáp ứng quy mô hoạt động kinh doanh ngày càng lớn hơn, có tính mở và khả năng hỗ trợ tối đa cho các ứng dụng công nghệ khác. Áp dụng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại vào mọi quy trình nghiệp vụ của ngân hàng: ứng dụng công nghệ để đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ; mua các giải pháp trọn gói một cách hợp lý; tập trung hoá thông tin khách hàng; triển khai các hệ thống công nghệ trong quản trị nhân sự, quản trị rủi ro, xây dựng hệ thống thông tin quản; tăng cường đào tạo cán bộ công nghệ thông tin.

2.5. Rà soát, củng cố chấn chỉnh hệ thống mạng lưới và kênh phân phối

Các NHTMNN cần thường xuyên rà soát, đánh giá các Chi nhánh để kịp thời định hướng cơ cấu lại, chấn chỉnh hoạt động, đảm bảo an toàn hiệu quả. Tiếp tục mở rộng mạng lưới, tăng “độ bao phủ” tại các địa bàn trong cả nước, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm, có tiềm năng phát triển. Chú trọng phát triển mạnh các kênh phân phối điện tử nhằm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ của khách hàng, tăng thu dịch vụ cho ngân hàng. Từng bước phát triển hệ thống mạng lưới ra nước ngoài, tại các thị trường phù hợp.

Điều kiện thực hiện nhóm giải pháp:

Để thực hiện các giải pháp nêu trên, các NHTMNN phải chủ động sử dụng nguồn nội lực hiện có, bố trí hợp lý để tối ưu hóa hiệu quả. Một số giải pháp cũng đòi hỏi các NHTMNN phải bố trí nguồn lực tài chính cần thiết. Bên cạnh đó, cũng cần sự hỗ trợ của NHNN và các cơ quan quản lý liên quan trong các vấn đề như: hòan thiện khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện cho các NHTMNN phát triển mạng lưới…

Lộ trình thực hiện nhóm giải pháp:

Các giải pháp: rà sóat hoạt động đầu tư, tăng hiệu quả huy động vốn và tín dụng, phát triển sản phẩm dịch vụ, mở rộng mạng lưới … là các giải pháp cần thực hiện một cách thường xuyên.

Đối với việc rà sóat, thóai vốn tại các NHTMCP khác, các NHTMNN cần thực hiện ngay để đảm bảo tuân thủ quy định vào đầu năm 2016. Về hạ tầng côngnghệ, trong năm 2016-2017 các NHTMNN cần tập trung đổi mới, nân g cấp hệ thống core banking, đồng thời triển khai các ứng dụng công nghệ mới cho quản trị (Basel II, hệ thống tài trợ thương mại tập trung, KPI, MIS…).

3. Nhóm các giải pháp nâng cao năng lực quản trị

Năng lực quản trị còn yếu là tồn tại nổi bật nhất của các NHTMNN qua phân tích thực trạng, so với một số NHTMCP trong nước, đặc biệt là so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Mô hình tổ chức chưa chuẩn hóa, thiết chế và chức năng nhiệm vụ chưa rõ ràng, thiếu các cơ chế động lực và các công cụ quản lý cần thiết…. Nếu không nâng cao được năng lực quản trị thì năng lực cạnh tranh của các NHTMNN sẽ bị hạn chế một cách đáng kể.

3.1. Hoàn thiện mô hình tổ chức theo mô hình tập trung, hướng khách hàng

Mô hình tổ chức của các NHTMNN Việt Nam cần được sắp xếp, tổ chức lại theo hướng phân định rõ, chuyên môn hoá chức năng quản lý và tác nghiệp tập trung tại Trụ sở chính và chức năng bán hàng tại Chi nhánh. Cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động của các ngân hàng cần được điều chỉnh lại theo hướng “tập trung khách hàng” thay vì “tập trung sản phẩm”; các khối kinh doanh sẽ được tổ chức lại theo nhóm khách hàng. Các chức năng quản trị và tác nghiệp được tập trung triệt để tại TSC, các Chi nhánh chỉ tập trung cho công tác bán hàng. Mô hình khối theo nhóm khách hàng và theo chức năng cần được thiết lập một cách thống nhất. Theo đó, ngân hàng sẽ có các khối kinh doanh chính là: khối bán buôn, khối bán lẻ, khối kinh doanh vốn; các khối chức năng gồm: quản trị rủi ro, tác nghiệp, tài chính, hỗ trợ

Bên cạnh đó, các NHTMNN cần rà sóat chuẩn hóa chức năng nhiệm vụ các phòng tại Trụ sở chính, sắp xếp lại theo đúng khối chức năng, phân định rõ nhiệm vụ, tránh chồng chéo. Sắp xếp các phòng tại Chi nhánh theo các chức năng chuẩn thuộc từng nhóm: bán hàng, dịch vụ khách hàng và hỗ trợ.

3.2. Chuyển đổi mô hình gắn với chiến lược phát triển thị trường phù hợp

Các NHTMNN cần xây dựng chiến lược thị trường theo hướng giữ vững và phát triển thị trường trong nước đi đôi với mở rộng thị trường nước ngoài, trước mắt là các thị trường trong khu vực ASEAN.

3.3. Xây dựng, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và phân định trách nhiệm cụ thể về quản trị của từng đơn vị, cá nhân trong hệ thống quản trị rủi ro, quản trị điều hành của ngân hàng.

Các NHTMNN Việt Nam cần hoàn thiện các Uỷ ban và nâng cao vai trò tham mưu, tư vấn chính sách của các Ủy ban này. Nghiên cứu đổi mới mô hình quản trị hoạt động cấp tín dụng theo hướng tập trung nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu suất đồng thời đảm bảo kiểm sóat chặt chẽ rủi ro. Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro, kiểm soát và giám sát rủi ro đối với từng loại hình dịch vụ; đối với từng loại rủi ro, từng bước áp dụng hiệp ước Basel II, tạo tiền đề cho áp dụng Basel III trong giai đoạn tiếp theo.

3.4. Tạo ra thiết chế minh bạch về chức năng, nhiệm vụ giữa HĐQT, Ban Kiểm soát và Ban điều hành

Tăng cường hiệu lực quản lý của HĐQT, xác định rõ hơn chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của HĐQT phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng. Theo đó, HĐQT là cơ quan quản lý cao nhất, có toàn quyền nhân danh ngân hàng trong mọi hoạt động, HĐQT được trao đầy đủ thẩm quyền trong việc bổ nhiệm Tổng Giám đốc và các thành viên Ban điều hành, đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định và giám sát thực hiện chiến lược, quyết định bổ nhiệm miễn nhiệm các chức danh quản lý các cấp cho tới Tổng Giám đốc.

3.5. Nâng cao năng lực tổ chức điều hành kinh doanh, phân định rõ chức năng của Trụ sở chính và Chi nhánh

Tại Trụ sở chính: Cơ cấu, tổ chức lại các phòng ban tại TSC theo nhóm khách hàng và nhóm chức năng, dần tập trung hoá các hoạt động tác nghiệp tại TSC. Các NHTMNN cần từng bước tập trung hóa đối với hoạt động tài trợ thương mại: Chi nhánh là đầu mối bán hàng và tiếp nhận hồ sơ, chuyển đến các Trung tâm thuộc TSC để xử lý tập trung. Chuyển mô hình cấp tín dụng phân tán như hiện nay sang mô hình phê duyệt tín dụng tập trung, theo đó về cơ bản các hồ sơ đề nghị cấp tín dụng sẽ được xem xét phê duyệt và quản lý tập trung tại TSC, CN tập trung cho công tác bán hàng. Hình thành bộ máy kiểm tra nội bộ tập trung, đặt tại các khu vực và trực thuộc TSC thay vì trực thuộc Chi nhánh như hiện nay để đảm bảo tính độc lập và nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát, cảnh báo phòng ngừa rủi ro.

Tại chi nhánh: Xây dựng và ban hành Bộ chức năng chuẩn cho các Chi nhánh, phòng giao dịch theo hướng đổi mới chức năng hoạt động của các chi nhánh gắn với thị trường, điều chỉnh định hướng kinh doanh đối với từng chi nhánh theo hướng chỉ tập trung thực hiện các nghiệp vụ mà chi nhánh có thế mạnh và hiệu quả cao, khai thác tối đa ưu thế tiềm năng địa bàn thay vì phát triển đồng loạt, không có trọng tâm ưu tiên như hiện nay, có thể phân thành các chi nhánh bán buôn, bán lẻ, chi nhánh chuyên huy động, cho vay…

3.6. Bố trí, sắp xếp và đào tạo lại cán bộ đi đôi với ban hành các cơ chế động lực để sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả

Rà soát, tổ chức đánh giá lại nguồn nhân lực trên cơ sở đó xây dựng định biên lao động cho từng mảng hoạt động, từng đơn vị, bố trí lại lao động theo yêu cầu nhiệm vụ kinh doanh của từng chi nhánh và toàn hệ thống. Xây dựng quy chế trả lương theo nguyên tắc thị trường, gắn với hệ thống đo lường đánh giá hiệu quả công việc (KPIs). Xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo và đào tạo lại cán bộ gắn liền với quy hoạch và sử dụng cán bộ.

3.7. Củng cố chức năng, tăng cường vai trò của bộ máy kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Bên cạnh việc xây dựng bộ máy kiểm tra nội bộ tập trung như đã đề xuất ở trên. Các NHTMNN cần chú trọng nâng cao năng lực của bộ máy và hiệu quả của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ để có thể tự kiểm soát một cách có hiệu quả các loại rủi ro trong hoạt động, đặc biệt là rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động.

Điều kiện thực hiện nhóm giải pháp:

Bên cạnh sự chủ động và nỗ lực quyết tâm của bản thân các NHTMNN, để thực hiện được nhóm các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị, rất cần vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tạo ra các cơ chế, chính sách phù hợp, đặc biệt là các chính sách về tiền lương, nhân sự, quản trị…

Bên cạnh đó NHNN và các cơ quan quản lý cũng cần hòan thiện các quy định về kiểm tra giám sát, tăng cường yêu cầu minh bạch thông tin để  một mặt tạo áp lực buộc các NHTM nói chung, các NHTMNN nói riêng phải đổi mới về quản trị, mặt khác tạo điều kiện để thị trường giám sát, điều chỉnh.

Lộ trình thực hiện nhóm giải pháp:

Ngoài các giải pháp mang tính thường xuyên, các giải pháp sau đây cần được các NHTMNN ưu tiên thực hiện ngay trong năm 2016: chuyển đổi mô hình tổ chức hướng theo khách hàng và chức năng; hòan thiện chức năng nhiệm vụ các đơn vị tại TSC và Chi nhánh, phân định rõ các nhóm chức năng; hoàn thiện cơ chế lương và đánh giá hiệu quả công việc; xây dựng bộ máy kiểm tra giám sát tập trung.

Trong các năm tiếp theo, các NHTMNN cần chú trọng xây dựng và hòan thiện các mô hình đo lường, tính tóan các loại rủi ro để có thể áp dụng quản trị rủi ro tuân thủ đầy đủ quy định của Basel II vào năm 2018.

Giải pháp tái cơ cấu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân Hàng Thương Mại  Nhà Nước Việt Nam

Những quan điểm, định hướng đối với việc cơ cấu lại các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam

Những quan điểm, định hướng đối với việc cơ cấu lại các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam

Bộ Chính trị đã có kết luận về mục tiêu, giải pháp phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2020 với một số định hướng chủ yếu là: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại hệ thống NHTM và CPH các NHTMNN nhằm nâng cao năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh, mở rộng qui mô và năng lực cạnh tranh, đồng thời đảm bảo đạt mức độ an toàn và lành mạnh theo chuẩn mực quốc tế; tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng theo các cam kết đa phương và song phương.

Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định 339/QĐ –TTg ngày 19/02/2013 phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020. Mục tiêu cơ cấu lại các TCTD được xác định rõ là: “Cơ cấu lại một cách căn bản triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng để đến năm 2020 phát triển được hệ thống các TCTD đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình, có khả năng cạnh tranh cao hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về các dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế”. Với các NHTMNN, định hướng tái cơ cấu là nhằm: “Nâng cao vai trò, vị trí chi phối, dẫn dắt thị trường, bảo đảm các NHTMNN thực sự là lực lượng chủ lực, chủ đạo của hệ thống các TCTD, có quy mô lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả và có năng lực quản trị tiên tiến, khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế. Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được 1-2 NHTMNN đạt trình độ khu vực về quy mô, quản trị, công nghệ và năng lực cạnh tranh”.

Các mục tiêu chính đã được xác định bao gồm:

Tăng cường năng lực thể chế và năng lực quản trị (cơ cấu lại tổ chức):

Sắp xếp đổi mới tổ chức bộ máy  phù hợp với thông lệ quốc tế. Sắp xếp lại đi đôi với mở rộng hợp lý mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch… và các kênh phân phối. Mở rộng quan hệ đại lý, hợp tác kinh doanh, phát triển sản phẩm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ với các tổ chức tài chính nước ngoài. Tăng cường năng lực kiểm tra kiểm soát, hình thành hệ thống kiểm soát nội bộ độc lập và chuyên nghiệp; phát triển hệ thống quản lý của NHTM phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam.

Tăng cường năng lực tài chính (cơ cấu lại hoạt động):

Lành mạnh hoá và nâng cao một cách nhanh chóng và căn bản năng lực tài chính của các NHTMNN để bảo đảm các NHTMNN có đủ năng lực tài chính (về quy mô và chất lượng). Tiếp tục tăng quy mô vốn tự có, đi đôi với nâng cao chất lượng và khả năng sinh lời của tài sản có; xử lý dứt điểm nợ tồn đọng và làm sạch bảng cân đối của các NHTMNN. Tiếp tục cổ phần hóa các NHTMNN theo nguyên tắc thận trọng, bảo đảm ổn định kinh tế – xã hội và an toàn hệ thống ngân hàng.

Những quan điểm, định hướng đối với việc cơ cấu lại các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam

 

Khái niệm chung về logistics

Khái niệm chung về logistics

Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về logistics. Sau đây là một vài định nghĩa tiêu biểu về logistics:

Trước những năm 1980, logistics được hiểu là “các hoạt động phân phối vật chất (PD) và quản lý kho bãi trong lưu thông thành phẩm và dịch vụ” [64,tr.2]. Đây là quan niệm logistics theo nghĩa hẹp (Outbound logistics), theo đó logistics chỉ gắn với các hoạt động liên quan đến quản lý đầu ra của sản xuất (những hàng hóa và dịch vụ cuối cùng) như vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý tồn kho, đóng gói, bao bì, phân loại, dán nhãn…

Năm 1988, Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC- The US. Logistics Administration Council) quan niệm “logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng” [82,tr.4]. Định nghĩa này đã liệt kê các hoạt động cơ bản của logistics, nhấn mạnh Logistics bao gồm một chuỗi các hoạt động liên hoàn từ khâu lên kế hoạch, đến khâu thực hiện và khâu kiểm soát dòng lưu trữ, vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và thông tin từ khi mua cho đến khi được tiêu dùng. Đồng thời, nó cũng nói được mục đích của logistics một cách khái quát nhất, đó là nhằm thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng.

Theo tài liệu giảng dạy của trường Đại học hàng hải thế giới thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” [93,tr.5]. Quan niệm này ngay từ đầu nhấn mạnh mục đích của các hoạt động logistics, bên cạnh việc liệt kê các hoạt động logistics cơ bản. Mục đích tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển là khác biệt cơ bản giữa hoạt động logistics và các hoạt động kinh tế khác, nên việc nhấn mạnh mục đích này là hợp lý khi định nghĩa logistics. Tuy nhiên, định nghĩa này không bao quát hết nội hàm của khái niệm logistics, nó mới chỉ liệt kê đến các hoạt động liên quan đến yếu tố đầu vào, tài nguyên mà chưa chỉ rõ được hoạt động lưu kho, vận chuyển hàng hóa và cả các yếu tố phi vật chất như thông tin qua từng khâu của quá trình sản xuất, lưu thông và đến với người tiêu dùng.

Chủ tịch học viện Nghiên cứu Logistics Georgia, Hoa Kỳ, ông Edward Frazelle thì cho rằng “Logistics là quá trình lưu chuyển của vật tư, thông tin và tiền tệ từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng” [75,tr.6]. Đây là một định nghĩa ngắn gọn, nhấn mạnh khía cạnh lưu chuyển thông tin và tiền tệ trong logistics, nhưng theo chúng tôi, định nghĩa như vậy chưa đầy đủ. Từ “vật tư” theo từ điển tiếng Việt được hiểu là các thứ vật liệu, máy móc, công cụ cần cho sản xuất, xây dựng nói chung, như vậy nó hẹp hơn đối tượng mà nội hàm hoạt động logistics tác động. Hơn nữa, định nghĩa này chưa nói được mục đích của hoạt động logistics.

Một định nghĩa về logistics được dùng tương đối phổ biến là “Logistics là có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất” [100,tr.6]. Mặc dù được dùng tương đối phổ biến, song đây không phải là một định nghĩa chuẩn bởi vì nó không nói được nội hàm, nội dung các hoạt động, nghiệp vụ của khái niệm này (định nghĩa này chỉ cho chúng ta thấy được mục đích của logistics mà thôi). Việc dùng định nghĩa này cũng là một trong các nguyên nhân làm cho logistics trở nên mơ hồ, dẫn đến sự thiếu hiểu biết hay nhầm lẫn về logistics.

Tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày 14/6/2005 đã thông qua Luật thương mại 2005, trong đó có qui định cụ thể khái niệm dịch vụ logistics. Tại điều 233 – Mục 4 – Chương VI của Luật Thương mại ngày 14/6/2005, Luật qui định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” [38,tr.58]. Như vậy, Luật Thương mại 2005 không định nghĩa logistics mà chỉ đề cập đến dịch vụ logistics và chưa coi logistics là một chuỗi các hoạt động liên hoàn trong chuỗi cung ứng.

Tóm lại, cho đến nay còn nhiều tranh cãi xung quanh việc định nghĩa khái niệm logistics. Sở dĩ có nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa khái niệm logistics là vì logistics không phải là một hoạt động mà gồm một chuỗi các hoạt động phục vụ cho quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông. Hơn thế nữa, theo thời gian, cùng với sự phát triển của sản xuất, của phân công lao động xã hội mà các hoạt động này ngày càng mở rộng và phát triển. Chính vì thế, nội hàm của khái niệm logistics thay đổi theo thời gian và không gian. Điều này dẫn đến sự xuất hiện các định nghĩa khác nhau về logistics ở những thời điểm và không gian khác nhau.

Theo chúng tôi, định nghĩa mới nhất mà Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals- CSCMP) Hoa Kỳ đưa ra năm 2001 là chính xác và toàn diện hơn cả, theo đó Logistics được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ,thông tinhai chiềugiữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùngnhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng[1]. [112]

Theo định nghĩa này, logistics gắn liền và là một bộ phận của chuỗi cung ứng (Supply Chain), liên quan đến các khâu của chuỗi cung ứng từ nhập nguyên, nhiên vật liệu qua các khâu của quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Trong mỗi khâu đó, hoạt động logistics bao gồm cả quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả cao. Trong định nghĩa này, góc độ “logistics ngược chiều” xuất hiện đã tiến thêm một bước mở rộng nội hàm của logistics so với các định nghĩa ở trên. Dịch vụ logistics ngược chiều dùng để chỉ hoạt động quản lý, lưu chuyển những dòng vật tư, phế phẩm, hàng trả lại quay trở lại quá trình sản xuất. Ngoài ra, logistics ngược chiều còn dùng để chỉ các hoạt động thu nhận, quản lý, xử lý nguồn thông tin phản hồi từ phía các khách hàng – một khâu ngày càng có vị trí quan trọng trong cạnh tranh.

Như vậy, có thể thấy một số đặc điểm cơ bản về logistics như sau:

* Logistics bao gồm hàng loạt các hoạt động liên hoàn từ lên kế hoạch, quản lý thực hiện và kiểm soát dòng lưu trữ, vận chuyển các tài nguyên (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa), tài chính, thông tin từ nơi cung cấp đến kho chứa, qua các nhà xưởng, các xí nghiệp, nhà máy, kho bãi, người bán buôn, người bán lẻ và đến tay người tiêu dùng. Để đưa hàng hóa và các yếu tố sản xuất từ nhà cung ứng đến người tiêu dùng một cách có hiệu quả, cần phải tổ chức thực hiện một chuỗi các hoạt động logistics liên tục có liên quan hữu cơ với nhau: từ nghiên cứu, lập kế hoạch, tổ chức, quản lý, kiểm tra, kiểm soát đến hoàn thiện các mục tiêu. Hoạt động quản lý logistics thường bao gồm việc tìm nguồn cung ứng và mua sắm, lập kế hoạch và lịch trình sản xuất, đóng gói, lắp ráp, quản lý vận tải trong và ngoài doanh nghiệp, quản lý đội tàu, kho bãi, xử lý vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản lý hàng tồn kho và dịch vụ khách hàng. Logistics liên quan đến tất cả các cấp lập kế hoạch, xây dựng chiến lược, hành động và chiến thuật.

Mỗi khâu của quá trình logistics lại có những đặc trưng cơ bản song các khâu có tác động qua lại, liên quan mật thiết với nhau, hiệu quả ở khâu này làm tiền đề cho việc triển khai hoạt động ở các khâu tiếp theo và ảnh hưởng đến hiệu quả chung của toàn bộ hệ thống. Trong toàn bộ quá trình ấy, vấn đề then chốt là lấy thỏa mãn khách hàng là mục tiêulấy lợi ích tổng thể của doanh nghiệp làm mục đích, coi trọng hiệu quả mọi mặt, nhưng trên hết là hiệu quả kinh tế.

* Đối tượng tác động của logistics: là các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất. Nó có thể là các yếu tố hữu hình như vật tư, hàng hóa, nguyên nhiên phụ liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hoặc hàng phế phẩm, hàng trả lại… và cũng có thể là các yếu tố vô hình như vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, thông tin.

* Bản chất của quá trình logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí (chọn và bố trí mạng lưới hạ tầng cơ sở) và tối ưu hóa các dòng vận động (hoạch định việc lưu chuyển các đối tượng tác động nêu trên nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tối ưu trong tương quan với tiềm lực của doanh nghiệp).

* Mục tiêu chung của logistics là có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất với chi phí thấp nhất có thể. Nói cách khác, mục tiêu của logistics là cung cấp đúng số lượng của đúng yếu tố, tại đúng địa điểm vào đúng thời gian quy định với chi phí tối ưu. Các yếu tố ở đây là các đối tượng của logistics đã đề cập.

* Logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng (Supply chain). Dây chuyền cung ứng là một mạng lưới lưu chuyển vật tư, hàng hóa, thông tin và tiền tệ giữa các tổ chức [75, tr.8]. Khi nói đến dây chuyền cung ứng, người ta đề cập đến một chuỗi các mắt xích có quan hệ mật thiết với nhau đó là các chủ thể tham gia vào quá trình lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ, mạng lưới hạ tầng cơ sở (như nhà xưởng, kho bãi, bến cảng, các trung tâm phân phối…) hệ thống phương tiện vận tải, hệ thống thông tin. Các mắt xích này được liên kết với nhau bởi quá trình mua bán, trao đổi các vật phẩm, dịch vụ. Logistics chính là các hoạt động, dịch vụ được triển khai để kích hoạt dây chuyền cung ứng đó, nó bao gồm các hoạt động để các mắt xích kia liên kết với nhau theo phương thức tối ưu nhất nhằm thỏa mãn khách hàng tốt nhất.

[1] Nguyên văn bằng tiếng Anh là: “Logistics management is that part of the Supply Chain Management process that plans, implements, and controls the efficient, effective forward and reverse flow and storage of goods, services, and related information between the point of origin and the point of consumption in order to meet customers’ requirements.”[112]

Khái niệm chung về logistics