0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Cơ sở lý thuyết về hành vi công dân tổ chức

Cơ sở lý thuyết về hành vi công dân tổ chức

1. Hành vi công dân tổ chức – OCB là gì?

Năm 1983, thuật ngữ hành vi công dân tổ chức – OCB lần đầu tiên xuất hiện trong nghiên cứu của Smith, Organ và Near “Organizational citizenship behaviour: Its nature and antecedents” trên tạp chí Journal of Applied Psychology nhưng phải 10 năm sau, OCB mới được các nhà chuyên môn trên thế giới tập trung nghiên cứu phát triển lĩnh vực này. Trong số các khái niệm, các cách hiểu về OCB được đưa ra thì cách hiểu về OCB của Organ (1988) được đánh giá là khá đầy đủ và chi tiết. Theo Organ, hành vi công dân tổ chức – OCB được xác định là“hành vi mang tính cá nhân, tự nguyện, không được thừa nhận một cách trực tiếp và rõ ràng trong các hoạt động khen thưởng thông thường nhưng lại có tác dụng thúc đẩy hiệu quả hoạt động của tổ chức.” (Organ, 1988). Theo thống kê của LePine, Erez và Jonson (2002), khoảng 40 kiểu hành vi OCB đã được đề cập đến. Còn Organ và các cộng sự (2006) từ các nghiên cứu phân tích thực chứng đã xác định OCB có 7 loại: Hành vi Tận tình (altruism), Hành vi tuân thủ quy định (generalized complicance), Hành vi cao thượng (sportsmanship), Phẩm hạnh nhân viên (civic virtue), Lịch thiệp (courtesy), Trung thành (loyalty), Phát triển bản thân (self-development).

Như vậy, trên thế giới gần đây đã có khá nhiều nghiên cứu đề cập đến OCB nhưng thực ra, khởi nguồn của OCB lại xuất phát từ một nghiên cứu năm 1977 của Organ. Khi đó, ông chỉ đề cập đến những hoạt động rất đỗi bình thường nhưng lại có tính đóng góp đối với tổ chức. Sau nghiên cứu của Organ (1977), nhiều nhà nghiên cứu đã làm sáng rõ định nghĩa, đặc điểm cũng như các loại hành vi thuộc OCB. Tác giả cho rằng đặc trưng cơ bản của OCB chính là yếu tố tự nguyện từ chính người lao động. Vậy nên, để thể hiện rõ ý nghĩa của thuật ngữ, tác giả khá đồng tình với cách gọi OCB trong tiếng Việt là Hành vi công dân trong tổ chức.

2. Mô hình đo lường hành vi công dân tổ chức – OCB

Khá nhiều mô hình đo lường hành vi công dân tổ chức – OCB đã được các nhà nghiên cứu xây dựng và kiểm chứng. Tiêu biểu trong số đó làmô hình của Smith, Organ và Near (1983). Mô hình này bao gồm 2 nhân tố: Tận tình (altruism) và Tuân thủ quy định (generalized compliance). Trong đó, nhân tố Tận tình được xem là những hành vi giúp đỡ hướng đến một cá nhân cụ thể như cấp trên, đồng nghiệp hoặc khách hàng còn nhân tố Tuân thủ quy định trực tiếp hướng đến lợi ích của tổ chức thể hiện ở hành động chấp nhận và tuân theo các quy tắc, chuẩn mực trong tổ chức, có ý nghĩa hỗ trợ gián tiếp công việc của nhiều người. Nghiên cứu của Smith (1983) đã tiến hành cuộc khảo sát đối với cấp quản lý trong việc đánh giá yếu tố tính cách thể hiện ở mỗi hành vi của người lao động. Vì vậy, mô hình này chưa thể hiện sự rõ ràng và tính logic để đo lường hành vi OCB.

Năm 1988, Organ đã tổng hợp lại các nghiên cứu hành vi công dân tổ chức – OCB trước ông và đưa ra thang đo với 5 thành phần: (1) Tận tình (altruism): giúp đỡ đồng nghiệp; (2) Lịch thiệp (courtesy): thảo luận với đồng nghiệp trước khi hành động; (3) Cao thượng (sportmanship): sẵn sàng bỏ qua những vấn đề phiền toái không cần thiết mà người lao động khó tránh khỏi trong quá trình làm việc; (4) Lương tâm (conscientiousness): thể hiện sự cần cù, tuân thủ quy định và tích cực tham gia làm việc tốt hơn so với yêu cầu; (5) Phẩm hạnh nhân viên (civic virture): có trách nhiệm tham gia và dấn thân vào tổ chức.

Mô hình của Van Dyne, Graham và Dienesch (1994): Phát triển từ khái niệm hành vi công dân tổ chức – OCB của Organ (1988), Graham (1991) đã nhấn mạnh đến trách nhiệm xã hội, đến tư cách công dân của người lao động trong hành vi OCB. Theo đó, hình ảnh “người công dân trong tổ chức” không chỉ làm việc mẫn cán, có lương tâm mà còn rất năng động, tự chủ, có tiếng nói trong tổ chức. Dựa trên quan điểm của Graham, Van Dyne và các cộng sự (1994) đã xác định được mô hình đo lường hành vi công dân tổ chức – OCB có 5 thành phần: (1) Trung thành (loyalty); (2) Phục tùng (obedience); (3) Đóng góp mang tính xã hội (social participation); (4) Đóng góp mang tính cá nhân (advocacy participation); (5) Đóng góp mang tính chức năng (functional participation).

Ngoài ra, có một số mô hình khác của Morrison (1994), William và Anderson (1991), Becker và Vance (1990), Morrison và Phelps (1999), Moorman và Blalely (1995)…

Như vậy đến nay đã có khá nhiều mô hình đo lường hành vi công dân tổ chức – OCB. Tuy nhiên, nhiều mô hình chưa khám phá ra được những yếu tố mới nên đã xảy ra sự trùng lặp giữa các mô hình này. Ví dụ trong mô hình của Van Dyne (1994), nhân tố Đóng góp mang tính xã hội (social participation) bao hàm nội dung của Tận tình (altruism) và Lịch thiệp (courtesy); Trung thành (loyalty) chính là Cao thượng (sportmanship) và một phần nội dung của Phẩm hạnh nhân viên (civic virture); còn Đóng góp mang tính chức năng (functional participation) giống với Lương tâm (conscientiousness) và Phẩm hạnh nhân viên (civic virture) (LePine & Erez, 2002).

Theo LePine & Erez (2002), mô hình 5 thành phần của Organ (1988) được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu thực chứng (empirical research). Đặc biệt với quan điểm cho rằng mô hình này có tính logic chặt chẽ nên Podsakoff và các cộng sự đã sử dụng thành công cho các nghiên cứu của mình vào năm 1996.

Cơ sở lý thuyết về hành vi công dân tổ chức

Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos

Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos

Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải thấu hiểu khách hàng cảm nhận như thế nào về CLDV và những nhân tố ảnh hướng đến CLDV. Để có thể đạt được sự hài lòng của khách hàng, trong công tác quản  lý CLDV, doanh nghiệp cần phải kết hợp đồng thời cả chất lượng kỳ vọng và chất lượng nhận thức. Gronroos (1984) (SQ1) cho rằng cho rằng CLDV của một doanh nghiệp được xác định bởi 3 thành phần: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng, và hình ảnh. Trong đó:

– Chất lượng kỹ thuật: Là những giá trị mà khách hàng thật sự nhận được từ dịch vụ của nhà cung cấp (khách hàng tiếp nhận cái gì?).

– Chất lượng chức năng: Thể hiện cách thức phân phối dịch vụ tới người tiêu dùng của nhà cung cấp dịch vụ ( khách hàng tiếp nhận dịch vụ đó như thế nảo?).

Hình 1: Mô hình chất lượng Nordic của Gronroos 

Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos

Nguồn: Gronroos, 1984

Hình ảnh: đóng vai trò rất quan trọng đối với nhà cung cấp dịch vụ và yếu tố này được xây dựng chủ yếu trên 2 thành phần chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.

Hơn nữa, Gronroos (1984) còn cho rằng kỳ vọng của khách hàng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: các hoạt động marketing truyền thống (quảng cáo, quan hệ công chúng, chính sách giá cả) và yếu tố ảnh hưởng bên ngoài (phong tục, tập quán, ý thức, truyền miệng), trong đó yếu tố truyền miệng có tác động đáng kể đến khách hàng tiềm năng hơn so với hoạt động tiếp thị truyền thống và cũng nhấn mạnh rằng việc nghiên cứu CLDV phải dựa trên quan điểm của người tiêu dùng.

Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos

Thang đo Parasuraman & ctg (1988)

Thang đo Parasuraman & ctg (1988)

Parasuraman & ctg (1988) đã xây dựng và kiểm định thang đo năm thành phần của chất lượng dịch vụ, gọi là thang đo SERVQUAL, với các biến thuộc từng thành phần như sau:

1. Thành phần tin cậy

(Khả năng thực hiện một dịch vụ hứa hẹn một cách chính xác và đáng tin cậy)

– Khi công ty XYZ hứa sẽ thực hiện một điều gì đó vào khoảng thời gian cụ thể, công ty sẽ thực hiện.

– Khi bạn gặp khó khăn, công ty XYZ thể hiện sự quan tâm chân thành trong giải quyết khó khăn.

– Công ty XYZ thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên.

– Công ty XYZ cung cấp dịch vụ đúng vào thời điểm mà công ty hứa sẽ thực hiện.

– Công ty XYZ thông báo cho khách hàng khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện.

2. Thành phần đáp ứng

(Mong muốn được hỗ trợ khách hàng và cung ứng dịch vụ nhanh chóng)

– Nhân viên trong công ty XYZ phục vụ bạn nhanh chóng, đúng hạn.

– Nhân viên trong công ty XYZ luôn luôn sẵn sàng giúp đõ bạn.

– Nhân viên công ty XYZ không bao giờ tỏ ra quá bận rộn để không đáp ứng yêu cầu của bạn.

3. Thành phần năng lực phục vụ

(Kiến thức và tác phong của nhân viên cũng như khả năng của họ để truyền niềm tin và sự tự tin)

– Hành vi của nhân viên trong công ty XYZ ngày càng tạo sự tin tưởng đối với bạn.

– Bạn cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với công ty XYZ.

– Nhân viên trong công ty XYZ bao giờ cũng tỏ ra lịch sự, nhã nhặn với bạn.

– Nhân viên trong công ty XYZ có kiến thức để trả lời các câu hỏi của bạn.

4. Thành phần đồng cảm

(Mức chăm sóc, cá thể hóa mà công ty cung ứng cho khách hàng)

– Công ty XYZ thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn.

– Công ty XYZ có những nhân viên thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn.

– Công ty XYZ thể hiện sự chú ý đặc biệt đến những quan tâm nhiều nhất của bạn.

– Nhân viên trong công ty XYZ hiểu được những nhu cầu đặc biệt của bạn.

5. Thành phần phương tiện hữu hình

(Các phương tiện vật chất và hình thức của nhân viên)

– Công ty XYZ có trang thiết bị hiện đại.

– Cơ sở vật chất của công ty XYZ trông rất hấp dẫn.

– Nhân viên của công ty XYZ có trang phục gọn gàng, cẩn thận.

– Các phương tiện vật chất trong hoạt động dịch vụ rất hấp dẫn tại công ty XYZ.

– Công ty XYZ bố trí thời gian làm việc thuận tiện.

Thang đo Parasuraman & ctg (1988)

Mô hình ba nhân tố Fama-French

Mô hình ba nhân tố Fama-French

Một nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi Fama và French (1992) đã chỉ ra rằng rủi ro thị trường không phải là biến số giải thích tốt cho sự thay đổi về lợi nhuận của các cổ phiếu. Vì vậy, Fama và French (1993) đã đề xuất mô hình 3 nhân tố (được trình bày chi tiết ở phần tiếp theo) để bổ sung cho những khiếm khuyết của mô CAPM trong việc giải thích lợi nhuận kỳ vọng của các cổ phiếu.

Sau khi được công bố, mô hình 3 nhân tố Fama – French đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu. Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng mô hình 3 nhân tố Fama – French phù hợp hơn CAPM trong việc giải thích cho sự thay đổi lợi nhuận của các cổ phiếu.

Tỷ suất sinh lợi vượt trội của chứng khoán chính là phần đóng góp của tỷ suất sinh lợi vượt trội thị trường cộng với phần bù của quy mô và phần bù của giá trị.

Fama và French nhận thấy rằng tỷ suất sinh lợi bình quân của chứng khoán thời kỳ 1963 -1990 ở Mỹ thì beta của mô hình CAPM không giải thích được. Fama và French bắt đầu quan sát hai lớp cổ phiếu có khuynh hướng tốt hơn so với toàn bộ thị trường. Thứ nhất là cổ phiếu giá trị vốn hóa nhỏ (small caps) hay còn gọi là quy mô nhỏ. Thứ hai là cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường BE/ME cao (hay còn gọi là cổ phiếu giá trị – value stock, và ngược lại được gọi là cổ phiếu tăng trưởng – growth stock). Sau đó họ thêm hai nhân tố này vào CAPM để phản ánh sự nhạy cảm của danh mục đối với hai loại cổ phiếu này. Fama và French (1993) đã xác định một mô hình với ba nhân tố rủi ro chung đối với lợi nhuận chứng khoán đó là nhân tố tổng thể thị trường (Rm-Rf), nhân tố liên quan đến quy mô công ty (SMB) và nhân tố liên quan đến tỷ lệ giá sổ sách chia giá thị trường BE/ME (HML).

Mô hình:

Ri – Rf = α + βi x (Rm – Rf) + s x SMB + h x HML

Trong đó :
– α : hệ số chặn
– Ri: là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i
– Rm: là tỷ suất sinh lợi của thị trường
– Rf: là lãi suất phi rủi ro
– SMB (Small Minus Big): là tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ trừ tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục có giá trị vốn hóa thị trường lớn
– HML (High Minus Low): là chênh lệch trong tỷ suất sinh lợi bình quân danh mục các cổ phiếu có BV/MV lớn với danh mục các cổ phiếu có BV/MV nhỏ
– βi, s, h, là các biến phản ánh độ nhạy của các nhân tố, trong đó còn được gọi là beta chứng khoán 3 nhân tố (để phân biệt với beta chứng khoán trong CAPM).

Giải thích các biến trong mô hình

Mô hình Fama French 3 nhân tố chỉ ra rằng tỷ suất sinh lợi vượt trội của chứng khoán (Ri-Rf) chính là phần đóng góp của tỷ suất sinh lợi vượt trội thị trường [ βi(Rm-Rf)] cộng với phần bù của quy mô (SMB) và phần bù của giá trị (HML).

Ø Tỷ suất sinh lợi thị trường vượt trội:

Phần chênh lệch Rm-Rf đôi khi còn được gọi là phần bù của thị trường (market premium) hay tỷ suất sinh lợi thị trường vượt trội, tức là phần tăng thêm của tỷ suất sinh lợi do rủi ro của thị trường mang lại. Nhân tố này cũng giống như trong CAPM.

Ø Phần bù của quy mô:

SMB (Small Minus Big) đo lường lợi nhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi đầu tư vào những công ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ. Phần lợi nhuận tăng thêm này đôi khi còn được gọi là phần bù của quy mô, tức là lợi nhuận do quy mô của công ty mang lại.

SMB được tính bằng tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 33% chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường (quy mô) nhỏ trừ cho tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 33% chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường (quy mô) lớn.

Một SMB dương chỉ ra rằng những chứng khoán có quy mô nhỏ luôn tốt hơn (có tỷ suất sinh lợi cao hơn) những chứng khoán có quy mô lớn. Một SMB âm thì biểu hiện điều ngược lại, chứng khoán có quy mô lớn sẽ tốt hơn chứng khoán có quy mô nhỏ.

Ø Phần bù giá trị:

HML (High Minus Low) đo lường lợi nhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi đầu tư vào những công ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME) cao – tức là những cổ phiếu “giá trị”. HML còn được gọi là phần bù giá trị, tức là phần tỷ suất sinh lợi tăng thêm do cổ phiếu giá trị mang lại.

Nhân tố HML được tính bằng tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 50% chứng khoán có BE/ME cao nhất trừ tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 50% chứng khoán có BE/ME thấp nhất.

Một HML dương thể hiện những cổ phiếu “giá trị” tốt hơn so với những cổ phiếu “tăng trưởng”. Một HML âm thì ngược lại, thể hiện những cổ phiếu “tăng trưởng” tốt hơn những cổ phiếu “giá trị”.

Mô hình ba nhân tố Fama-French

Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành may xuất khẩu

Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành may xuất khẩu

Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về vấn đề chuỗi giá trị của ngành may xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu lại tiếp cận vấn đề này ở khía cạnh, phạm vi và đối tượng khác nhau. Phần dưới đây là tổng kết những nghiên cứu đó.

– “Những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả ngành may Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thu Phương, NXB Khoa học Kỹ thuật năm 2000. Tác phẩm này đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nâng cao hiệu quả phát triển của ngành may Việt Nam. Dựa trên những phân tích về môi trường và những bài học kinh nghiệm đối với ngành may ở Việt Nam, tác giả đưa ra những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả của ngành may [16].

– “Phương huớng và các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành công nghiệp dệt –may trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ của Dương Đình Giám năm 2001. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng sự phát triển của ngành dệt may của Việt Nam, tìm ra những kết quả tốt đã đạt được, những tồn tại và nguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành dệt may của Việt Nam [10].

– “Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” của nhóm tác giả trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Tổ chức Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản (JICA) và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), 2004. Trong bài viết về ngành dệt may có tên là “Ngành Dệt May Việt Nam: Giá trị gia tăng và chiến lược phát triển”, nhóm tác giả đã phân tích các phương thức xuất
khẩu của ngành dệt may ở Việt Nam bao gồm phương thức gia công xuất khẩu và xuất khẩu trực tiếp. Căn cứ vào những phân tích đó, nhóm tác giả đề xuất chính sách phát triển công nghiệp dệt may [7].

– Trong khuôn khổ Dự án Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam- Đan Mạch có tên “Nâng cao năng lực nghiên cứu trong kinh doanh quốc tế và quốc tế hóa các doanh nghiệp Việt Nam” do Bộ Ngoại giao Đan Mạch tài trợ, nhóm nghiên cứu ngành dệt may bao gồm Phạm Thu Hương và các cộng sự đã tập trung vào vấn đề “Chiến lược và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sau
khi dỡ bỏ hệ thống hạn ngạch dệt may- một cách tiếp cận trong chuỗi giá trị toàn cầu”. Dựa trên điều tra được tiến hành ở Việt Nam từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2006, tập trung vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, bài nghiên cứu nhận định các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã tham gia như thế nào vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và nhu cầu của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc chuyển từ xuất khẩu theo phương thức gia công (CMT) sang phương thức xuất khẩu trực tiếp (FOB). Mặc dù nghiên cứu có phân tích chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may nhưng báo cáo này là chưa lượng hóa được giá trị tạo ra ở mỗi công đoạn của chuỗi giá trị đó [15].

– “Đẩy mạnh việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (global value chain – GVC) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam” của nhóm tác giả Trường Đại học Ngoại thương năm 2008. Đây có thể nói là một công trình nghiên cứu tương đối hoàn thiện về chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam cho đến nay. Tuy nhiên,
giống như những nghiên cứu trên, báo cáo này chưa lượng hóa phần đóng góp của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu [23].

– “Tiếp cận chuỗi giá trị cho việc nâng cấp ngành dệt may Việt Nam” của nhóm tác giả Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Bài viết được đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Đại học Đà Nẵng số 2 (37) 2010. Bài viết tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhằm giải thích sự chuyển đổi trong hệ thống sản xuất và thương mại của ngành dệt may trên thế giới. Thông qua phân tích thực trạng, bài viết đề xuất chính sách nhằm hỗ trợ nâng cấp quá trình, sản phẩm và chức năng cho mô hình sản xuất thiết bị gốc, thay vì nhắm đến bước nhảy đột phá từ sản xuất gia công sang hệ thống sản xuất định hướng xuất khẩu với thương hiệu quả nhà sản xuất [40]. Trên thế giới, có một số nghiên cứu tập trung vào chuỗi giá trị của ngành dệt may của khu vực, các nước, trong đó có cả Việt Nam như sau.

– “Vietnam’s Garment Industry: Moving up the Value Chain” do nhóm tác giả Hassan Oteifa, Dietmar Stiel, Roger Fielding, Peter Davies, đại diện của Đại học Bách Khoa Hà Nội, đại diện của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoàn thành vào năm 1999 và được soát xét lại vào năm 2000. Đây là một công trình nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của một dự án thuộc khuôn khổ nghiên cứu về Việt Nam của MPDF. Mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu những khó khăn có liên quan đến hoạt động tác nghiệp và marketing của những doanh nghiệp may tư nhân ở Việt Nam, từ đó đề xuất những hỗ trợ của MPDF dành cho những doanh nghiệp này [57].

– “The global apparel chain: What prospects for upgrading by developing countries” được tổ chức UNIDO công bố vào năm 2003 do hai tác giả Appelbaum and Gereffi hoàn thành. Bài viết sử dụng lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu để giải thích sự chuyển đổi về sản xuất, thương mại, và chiến lược công ty của ngành may trong nhiều thập kỷ qua. Nghiên cứu tập trung vào phân biệt các mô hình cạnh tranh trong khu vực phía bắc của thị trường Mỹ cụ thể là Đông Á, Mexican, và Carribean. Mỗi mô hình đưa ra những quan điểm và những thách thức khác nhau [48].

– “Vietnam in the global garment and textile value chain: implications for firms and workers” của Khalid Nadvi và John Thoburn năm 2003. Đây là kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ Chương trình Toàn cầu hóa và Nghèo đói. Trong môi trường toàn cầu hóa với nhiều thay đổi ngày nay có rất nhiều thách thức đối với ngành dệt và ngành may. Những thách thức đó có những tác động nhất định đối với những nhà sản xuất và công nhân ở những nước đang phát triển, tạo ra những người thành công và những kẻ thất bại. Cho rằng một trong những quốc gia thành công điển hình là Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng mô hình chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích trường hợp Việt Nam mà cụ thể là những mối quan hệ của Việt Nam đối với người mua toàn cầu và mối quan hệ giữa những doanh nghiệp dệt và doanh nghiệp may với nhau [60] với mục tiêu là đánh giá quá trình toàn cầu hóa ảnh hưởng như thế nào đến những doanh nghiệp dệt may của Việt Nam.

– “How do industry clusters success: a case study in China’s textiles and apparel industries của Zhiming Zhang, Chester and Ning Cao” đăng trên tạp chí Quản lý và Công nghệ dệt may của Trung Quốc, số 4, năm 2004. Bài viết tập trung vào sự thành công của những cụm công nghiệp ở Trung Quốc trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế và lấy ngành dệt may làm tình huống nghiên
cứu. Từ những phân tích về cụm công nghiệp dệt may Wujiang ở tỉnh Jiangsu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những yếu tố chi phối sự thành công của cụm công nghiệp cũng như sức cạnh tranh của ngành được cho là trụ cột của nền kinh tế nước này [71].

– Bài viết “Garment industry supply chain” của tác giả Celia Mather xuất bản vào năm 2004 qua Nhà xuất bản Trường Đại học Manchester Motropolitan, Anh. Bài viết tập trung vào việc mô tả chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành may với tình huống nghiên cứu là công ty GAP. Bài viết được hoàn thành bởi nhiều nhóm nghiên cứu từ nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Bangladesh, Thái Lan, Pakistan, Phillipin, Srilanka, tập trung đề xuất cách thức các công ty may có thể phân tích chuỗi cung ứng của mình, tăng cường hợp tác giữa những công nhân chính thức và phi chính thức, và hợp tác dọc theo chuỗi cung ứng. Cuối cùng, nghiên cứu tập trung vào việc giúp đỡ những công nhân của công ty tìm cách cải thiện vị trí của họ trong quá trình sản
xuất [49].

– Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị/ chuỗi giá trị toàn cầu của ngành may ở nhiều nước trên thế giới hoặc những khía cạnh có liên quan đến ngành may và chuỗi giá trị của ngành may [50], [52], [54], [55], và [59]. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích rõ thực trạng về chuỗi giá trị của các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt Nam cũng như những liên kết của những doanh nghiệp này.

Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành may xuất khẩu