0972.162.399
luanvanaz@gmail.com

Khái niệm về sinh kế

Khái niệm về sinh kế

Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện.

Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Chambers, R. And G. Conway, 1992).

Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ (Seppala, 1996).

Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó.

Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau. Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ. Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ. Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:

– Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người. Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn.

– Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ.

– Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v.v.

Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên. Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ.

– Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin v.v.

– Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng.

Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng.

Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; Các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin, v.v.

Khái niệm về sinh kế

Khái niệm về văn hóa

Khái niệm về văn hóa

Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…

Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh 1995: 431].

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [UNESCO 1989: 5].

Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam. Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin – 1999 [tr. 1796] thì văn hóa là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai.

Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tao ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”.

Khái niệm về văn hóa

Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty Chứng khoán

Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty Chứng khoán

Khái niệm về rủi ro cho đến nay vẫn còn là vấn đề mang nhiều tranh cãi. Ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, rủi ro được định nghĩa khác nhau gắn với những nguyên tắc của lĩnh vực đó như: toán học, kinh tế, tài chính, kinh doanh.

Rủi ro gắn với xác suất: Theo quan điểm này, rủi ro là một tổ hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất. Điều này cũng được đề cập đến trong khái niệm của ISO (Tổ chức tiêu chuẩn hóa thế giới) về rủi ro, đó sự kết hợp giữa xác suất xảy ra một sự kiện và những hậu quả tiêu cực hoặc tích cực của sự kiện đó. Nếu xác suất mất mát là 0 thì không có rủi ro [56].

Rủi ro với đe dọa: Trong một số trường phái, rủi ro và đe dọa là hai phạm trù riêng biệt. Đe dọa là một sự kiện có xác suất xảy ra thấp nhưng với hậu quả lớn, các nhà phân tích khó có thể đánh giá được xác suất. Rủi ro, mặt khác, được định nghĩa là sự kiện có xác suất xảy ra cao hơn, nhưng không có đủ thông tin để đánh giá cả xác suất và hậu quả xảy ra [22].

Rủi ro gắn với kết quả xảy ra:  Một số định nghĩa về rủi ro có xu hướng tập trung vào các viễn cảnh suy thoái (kết quả xấu), trong khi một số khác lại mở rộng hơn và xem xét tất cả các khả năng có thể của rủi ro (Kết quả xấu hoặc tốt). Cụ thể, dưới góc độ kinh tế học, những nhà nghiên cứu theo quan điểm truyền thống cho rằng rủi ro là khả năng điều gì đó xấu xảy ra: sự nguy hiểm xảy ra thiệt hại hoặc thua lỗ. Tuy nhiên, theo trường phái hiện đại, rủi ro có thể mang lại may mắn, hiệu quả, thuận lợi (kết quả tốt, còn gọi là rủi ro ngược); nhưng cũng có thể mang lại tai họa, thiệt hại, khó khăn (kết quả xấu, còn gọi là rủi ro xuôi) [22].

Các nhà tài chính lại cho rằng rủi ro là những gì xảy ra trong tương lai không được như mong muốn hay kỳ vọng, kết quả có thể gây tổn thất về giá trị tài sản, sự giảm sút tỷ suất sinh lời thực tế so với lợi suất dự kiến.

Trong kinh doanh, rủi ro được quan niệm là nhân tố ảnh hưởng ngược chiều đối với lợi nhuận kỳ vọng. Rủi ro làm giảm lợi nhuận kỳ vọng, đôi khi triệt tiêu lợi nhuận và dẫn đến vỡ nợ, phá sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều có ý nghĩa thiết thực nhất là rủi ro trong kinh doanh cần được hiểu dưới góc độ rủi ro tài chính. Đó là một quan niệm không chia cắt giữa rủi ro và lợi nhuận. Quan niệm về rủi ro cũng chính là quan niệm về hai mặt của một vấn đề, đằng sau lợi nhuận hứa hẹn mà một hành vi kinh doanh mang lại là những rủi ro tiềm tàng. Các nhà quản lý kinh doanh không thể quan niệm tách rời giữa hai mặt – rủi ro và lợi nhuận được.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm rủi ro được nhắc đến với hàm ý là độ lệch khỏi lợi nhuận kỳ vọng, nếu lệch về phía trên, đó là sự gia tăng lợi nhuận, nếu lệch về phía dưới, đó là sự gia tăng “rủi ro”. Bản thân thuật ngữ rủi ro như vậy đã bao hàm cả lợi nhuận và rủi ro theo nghĩa thông thường.

Từ quan điểm trên, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán được hiểu là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của CTCK, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ kinh doanh nhất định. Khái niệm này bao hàm hai nội dung cơ bản: (1) Sự thay đổi; (2) Kết quả của sự thay đổi là không lường trước được. Sự thay đổi hay chính là sự không chắc chắn về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, hoặc không thể chỉ định rõ chuyện gì sẽ xảy ra, khả năng chắc chắn là bao nhiêu phần trăm. Đối với từng quy mô, kết quả của sự thay đổi sẽ khác nhau. Về cơ bản, đối với CTCK, ngoài lợi nhuận, rủi ro có thể ảnh hưởng đến tài sản, uy tín, đạo đức, thiệt hại nhân sự, rủi ro nghiệp vụ và cuối cùng là giá trị và hình ảnh của công ty.

Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty Chứng khoán

Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán

Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán

1. Khái niệm Chuẩn mực kế toán

“Chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính” [15, trang 1]

Chuẩn mực kế toán gồm có 2 loại: Chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực tư và Chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực công.
Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về kế toán uỷ quyền ban hành.

2. Cách thức ban hành Chuẩn mực kế toán trên thế giới

Chuẩn mực kế toán được xây dựng và ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Tại một số quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, Đức…chuẩn mực kế toán quy định chi tiết cách xử lý nghiệp vụ, sổ sách, báo cáo… Tại một số quốc gia khác, đa số là quốc gia khối Anglo-Saxon như Anh, Hoa Kỳ, Úc…thì chuẩn mực kế toán chỉ đưa ra nguyên tắc, các đơn vị sẽ linh hoạt trong việc áp dụng nhưng phải tuân thủ nguyên tắc của chuẩn mực.

Tổ chức ban hành cũng khác nhau: Canada, Hong Kong,…do Hội nghề nghiệp; Pháp, Trung Quốc… do Chính phủ; Hoa Kỳ, Anh…do Ủy ban độc lập. Ở Việt Nam, chuẩn mực kế toán do Chính phủ, cụ thể là Bộ tài chính ban hành và hướng dẫn chi tiết bởi các thông tư, chế độ.

Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán

Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bản thân doanh nghiệp mà còn cả trong nền kinh tế, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển mỗi quốc gia mà tại đây diễn ra quá trình sản xuất kinh doanh: đầu tư, tiêu thụ và phân phối, trong sự chu chuyển của vốn luôn gắn liền với sự vận động của vật tư hàng hóa.

Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối và sử dụng, quản lý vốn một cách có hiệu quả.

Để nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp mình cũng như tình hình tài chính của các đối tượng quan tâm thì việc phân tích tài chính thông qua các báo cáo tài chính là rất quan trọng. Thông qua việc phân tích hệ thống báo cáo tài chính, người ta có thể sử dụng thông tin đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh, triển vọng cũng như rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp. Bởi vậy, việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhóm đối tượng khác nhau như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay tín dụng, nhân viên ngân hàng, các nhà bảo hiểm và kể cả cơ quan Nhà nước cũng như nhóm có xu hướng tập trung vào các khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của mỗi doanh nghiệp.

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:

Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.

Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Thị trường tài chính là thị trường giao dịch các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu… Thành phần tham gia giao dịch trên thị trường tài chính bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và chính phủ là những người tham gia mua và bán các loài tài sản tài chính – hàng hóa của thị trường tài chính. Như vậy, doanh nghiệp có thể mua và bán các loại hàng hóa của thị trường tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,… để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn, dài hạn hoặc đầu tư số tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến.

Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường đầu vào và đầu ra về hàng hóa, dịch vụ: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quna hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm vật tư, máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động…. Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường.

Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn. Các quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí,…

Khái niệm tài chính doanh nghiệp